Tôi kiên định nhìn thẳng vào mắt Thẩm phán, đưa ra yêu cầu mới.
“Thưa tòa, để tái hiện toàn bộ sự việc, phía tôi xin triệu tập ngắn gọn hai nhân chứng: Người hàng xóm tầng dưới của Vương Lượng và chính bản thân bị cáo Vương Lượng. Lời khai của họ sẽ chứng thực cho nhau.”
Người hàng xóm bước lên tòa, nét mặt có chút căng thẳng.
Tôi hỏi thẳng thừng:
“Xin hỏi ông có thường xuyên nghe thấy tiếng máy giặt nhà bị cáo Vương Lượng hoạt động trong thời gian dài vào đêm khuya không?”
Hàng xóm: “Có, thường xuyên lắm, nhất là sau mười một, mười hai giờ đêm, kêu rất lâu, ảnh hưởng đến việc nghỉ ngơi.”
Tôi: “Ông đã bao giờ góp ý với Vương Lượng về việc này chưa?”
Hàng xóm: “Có nói một lần, ông ấy chỉ gật đầu, bảo “xin lỗi” nhưng chẳng sửa đổi gì.”
Tôi: “Cảm ơn, tôi không còn câu hỏi nào khác.”
Tôi quay sang công tố viên, ra hiệu ông ta có thể hỏi đối chất.
Công tố viên chậm rãi đứng dậy, ánh mắt sắc lẹm quét qua người hàng xóm rồi nở nụ cười kh/inh miệt.
Ông ta quay sang Thẩm phán:
“Thưa tòa, phía tôi không có câu hỏi.”
Tôi lập tức hiểu ý đồ từ bỏ quyền thẩm vấn của ông ta.
Ông ta thừa biết dây dưa vào vấn đề này rất nguy hiểm! nếu hỏi “Tại sao ông thấy máy giặt ồn?” Hay “Ông có chắc là nhà Vương Lượng không?”, chỉ càng khiến sự thật “Vương Lượng thường xuyên giặt đồ đêm khuya” in sâu vào tâm trí bồi thẩm đoàn, điều đó ngược lại giúp ích cho tôi.
Sự ngạo mạn khiến ông ta cho rằng lời khai vô thưởng vô ph/ạt này, đứng trước bằng chứng DNA hùng h/ồn, chẳng đáng là gì.
Ông ta chọn bảo toàn hỏa lực để tập trung tấn công vào chứng cứ cốt lõi của tôi.
Tôi hướng về phía Thẩm phán:
“Thưa tòa, để làm rõ sự thật quan trọng trước khi vụ án xảy ra, phía tôi yêu cầu cho phép bị cáo Vương Lượng tự nguyện từ bỏ quyền im lặng, đứng lên bục nhân chứng để trần thuật.”
Tôi tiến hành hỏi Vương Lượng, câu hỏi xoáy sâu vào hành vi ngoài ban công:
“Vương Lượng, tối thứ tư hôm xảy ra vụ án, sau khi s/ay rư/ợu, anh có ra ban công nhà không?”
Vương Lượng cúi gằm mặt, giọng trầm đục và đầy đ/è nén:
“Có. Tôi nhớ... trong lòng bí bách, ra ban công hút th/uốc...”
“Trong thời gian ở ban công, anh có hành vi tự thỏa mãn không?”
Giọng Vương Lượng r/un r/ẩy như sắp vỡ vụn:
“Có... tôi... lúc đó tôi say, đầu óc không tỉnh táo...”
“Sau đó anh xử lý thế nào?”
“Tôi... tôi xả nước rửa tay ở vòi... rồi tiện tay dùng một miếng vải vắt bên cạnh bồn nước ban công... lau qua... rồi mơ màng vào nhà... ngủ thiếp đi trên sô pha...”
Tôi lập tức truy vấn, khóa ch/ặt từ khóa:
“Miếng vải thế nào? Hãy mô tả nó cho tòa nghe.”
Khóe miệng Vương Lượng r/un r/ẩy, khó khăn mở lời:
“...Màu nhạt... hình như là... cotton... một chiếc... khăn vuông...”
Ngay khoảnh khắc lời nói buông xuống, tôi cảm nhận được không khí trong phòng xử án như đông cứng lại.
Tôi thấy rõ huyết sắc trên mặt viên công tố viên đối diện vụt tắt, ánh mắt ông ta đột nhiên trở nên sắc lạnh, nhìn tôi chòng chọc như muốn ăn tươi nuốt sống.
Ông ta đã hoàn toàn hiểu ra tôi đang đào bới điều gì.
Qua khóe mắt, tôi thấy vài vị bồi thẩm viên theo bản năng lật lại hồ sơ vụ án trên bàn! Tôi biết, họ đang đối chiếu với phần mô tả vật chứng về chiếc “quần l/ót cotton màu nhạt”.
Một sự đồng thuận không lời đang lan tỏa khắp phòng xử án.
Công tố viên gi/ận dữ bật dậy:
“Phản đối! Thưa tòa! Luật sư biện hộ đang thông qua sự ám thị...”
Tôi lập tức c/ắt ngang lời buộc tội của anh ta:
“Thưa toà, phía tôi chỉ đang x/á/c nhận lại chi tiết hành vi của bị cáo. Anh ấy đã mô tả những đặc điểm khách quan của vật dụng mình sử dụng, còn việc nó có liên quan đến bất kỳ vật chứng nào khác trong vụ án này hay không, đó là điều toà án cần phán quyết dựa trên tổng thể.”
Tôi nghe thấy tiếng Thẩm phán bác bỏ lời phản đối của đối phương.
Cảm nhận được ánh mắt của luật sư bên công tố như muốn th/iêu đ/ốt hai lỗ trên người mình, tôi thấy đã đạt được mục đích liền biết điểm dừng, bình thản ngồi xuống:
“Cảm ơn, tôi không còn câu hỏi nào khác.”
Sau khi Vương Lượng quay trở lại ghế bị cáo, tôi lập tức hướng về phía Thẩm phán, tung ra luận điểm cốt lõi:
“Thưa toà, dựa trên lời khai của bị cáo về việc “có hành vi không đúng mực tại ban công trước khi vụ án xảy ra”, để kiểm chứng tính x/á/c thực của lời khai này một cách khoa học, phía tôi xin phép triệu tập nhân chứng đầu tiên: Nhân viên kỹ thuật pháp chứng chịu trách nhiệm khám nghiệm hiện trường vụ án.”
Thẩm phán phê chuẩn.
Nhân viên kỹ thuật thuộc khoa Pháp y Cục Công an bước lên bục.
Tôi hướng về phía nhân viên kỹ thuật, đặt câu hỏi:
“Thưa anh, trong quá trình khám nghiệm hiện trường sau khi vụ án xảy ra, các anh có tiến hành khám nghiệm trọng điểm khu vực ban công nhà bị cáo Vương Lượng hay không?”
“Có, chúng tôi đã tiến hành khám nghiệm tất cả các khu vực có khả năng liên quan theo đúng quy trình.”
“Vậy có thu thập được mẫu sinh học nào ở mép bồn rửa, tay cầm vòi nước hay trên chiếc khăn lau treo cạnh đó không?”
Tôi tiếp tục truy vấn.
“Có. Chúng tôi đều đã thu được mẫu vật tại các vị trí nêu trên.”
“Kết quả xét nghiệm DNA của những mẫu này là gì?”
“Kết quả xét nghiệm cho thấy, trong tất cả các mẫu đều tìm thấy vết t*** d*** còn sót lại có DNA trùng khớp với bị cáo Vương Lượng.”
Hàng ghế dự thính bắt đầu xôn xao.
Tôi trầm giọng, tung ra câu hỏi chí mạng nhất:
“Vậy thì trong những mẫu vật thu được từ ban công có chứa t*** d*** của Vương Lượng, liệu có phát hiện đồng thời bất kỳ thành phần DNA nào của nữ giới không? Ví dụ như dấu vết sinh học từ nạn nhân Lý Tiểu Nhã?”
Nhân viên kỹ thuật trả lời rành rọt và khẳng định:
“Không có. Tất cả các mẫu t*** d*** còn sót lại thu được ở ban công đều là kiểu gen DNA đơn nhất của nam giới, trùng khớp với bị cáo Vương Lượng. Không phát hiện bất kỳ thành phần DNA nào của nữ giới.”
Lời này vừa thốt ra, cả phòng xử án trong nháy mắt rơi vào tĩnh lặng ch*t chóc!
Tôi để kết luận này vang vọng trong sự im lặng vài giây rồi mới tiếp tục:
“Thưa anh, dựa trên kinh nghiệm chuyên môn của anh, trong môi trường b/án mở như ban công, nếu từng xảy ra sự tiếp xúc tình dục giữa hai người, liệu có khả năng rất cao sẽ để lại dấu vết DNA hỗn hợp tại các vị trí liên quan không?”
“Đúng vậy, khả năng là rất cao.”
“Vậy kết quả “chỉ tìm thấy DNA đơn nhất của nam giới” trong lần khám nghiệm này, có phải mâu thuẫn cao độ với giả thuyết “hai bên có tiếp xúc tình dục” không?”
“Có thể cho là như vậy. Kết quả này phù hợp hơn với đặc điểm dấu vết do hành vi cá nhân đơn đ/ộc để lại.”
Tôi quay sang Thẩm phán:
“Thưa toà, đây không phải là suy luận gián tiếp, mà là vật chứng không thể chối cãi được trích xuất trực tiếp từ hiện trường! Nó chứng minh những sự thật quan trọng sau đây là có cơ sở.”
“Thứ nhất, lời khai đầy x/ấu hổ của Vương Lượng về việc “tự giải quyết nhu cầu tại ban công trước khi vụ án xảy ra” là sự thật!”
“Thứ hai, hành vi này do anh ấy thực hiện một mình, hiện trường không phát hiện bất kỳ dấu vết nào cho thấy có sự tham gia của nữ giới!”
“Điều này loại bỏ hoàn toàn mối liên hệ giữa vết t*** d*** này với bất kỳ “hành vi qu/an h/ệ tình dục hai người” nào!”
Ngay sau đó, tôi tung đò/n quyết định cuối cùng:
“Để x/á/c định chính x/á/c thời gian cụ thể hành vi này diễn ra, phía tôi xin phép triệu tập nhân chứng cuối cùng: Tiến sĩ Trần, chuyên gia pháp y hàng đầu của Trung tâm Giám định Vật chứng Pháp y Cục Công an.”
Tôi đặt câu hỏi cho Tiến sĩ Trần:
“Tiến sĩ Trần, ông đã tiến hành phân tích độ phân giải RNA đối với mẫu t*** d*** còn sót lại thu được từ ban công nhà bị cáo chưa?”
Tiến sĩ Trần: “Rồi.”
“Xin hỏi kết luận của ông là gì?”
Tiến sĩ Trần: “Kết quả phân tích cho thấy, mức độ phân giải RNA của mẫu t*** d*** tại ban công hoàn toàn trùng khớp với thời điểm đêm thứ Tư, tức là trước khi vụ án xảy ra.”
Tôi: “Điều này có phù hợp với thời gian gây án được cáo buộc (tối thứ Sáu) hay không?”
Tiến sĩ Trần: “Không phù hợp. Thời gian để lại vết t*** d*** này sớm hơn đáng kể so với thời gian xảy ra vụ án.”
Luật sư bên công tố lập tức đứng bật dậy, giọng điệu gay gắt:
“Phản đối! Thưa toà! Phân tích độ phân giải RNA chịu ảnh hưởng nghiêm trọng bởi các yếu tố môi trường như nhiệt độ, độ ẩm! Ban công nhà bị cáo là không gian b/án mở, thời tiết những ngày gần đây biến động dữ dội! Độ tin cậy của kết luận này còn nhiều nghi vấn, không nên được chấp nhận làm bằng chứng!”
Tiến sĩ Trần vẫn không hề nao núng, điềm tĩnh đáp trả:
“Ngài nói rất đúng, yếu tố môi trường là then chốt. Chính vì vậy cuộc giám định lần này đã đưa vào dữ liệu nhiệt độ và độ ẩm chuẩn x/á/c của Cục Khí tượng trong suốt 72 giờ trước và sau vụ án, đồng thời hiệu chỉnh dựa trên mô hình phân giải được thiết lập từ hàng trăm mẫu môi trường tương tự tại phòng thí nghiệm của tôi. Kết luận của chúng tôi là - ngay cả khi cân nhắc tất cả các biến số môi trường, mức độ phân giải của nó cũng tuyệt đối không thể là dấu vết để lại vào đêm xảy ra vụ án. Nó chỉ có thể là sản phẩm của thời điểm sớm hơn, tức là tối thứ Tư.”
Tôi quay về phía bồi thẩm đoàn, đưa ra lời trần thuật cuối cùng:
“Thưa các vị bồi thẩm đoàn, chứng cứ giờ đây đã hoàn toàn rõ ràng.
T*** d*** đúng là của Vương Lượng và cũng đúng là đã dính trên quần l/ót của Lý Tiểu Nhã.
Nhưng thời gian để lại là sai, nó xảy ra trước vụ án, chứ không phải vào đêm xảy ra vụ án.
Tính chất của việc để lại dấu vết là đơn đ/ộc, đó là hành vi cá nhân, không phải tiếp xúc tình dục hai người.
Logic cốt lõi mà bên công tố đưa ra để đ/á/nh đồng “vết t*** d***” với “hành vi cưỡ/ng hi*p”, ngay tại giờ khắc này đã hoàn toàn sụp đổ. Cảm ơn toà.”
Phía tôi đã hoàn tất việc đưa ra chứng cứ.
Mọi sự nghi ngờ của luật sư bên công tố, trước bằng chứng thép về “DNA đơn nhất của nam giới” thu được tại ban công, đều trở nên tái nhợt và yếu ớt.