Tiệm nổi danh nhờ sắc đẹp, nhưng may thay đồ ăn lạ miệng, giá cả phải chăng nên giữ được nhiều khách quen, tiếng lành đồn xa, buôn b/án ngày một hưng thịnh.
Phu nhân khi còn ở kinh thành vốn là bậc phong lưu đệ nhất. Bà cắm mấy cây lau vào chiếc vò vỡ đặt góc tường, bỏ nửa củ khoai tây vào đĩa chén, cắm mấy nhánh hoa cỏ bà Trương tìm được theo mùa, khung cảnh hoang dã mà đầy thi vị. Lại thêm mấy bức thư pháp do bà ép thiếu gia viết, khiến quán ăn chất phác mà thanh tao, thu hút nhiều nho sinh cùng quan viên trong thành.
Xuân hàn chưa dứt, món đậu hũ mặn cay nồng, canh dưa chua th!t trắng hầm đậu hũ b/án đắt như tôm tươi, quá trưa thường ch/áy hàng. Chiều tối lại thấy những người thợ, lính tráng hay nha dịch đến quán gọi một hũ rư/ợu, đĩa đậu hũ lục thủy rưới ớt, nửa cân xúc xích đỏ, vừa nhấm nháp vừa trò chuyện vui vẻ hoặc than thở ch/ửi đổng. Thỉnh thoảng có vài khách nho sinh, giọng nói quan thoại, cũng gọi hũ rư/ợu, thường chọn món đậu hũ trộn hành hoa, tuyết hà mỹ.
Một hôm có vị lão gia phong nhã xách hộp đồ ăn đến hỏi: "Nha đầu, quán này có biết nấu món cá diếc đậu hũ không?"
Tôi mời ngài đợi lát, ra sân sau hỏi ý phu nhân. Phu nhân ra tiền sảnh, thi lễ nửa chừng hỏi: "Lão gia trong nhà có sản phụ chăng?"
Vị lão gia ngơ ngác giây lát, mỉm cười đáp lễ: "Vậy ắt quý tiệm biết cách chế biến rồi."
Phu nhân sai tôi đi m/ua một con cá diếc. Dưới sự chỉ dẫn của bà, tôi mang cá ra sân sau đá/nh vảy, bỏ mang, rửa sạch n/ội tạ/ng. Bắc chảo nóng đổ dầu nguội, đợi dầu sôi già mới thả cá vào, kiên nhẫn chờ hồi lâu mới lật mặt. Khi cá vàng ruộm cả hai bên, tôi nhẹ nhàng gắp ra. Phu nhân bảo đổ dầu trong chảo đi, đổ dầu mới vào. Thấy tôi tiếc rẻ, bà cười bảo: "Vậy thì đổ riêng ra, tối nay sẽ trộn xúc xích thừa với bánh màn thầu cho Tiểu Hoàng cải thiện." Vừa dứt lời, Tiểu Hoàng đã ranh mãnh tha bát ăn đến đặt bên chân tôi.
Hóa ra dầu chiên cá ám mùi tanh, không thích hợp để nấu canh. Tôi lại đổ dầu mới, phi thơm hành trắng và gừng thái lát, cho cá đã chiên vào, đổ nước sôi, đậy vung hầm một lát rồi nêm chút muối. Cô tôi lấy một bìa đậu hũ, tôi cẩn thận xắt lát mỏng trên tay rồi thả vào nồi, hầm thêm khoảng thời gian pha một ấm trà. Mở vung ra, rắc muối, tiêu trắng và hành hoa vào canh, nước dùng trắng đục, hương thơm ngào ngạt.
Canh được đựng vào hộp đồ ăn vị lão gia mang theo, kèm đĩa đậu khô bà nội vừa chế biến theo cách phu nhân chỉ, trộn với cải tuyết lý và dầu hành, thanh đạm khai vị.
Theo chân phu nhân mang hộp đồ ra tiệm, vị lão gia đang đàm đạo vui vẻ với thiếu gia. Thấy chúng tôi ra, ngài liền cảm tạ và lấy tiền. Phu nhân không nhận túi tiền, liếc nhìn thiếu gia. Thiếu gia cầm túi tiền đưa trả lại:
"Thể trạng phu nhân tướng quân quan trọng hơn. Lần này coi như lễ chúc thọ tiểu công tử quý phủ. Nếu thuận tiện, mong ngài sau này thường ghé qua."
Vị lão gia áo dài nâu giản dị kia hóa ra là Trang Đại tướng quân trấn thủ thành cổ Ninh Cổ Tháp. Thiếu gia kể, tướng quân cho rằng mình sát ph/ạt quá nhiều khiến phu nhân mãi không sinh nở. Lần này hiếm hoi được tiểu công tử, phu nhân vất vả sinh nở lại quyết tự nuôi con.
Nhưng phu nhân lâu ngày u uất, thể chất suy nhược, sữa không đủ. Nghe viên quan bị lưu đày trong phủ nói, phụ nữ phương Nam sau sinh nếu thiếu sữa thường dùng canh cá diếc đậu hũ để gọi sữa.
Lại nghe mưu sĩ trong phủ bẩm báo trong thành có tiệm ăn mới mở ở ngõ Thư viện, chuyên về đậu hũ, chủ quán là gia quyến quan phạm bị lưu đày từ phương Nam, có lẽ biết nấu món này. Thế nên tướng quân đích thân tìm đến.
Mấy ngày sau, người nhà tướng quân thỉnh thoảng ghé qua. Thiếu gia đôi khi làm chân chạy việc mang hộp đồ đến phủ, về sau chẳng thấy đâu, nghe nói trong phủ tướng quân có người biểu muội của phu nhân, tiểu thư và thiếu gia rất hợp tính, nên chàng thường lảng vảng ở phủ tướng quân.
Gió xuân ấm áp hơn, tôi theo phu nhân học tính toán, tiệm cũng bắt đầu có lãi. Thấy tiểu thư ngoài sân sau vạch mấy chữ xuống đất, nắm tai Tiểu Hoàng dạy nó đọc từng chữ một. Tiểu Hoàng lim dim mắt nhìn tôi như cầu c/ứu.
Tôi bàn với phu nhân nên cho tiểu thư đi học, đừng phụ tấm thân linh tuý của nàng.
Hôm sau, tôi xách hai con cá khô, bốn miếng đậu hũ tươi, dắt tiểu thư đến thư viện. Thư viện nhỏ bé, học sinh thưa thớt.
Dù không hạn chế điều kiện nhập học, nhưng hầu hết đều là con cái quan viên hay hào phú địa phương - số lượng đếm trên đầu ngón tay.
Thư viện nhỏ xíu còn có viện trưởng họ Lưu, tuổi cao đến nỗi chẳng ai nhớ cụ đến đây từ bao giờ, vì sao lại ở đây. Chỉ biết ngay cả tướng quân trấn thủ cũng nể mặt cụ. Bởi trong nhiều năm làm viện trưởng, giữa chốn rừng thiêng nước đ/ộc này, cụ đã đào tạo được hai tú tài.
Một tú tài lên Hoàng Long phủ, sau đậu cử nhân, làm mưu sĩ cho phủ Thuần vương, rất được trọng dụng. Vị mưu sĩ này sau về quê, m/ua tòa nhà ở cuối ngõ Đinh Hương thuộc Ninh An thành mới xây tặng ân sư, cải tạo thành thư viện.
Nước sông Hải Lãng lên xuống, các đời tướng quân và quan lại đến Ninh Cổ Tháp đều vì triều đình khen ngợi "có công giáo hóa" mà kính nể cụ.
Thư viện duy nhất này giúp con em quan lại dù đến biên cương vẫn có nơi học chữ biết lễ, phân biệt với dân đào đất ki/ếm ăn cùng nô lệ tội đồ. Cũng giúp con nhà thương nhân biết đọc chữ xem sổ sách, may ra phần m/ộ tổ tiên phương nào đó bốc khói xanh, có đứa cháu đọc sách giỏi, đậu tú tài, thậm chí đồng sinh, giữa chốn tri thức còn khan hiếm hơn lương thực này, cũng đủ tự hào: "Nhà ta là thư hương môn đệ."