Sáng sớm hôm sau mưa tạnh, bên ngoài xuất hiện rất nhiều vũng nước nhỏ, trong đó có cả giun đất. Niệm Niệm chẳng sợ gì, từng con một nhặt lên cho gà vịt ăn. Nhà giờ chẳng còn bao nhiêu trứng, hy vọng tụi nó mau đẻ lại.
Ngoài giun đất ra còn có một con rắn – một con rắn dài. Tôi hoảng hốt bế Niệm Niệm chạy thẳng vào nhà. Mà hai con mèo thì khác, trực tiếp lao tới cho rắn một cái bạt tai. Chúng vật lộn hồi lâu, cuối cùng chó cũng tham chiến, cắn một phát rồi quăng mạnh sang bên. Con rắn sợ quá, chui vào ống thoát nước mà chạy mất.
Chúng anh dũng quá, tôi quyết định phải thưởng. Bữa sáng, một con được một tô sữa dê ngâm sẵn. Bữa trưa, một con được thưởng hẳn một bát cơm thịt kho.
Chúng rất hài lòng, tôi cũng thấy vui. Cơm thịt kho hôm nay làm cực kỳ ngon, mềm, thơm, đậm vị, ăn xong vẫn còn thòm thèm. Ngay cả Niệm Niệm cũng ăn hết sạch một bát. Dạo này thằng bé m/ập lên chút rồi, má phúng phính, tay chân cũng rắn chắc hơn hồi mới đến.
Buổi trưa nắng to như th/iêu đ/ốt. Tôi đem cỏ ra phơi, tiện dẫn theo mấy “chiến binh dũng cảm” đi thêm hai chuyến nữa. Nhân lúc ông mặt trời dễ thương còn chưa biến mất, phơi thêm nhiều chút, chuẩn bị chuồng sinh cho lũ thỏ.
Tối đến, nhìn cái bụng nhỏ của Tiểu Quân (con mèo), tôi nghi ngờ không biết có phải nó cũng mang th/ai không. Tôi sờ thử cái bụng nhỏ của nó, hình như thật sự có gì đó bên trong. Quay sang nhìn con mèo kia đang l.i.ế.m lông như thể không liên quan gì sau khi vừa ăn xong - đúng kiểu một tên "tra mèo" vô trách nhiệm.
Tôi quyết định từ giờ mỗi ngày cho Tiểu Quân thêm một bát sữa dê, bồi bổ thêm dinh dưỡng cho mẹ bầu tương lai.
8.
Lứa thỏ con đầu tiên đã chào đời, ba con, ổ lót đầy cỏ khô và bông gòn. Cả đám trụi lủi, nhìn cứ như mấy con chuột con vậy.
Tiểu Quân cũng đã sinh con, năm bé mèo con, mỗi đứa một màu lông khác nhau. Xem ra… tụi nó đúng là không cùng một cha thật rồi.
“Ôi con ngoan, con vất vả lắm mới đẻ được năm đứa, mà chẳng có đứa nào giống con cả.” Tôi đặt bình sữa vừa pha xong sang bên, múc một bát cơm chan nước thịt. Ba cặp mắt bên cạnh thì đang thèm rỏ dãi.
“Lau nước miếng đi, lát nữa cũng có phần của các người mà.” Cái lũ này, nhỏ dãi đến độ sắp làm tôi chế* đuối tới nơi rồi.
Tôi múc cho tụi nó mỗi đứa một phần cơm trộn nước thịt: cơm trộn với hạt cho chó, cơm trộn với hạt cho mèo. Nhìn thấy sự khác biệt, hai con – một chó đực, một mèo đực – đều bày ra bộ mặt thảm thương, như thể tủi thân vì không được ở cữ vậy… nhưng các người đâu có đẻ con, ủ rũ cái gì?
Tôi dọn sườn non vừa mới nấu xong lên bàn, còn có món gà rừng hầm từ mấy hôm trước chú Liên mang đến.
“Niệm Niệm, ăn cơm thôi. Ăn xong con dẫn Nam Nam vào phòng, dọn ổ cho em nó. Đông Đông, hôm nay con canh gác bên ngoài nhé.”
Bây giờ, hễ có đứa nào sinh con thì một con ch.ó phải gác đêm ngoài sân, trông coi đám gà vịt và canh tình hình bên ngoài. Con còn lại thì ở kho nhỏ thông với phòng ngủ, canh chuột.
Tôi lấy chăn nhỏ của chó đem ra nhà vệ sinh – chỗ gần chuồng gà vịt nhất, lại kín gió, tránh mưa – đúng là nơi trú lý tưởng.
Đám cải tôi trồng giờ nhiều cây đã ăn được rồi. Tôi hái một ít rau non xanh mơn mởn, nhìn thôi cũng thấy lòng vui rộn ràng. Niệm Niệm từ tốn nhặt sạch rau, tôi thì vo gạo sạch sẽ cho vào nồi đất nấu cháo. Rau sau khi c/ắt nhỏ thì cho luôn vào nồi.
Sáng mai ăn cháo rau xanh, thêm mấy cái bánh kếp tôi vừa tráng xong.
Đám thú đang ở cữ thì được ăn một bát to, còn hai đứa không sinh đẻ kia thì mỗi đứa chỉ được một muỗng còn lại.
Hành lang treo đầy cỏ khô phơi từ trước. Tôi cho heo và thỏ ăn, rồi rải thêm ít cám. Gà vịt cũng được cho ăn. Sắp xếp cho Niệm Niệm xem hoạt hình xong, tôi lại dắt chó lên núi. Ngoài cỏ, nếu nhặt được cành cây lớn cũng mang về, phơi khô sau này dùng.
Giờ Niệm Niệm có thể ngoan ngoãn ở nhà tự đọc sách, nên tôi yên tâm dẫn chó đi c/ắt cỏ. Một ngày ba, bốn chuyến cũng không sao. Xe tôi để trong đường hầm, cỏ phơi khô sẽ chất lên thùng xe luôn.
Hôm nay trời đẹp, bầu trời xanh thẫm, sâu đến nỗi trước đây ở thành phố chưa từng được thấy. Không biết việc loài người biến mất có phải chuyện tốt với Trái Đất hay không, nhưng bầu trời giờ xanh trong đến ngỡ ngàng. Ban đêm, đầy sao như dải ngân hà rực rỡ, chẳng còn là cảnh lác đ/á/c vài ba vì tinh tú như xưa nữa.
Tôi lấy vải trùm kín chuồng gà, rồi thả gà trống và gà mái nh/ốt lâu nay ra chung chuồng. Dù sao cũng chỉ có hai con trống, cho tụi nó ở chung để “tăng tình cảm”, sẵn tiện tạo không khí “động phòng”.
Trời tháng Tám, mưa cứ nói mưa là mưa. Ban ngày trời trong xanh là thế, đến chiều vừa nấu cơm xong thì mưa trút ào ào.
Tôi ngồi trong nhà cùng Niệm Niệm ăn lẩu. Thằng bé ăn nước lẩu thanh, tôi ăn nước lẩu cay đỏ au. Chó mèo thì lượm đồ ăn rơi rớt bên dưới.
Đám mèo con giờ lớn hơn nhiều, bò quanh khắp nhà. Đám thỏ con cũng còn sống hai con, một con không qua khỏi. Hình như lại có thêm một c/on m/ẹ đang mang th/ai nữa.
Đám heo cũng lớn phổng lên, giờ chẳng còn là những chú heo con đáng yêu nữa rồi.
“Dì ơi, con có thể nếm thử của dì một miếng không?” Niệm Niệm hỏi, ánh mắt vừa tội nghiệp vừa thèm thuồng. Thằng bé vốn ăn rất dở, lại mê đồ ăn, không ăn được cay mà lúc nào cũng muốn thử.
Tôi gắp một miếng rau cải xanh, nhúng qua nước rồi cho vào nồi của thằng bé nấu thêm chút nữa, sau đó mới gắp vào bát cho.
“Chỉ thử một miếng nhỏ thôi nha.” Thằng bé cẩn thận cắn một miếng tí xíu, vẫn cảm thấy hơi cay.
Tôi thì gắp một đũa đầy rau đỏ au, chấm sốt mè, ăn ngon lành. Thằng bé trố mắt nhìn tôi, mặt không thể tin nổi.
9.
Sáng sớm hôm sau, chú Liên bọn họ lại đến. Giúp tôi c/ắt cỏ, còn mang đến cho Niệm Niệm mấy con châu chấu tự đan. Niệm Niệm vui đến mức tay múa chân đ/á, cười khanh khách cả buổi.
Chú còn mang đến cho tôi chiếc xe kéo do chính tay mình làm – bốn bánh xe bằng gỗ, mặt ván được ghép từ các thanh tre, phía trước còn có tay kéo cong cong bằng tre. Từ giờ tôi có thể dùng nó để chở cỏ, tiện hơn nhiều.
Ngoài ra, họ còn đem theo long nhãn, đu đủ, lê và mận trân châu đang vào mùa chín. Nơi này cây trái nhiều, khí hậu cũng thuận lợi, đúng thời điểm hoa quả vào vụ.
Nghe dì Liên kể, mấy thứ này là chú Liên lén xuống núi, vào vườn cây hái. Chú nói đã tận mắt trông thấy mấy con quái vật - hình như là những người làm cũ của vườn trái cây. Tôi vội dặn họ sau này tuyệt đối đừng tùy tiện xuống núi nữa.
“Đến giữa tháng Mười là có thể gặt lúa rồi, mấy ruộng mình cấy trước đây đến lúc ấy là vừa. Lúc ấy chúng ta cùng đi gặt, tích trữ để ăn mùa Đông.” Có lẽ là mấy thửa ruộng tôi nhìn thấy khi vừa đến hồi đầu tháng Sáu, lúc ấy họ đang cấy dở.
“Vâng ạ. Chú Liên, trời lạnh rồi, đừng ở trên núi nữa, xuống đây ở với tụi cháu đi.”
“Chờ đến lúc đó rồi tính tiếp.”
Thật ra cuộc sống của chú dì trên núi cũng không đến nỗi tệ. Họ biết săn bắt, hái rau rừng, hái nấm, lại có cả hoa quả hoang dại. Hồi trẻ từng sống trên núi, nay tuổi già quay lại cũng không thấy khó khăn lắm.