Lửa tàn miếu lạnh

Trăng non cong vút như vành lưỡi liềm gác lửng trên rặng tre làng Đông Cổ. Sau chuỗi ngày rộn rịp đàn tràng và rước đăng, bãi bồi bến Lương chìm dần vào vẻ tịch mịch vốn có. Gió sông thổi thốc từ ngã ba Vực Q/uỷ vào bờ, mang theo hơi sương lành lạnh xua bớt mùi khói nến tẩm dầu lạc còn vương vít trên bãi cát.

Đỗ Lương xắn cao ống quần nâu sồng, lội ra mép nước nhặt từng bẹ chuối hột trôi dạt vào chân cọc buộc thuyền. Đêm hoa đăng đã qua, hàng ngàn đốm lửa bập bùng đã trôi tuột về phía biển hoặc vướng vào các lùm cỏ nước bên dưới gò Đống Sậy, chỉ còn sót lại những mẩu bấc lụi tàn dính bết bùn non. Chàng gom từng chiếc bẹ úa, chất thành đống con trên doi cát phẳng.

Thục cầm chiếc liềm con c/ắt đ/ứt những múi dây mây buộc quanh khung rạp đàn tế. Mấy hôm trước, rạp tre lợp cói này là nơi hội đồng kỳ mục, sư tăng và dân chài tề tựu sám hối; nay những tấm cói mộc đã ngả màu xám xịt vì sương muối. Thục thoăn thoắt cuốn từng cuộn dây cói dừa, xếp gọn bên vách đ/á. Đôi bàn tay nàng thoăn thoắt kéo từng thân tre luồng cắm sâu dưới lớp cát ướt lên, gõ nhẹ gốc tre vào gót chân để giũ sạch phù sa đóng bánh.

Tiếng tre cọ vào đ/á lách cách khô khốc điểm từng nhịp chậm rãi giữa đêm vắng. Lương đỡ lấy bó cọc tre từ tay nàng, gật đầu nhẹ. Chẳng cần trao đổi nửa lời, cả hai cứ lẳng lặng chia nhau từng phần việc như đã cùng chung tay qua trăm ngàn con nước. Mùi vỏ tre tươi bị tước dập tỏa ra hương ngai ngái, hòa quyện với vị tanh quen thuộc của rêu xanh sông Lương.

Khi rạp tế được tháo dỡ xong, doi cát ven sông mở ra khoảng trống thênh thang. Dưới ánh trăng bàng bạc, bến Lương trải dài trơ trọi nhưng không còn vẻ thê lương rợn gáy của những đêm cúng vạc tìm x/ác trôi. Dòng nước phẳng lì, từng gợn sóng con vỗ oàm oạp vào bờ đất như tiếng thở đều đặn của người vừa dứt cơn sốt nặng.

Lương quay lưng bước lên ba bậc đ/á xanh dẫn vào miếu Thủy thần.

Ngôi miếu nhỏ nằm nép dưới gốc đa cằn cỗi, mái ngói vảy rêu phong phủ kín. Qua hai mươi năm bị bàn tay hào lý và thầy phù thủy lũng đoạn, gian miếu từng biến thành nơi giam hãm oan khiên. Trên bốn cây cột gỗ lim chống mái, những đạo bùa giấy vàng vẽ chu sa đỏ quạch dán chồng lên nhau lớp này đ/è lớp khác, bết ch/ặt bởi nhựa cây và sáp ong pha m/áu gà trống. Gió năm tháng hun hút lùa qua khiến các mép bùa quăn queo, nứt nẻ thành từng vệt sọc xám ngoét g/ớm ghiếc, tỏa ra mùi khét lợm của bột chu sa lưu cữu.

Lương rút con d/ao gọt vầu giắt bên hông. Lưỡi thép sắc lẹm áp sát thân gỗ lim đen bóng.

"Xoẹt... xoẹt..."

Từng mảng giấy bùa vàng khè mủn mục bong tróc dưới mũi d/ao. Lương tỉ mỉ nạo từng vệt chu sa bám sâu vào thớ gỗ. Ngày trước, Trịnh Cả cùng bọn thầy mo lén lút trát loại mực đ/ộc này lên cốt miếu cốt để chẹn đường siêu thoát của người nằm dưới đáy nước, biến chốn linh thiêng thành cái lồng giam oan h/ồn. Giờ đây, lưỡi d/ao chàng đi đến đâu, thớ gỗ lim nâu bóng nguyên thủy lộ ra đến đó, mát rượi và chắc nịch như tấm lòng bao dung của đất đai.

Bên cạnh, Thục xách một ang nước sông trong vắt vừa múc từ bến bồi lên. Nàng nhúng chiếc khăn vải thô vào nước, vắt nhẹ rồi cúi người lau dọn bệ thờ bằng đ/á nhám. Chiếc bát hương sành da lươn cổ mộc mạc – thứ duy nhất còn sót lại từ thời tiền nhân dựng bến – bấy lâu nay bị tàn hương đen sì và sáp nến vấy bẩn be bét. Thục cẩn trọng nhấc từng chân nhang g/ãy mục, nâng niu dùng khăn ẩm miết quanh miệng bát gốm.

Nước sông mát lành gột rửa từng ngấn bụi tro bám dai dẳng. Lớp men nâu da lươn trầm tĩnh dần hiện ra dưới ánh trăng hắt xiên qua cửa miếu. Những đường chỉ gốm con con chạy quanh thân bát hương bóng lên ngời ngời, không một tì vết nứt vỡ. Đôi bàn tay nứt nẻ vì sương gió của người con gái khẽ lướt qua thành bát hương, bờ môi nàng thoáng mỉm cười thanh thản.

Lương cúi nhặt toàn bộ những vụn bùa chú vừa cạo rơi rải rác trên nền gạch vồ. Chàng gom chúng vào một chiếc chậu sành sứt vát góc, rồi lấy thanh củi đóm gác trên xà nứa mồi vào ngọn đèn hoa kỳ.

Ngọn lửa bén vào mép giấy bùa khô khốc.

"Xoè..."

Khói bốc lên đặc sệt, ngả màu vàng nhờ nhờ mang theo mùi chua nồng của bột lưu huỳnh và chu sa ch/áy rụi. Lương và Thục đứng lặng bên bậc cửa, im lìm nhìn ngọn lửa ngốn ngấu nuốt trọn từng nét vẽ quằn quại của sự dối trá và bạo tàn. Mảnh giấy bùa cuối cùng ch/áy co rúm lại, vỡ vụn thành đám tro xám tơi tả nằm gọn dưới đáy chậu sành.

Một luồng gió sông lướt qua khung cửa liếp, cuốn đám tàn tro bay là đà ra ngoài bãi cát rồi tan biến vào màn đêm. Mùi hăng nồng biến mất, nhường chỗ cho hương thơm dịu mát của rêu đ/á và hơi phù sa ẩm ướt.

Lương cúi xuống nhìn lại thân cột lim bên hữu miếu – nơi vừa bóc đi tấm bùa yểm dày cộp nhất. Dưới ánh trăng non len lỏi rọi thẳng vào chân cột, chàng chợt thấy những đường rãnh chạm khắc chìm ẩn hiện dưới thớ gỗ lim già.

Lương ghé sát mắt, dùng đầu ngón tay ráp xoa nhẹ lên lớp bụi vừa cạo. Thục cũng nghiêng đầu bước lại gần, tò mò nhìn theo hướng ngón tay chàng.

Đó không phải là phù chú hay ký tự trừ tà hắc ám.

Dưới lớp chu sa bị gột sạch là hình khắc một đôi chim nhạn mềm mại đang sải cánh chao lượn trên ngọn sóng nước bồng bềnh. Đường đục mộc mạc, nông mà dứt khoát, mang nét khoáng đạt của những người thợ mộc ven sông từ thuở khẩn hoang dựng làng. Người xưa dựng miếu bên bờ nước hiểm trở không phải để trói buộc hay đe nẹt muôn loài, mà khắc đôi chim nhạn vờn sóng để cầu cho trời yên biển lặng, cho những chuyến đò ngang xuôi chèo mát mái, chở người đi đến nơi về đến chốn.

Bao nhiêu năm qua, nét chạm thuần hậu của tiền nhân đã bị che lấp dưới lớp bùa ngải vị kỷ của lòng người. Nay lửa tàn tro nguội, hình bóng đôi nhạn bình yên mới lại vươn cánh đón gió sông.

Thục ngắm nhìn nét khắc, mắt ánh lên vẻ dịu dàng. Nàng khẽ chạm ngón tay vào cánh chim nhạn trên thân gỗ, rồi ngước nhìn Lương.

Lương tra con d/ao gọt vầu vào vỏ tre, vươn vai thở một hơi dài khoan khoái. Lồng ngựk chàng nhẹ nhõm như vừa trút được phiến đ/á ngàn cân đ/è nặng qua bao mùa mưa lũ.

Hai người cùng bước ra mép nước.

Dòng sông Lương trôi xuôi lững lờ dưới bóng trăng non. Không còn xoáy nước đỏ ngầu rình rập, không còn tiếng gõ vạc lạnh lẽo canh ba gọi h/ồn người ch** đuối. Khúc Vực Q/uỷ giờ đây êm ả như dải lụa thẫm, phản chiếu những vì sao lấp lánh trên vòm trời cao rộng.

Chiếc thuyền nan cắm sào neo bên bờ đ/á khẽ dập dềnh theo từng nhịp sóng vỗ. Mái chèo gác ngang lòng thuyền đã ráo nước phù sa. Sáng mai, khi tiếng gà gáy rộ bên thôn Đông Cổ và sương sớm tan trên mặt sóng, bến đò này sẽ lại cất tiếng gọi "Đò ơi!", đón những gánh hàng rong, những bước chân người làng sang sông trẩy hội chợ phiên.

Lương đặt bàn tay ấm áp lên bờ vai g/ầy của Thục. Đôi bóng người lặng lẽ in dài trên doi cát phẳng, hòa vào tiếng nước sông Lương chảy êm đềm về biển lớn.

Danh sách chương

Có thể bạn quan tâm

Bình luận

Đọc tiếp

Bảng xếp hạng

Hoa Trên Biển

Chương 11
Năm xưa khi còn đi học, tôi đã yêu Tống Trì Lễ ngay từ cái nhìn đầu tiên và đeo bám anh suốt nhiều năm trời. Tôi cậy thế hiếp đáp người khác, vứt hết thư tình người ta gửi cho anh, rồi hất ngã cả hộp cơm bento mà Lâm Uyển Bạch tự tay chuẩn bị. Về sau, lễ đường nhà trường bị sập, để cứu anh mà tôi đã vĩnh viễn mất đi đôi chân. Bố mẹ tôi dùng ân nghĩa ấy ép người báo đáp, khiến anh buộc phải kết hôn với tôi. Rối rắm, dằn dằn vặt vặt cả một đời bên một kẻ vì tàn phế mà trở nên cọc cằn, giận dữ thất thường như tôi. Lâm Uyển Bạch nói, đáng ra anh phải được tỏa sáng rực rỡ trong thế giới của chính mình, chứ không phải bị tôi giam cầm, để rồi sống cả đời trong cắn rứt và uất hận không thể giãi bày. Vào một ngày bình thản như bao ngày khác, tôi tự gieo mình vào bồn tắm, tự dìm chết chính mình. Khi mở mắt ra một lần nữa, tôi phát hiện mình đã trùng sinh về lại thời đi học.
0
2 Khó Cai Chương 21
5 Nuôi sếp Chương 15
6 Đôi tay vàng Chương 10

Mới cập nhật

Xem thêm