Nạn nhân dùng tên giả là Lý Mộng Kỳ, 25 tuổi, chưa kết hôn, làm việc tại một công ty xây dựng cấp huyện. Nhà cô ấy ở một ngôi làng cách nơi làm việc chừng 10 km.
Thế nhưng, phòng trọ cô ấy thuê lại nằm trong khu nhà tập thể do người dân tự xây, xuống cấp và tồi tàn vô cùng. Công ty Lý Mộng Kỳ làm là chi nhánh địa phương của một tập đoàn lớn ở thành phố lớn, mức lương theo lý không thấp. So với thu nhập ấy, chỗ ở của cô ấy lại quá chật vật. Người thuê ở đây đa phần là công nhân xưởng nhỏ hoặc lao động thủ công, môi trường bẩn thỉu, lộn xộn.
Sau khi nhận tin báo và có mặt tại hiện trường, chúng tôi nhanh chóng thu thập dấu vết trong phòng trọ.
Trước hết là tình trạng th* th/ể:
Quần áo xộc xệch, váy ngủ và đồ lót đều có dấu hiệu bị x/é rá/ch do tác động mạnh.
Vùng cổ có vết bầm tím rõ, x/á/c định do dây điện của máy sấy tóc tại hiện trường gây ra, đồng thời là nguyên nhân t/ử vo/ng.
Căn cứ vào độ siết của vết thương và hiện tượng tử ban, pháp y sơ bộ x/á/c định thời gian t/ử vo/ng vào khoảng từ 2 giờ đến 6 giờ sáng hôm trước.
Cẳng tay, đùi và mắt cá chân nạn nhân đều có vết bầm do bị đ/è ép, nhưng không rõ rệt; pháp y nhận định đây là thương tích cũ, không phải do hung thủ gây ra trong lúc gây án.
Tổng thể cho thấy nạn nhân đã bị xâm hại, nhưng hung thủ cực kỳ cẩn thận, gần như xóa sạch mọi dấu vết.
Thứ hai là dấu vết trong phòng:
Phòng nằm trên tầng cao nhất, bố trí đơn giản, có nhà vệ sinh khép kín, chỉ gồm giường, tủ vải và một bộ bàn ghế nhỏ.
Có cửa sổ, nhưng khi phát hiện thì đã đóng kín, rèm cũng kéo lại.
Hiện trường gọn gàng bất thường, không phát hiện dấu vết lạ. Không có tóc rụng, không tế bào da, thậm chí trên sàn cũng không có dấu giày, kể cả của chính Lý Mộng Kỳ. Rõ ràng đã có người dọn dẹp rất kỹ.
Điều này cho thấy hung thủ có chuẩn bị từ trước, hành động có tính toán. Khả năng cao là người quen của nạn nhân.
Ngoài ra, cửa phòng sau khi xảy ra vụ án được đóng ch/ặt và khóa từ bên trong. Điều này chứng tỏ hung thủ có thể ra vào bằng cửa chính, hoặc là có chìa khóa phòng. Khả năng người quen gây án càng được củng cố.
Cảnh sát khu vực cho biết họ phải phá cửa để vào hiện trường theo yêu cầu khẩn cấp của đồng nghiệp nạn nhân. Thông thường, sau khi thuê trọ, người thuê sẽ tự thay ổ khóa nên chủ nhà không giữ chìa dự phòng. Dấu vết hư hỏng trên ổ khóa phù hợp với lời kể.
Trong lúc thu thập chứng cứ, chúng tôi đồng thời khoanh vùng nghi phạm:
1. Trích xuất camera tại lối ra vào tòa nhà, rà soát những người khả nghi.
2. Thẩm vấn toàn bộ người sống trong khu, kể cả chủ nhà.
3. Làm việc với người báo án — Từ Tiểu Ái, đồng nghiệp cùng nhóm của nạn nhân.
Từ Tiểu Ái cho biết cô báo án vì Lý Mộng Kỳ chưa từng tự ý nghỉ làm. Dù năng lực không nổi bật, nhưng Lý Mộng Kỳ rất có trách nhiệm. Sáng hôm đó, Lý Mộng Kỳ không chỉ vắng mặt mà còn không gọi điện hay nhắn tin, nên Từ Tiểu Ái linh cảm có chuyện chẳng lành.
Để x/á/c minh, chúng tôi cử người đến công ty làm việc với các đồng nghiệp. Kết quả trùng khớp với lời Từ Tiểu Ái. Mọi người x/á/c nhận hai người là bạn thân, thường xuyên giúp đỡ nhau. Đây cũng là lý do Từ Tiểu Ái lập tức báo án khi mất liên lạc.
Xét bề ngoài, Từ Tiểu Ái không có động cơ gây án. Nhưng cô lại cung cấp một manh mối rất kỳ lạ:
“Mộng Kỳ… dạo gần đây cô ấy như bị m/a ám…”
“Cái gì?”
Lúc đó, tôi cho rằng Từ Tiểu Ái quá hoảng lo/ạn nên liên tưởng lung tung. Nhưng về sau mới hiểu, mọi chuyện đều có liên quan với nhau. May mà khi ấy tôi đã kiên nhẫn nghe hết câu chuyện “bị m/a ám” mà Từ Tiểu Ái kể lại.
Trên đời này dĩ nhiên không có m/a q/uỷ. Cái gọi là “m/a ám” kia, thực chất không phải yêu m/a gì cả — mà là một trải nghiệm vô cùng tồi tệ và đ/au lòng.