Mảnh chiếu cạp điều

Mặt trời chưa qua ngọn tre, mép sông Lương hãy còn đọng váng sương ngả màu chì. Trên doi cát bồi, rạp đàn tràng vừa dựng xong hôm trước đứng lặng phắc, cột luồng còn thơm mùi vỏ tươi quyện với hơi bùn ướt.

Từ phía ngõ gạch dẫn ra bến bãi bỗng rộ lên tiếng bước chân giẫm trên lá khô lạo xạo.

Cụ tiên chỉ họ Lê đi đầu, tay chống chiếc gậy mây uốn cong nơi đầu mấu. Nối gót cụ là bốn vị bô lão trong hội đồng kỳ mục, ai nấy đều chít khăn nhiễu tím, nét mặt đanh lại dưới nếp nhăn tuổi tác. Theo sau mấy bước chân chậm rãi ấy là năm người đàn ông họ Trịnh. Họ mặc áo sô gai thô ráp, gấu áo tước sợi lơ thơ quệt vào gốc lau ven bờ. Người đi giữa hai tay bưng chiếc tráp gỗ sơn son tróc lở, phủ lên trên là một tấm chiếu cói viền vải điều đã ố vàng.

Đó là manh chiếu cạp điều từng trải ở gian giữa đình làng Đông Cổ suốt mấy chục năm trời, chỗ ngồi cao nhất chỉ dành riêng cho bậc tộc trưởng họ Trịnh mỗi bận tế xuân thu hay ph/ạt vạ dân đen.

Đỗ Lương buông sợi dây neo mũi thuyền vào cọc cống, đứng thẳng người đón nhìn. Bên cạnh chàng, Thục gài gọn lọn tóc mai sau vành tai, hai tay giữ ch/ặt chiếc thúng nhỏ đựng mấy nén nhang hương bài chưa châm. Nàng không lùi bước, đôi mắt mở to soi bóng đoàn người đang lầm lũi tiến sát mép nước.

Đoàn người dừng lại trước phiến đ/á xanh khắc chữ tạ lỗi mà Lương vừa hoàn tất hôm qua. Dưới chân bia, mạch nước ngầm vẫn rỉ ra từng tia trong văn vắt, chảy len qua thớ cát mịn đổ về lòng sông lớn.

Cụ tiên chỉ họ Lê dừng gậy tre, ngoảnh lại nhìn người con thứ của Trịnh Bá Hộ:

— Nơi này là chỗ bắt đầu của oan khiên hai mươi năm trước, cũng là nơi kết thúc mọi nghiệp chướng. Vật của nhà các anh mang từ từ đường ra, hãy tự tay đặt xuống trước mặt vo/ng linh và người chèo đò.

Người đàn ông họ Trịnh khẽ r/un r/ẩy. Hai bàn tay g/ầy guộc run lên bần bật dưới sức nặng của chiếc mâm sơn. Gã quỳ sụp xuống cát ướt, đầu gối lún vào bãi bồi lạnh ngắt. Bốn người cháu họ Trịnh đi kèm cũng răm rắp phủ phục sau lưng gã, trán dập sát mặt bùn phù sa, không ai dám ngẩng lên nhìn vào miếu Thủy thần.

— Đỗ chú... — Giọng người con Trịnh Cả khàn đặc, lẫn trong tiếng thở dốc — Cha tôi mê muội rước họa vào thân, làm nhơ danh tổ tiên, dìm ch** người vô tội dưới vực sâu. Hôm nay phụ thân đã vùi thây nơi đáy nước, n/ợ m/áu đã trả bằng mạng. Con cháu họ Trịnh mang những thứ yểm đảo giấu nơi xà nhà từ đường cùng manh chiếu cạp điều của người xưa ra đây, cúi xin hương linh dưới suối vàng và họ Đỗ các người cho phép chúng tôi hóa giải... xin đừng để oán h/ận lưu truyền tới đời sau.

Gã vừa dứt lời thì dỡ tấm chiếu cói ra.

Dưới lớp chiếu, lòng tráp lộ ra những món đồ khiến người ta rợn tóc gáy: một xâu tiền đồng ten gỉ xanh rì xâu bằng dây gai nhuộm m/áu chó mực, ba mảnh ván đóng đinh sắt gỉ cong queo từng dùng để nẹp lồng tre, và chuỗi hạt bồ đề của Trịnh Bá Hộ nhặt lại từ sân đình, nhiều hạt đã nứt đôi, trơ ra lõi gỗ đen sẫm bóng nhờn mồ hôi tay của kẻ thủ á/c.

Lương bước từng bước lại gần mép cát. Chân chàng đạp lên lớp sỏi lạo xạo. Nhìn những hạt bồ đề vỡ vụn kia, ngựk chàng khẽ nghẹn lại khi nhớ đến cảnh cha mình năm xưa từng quỳ lạy van xin dưới thềm nhà họ Trịnh để nhận từng đồng bạc nhơ bẩn, rồi cắn răng giấu kín bí mật suốt một đời người chèo đò.

Nhưng khi ánh mắt Lương dừng lại ở đôi vai đang r/un r/ẩy của những kẻ mặc áo sô gai, mối c/ăm hờn cuộn trào nơi lồng ngựk bỗng chùng xuống, rã ra như mảng bùn gặp nước triều. Kẻ gây tội á/c đã chìm sâu dưới đáy Vực Q/uỷ, những người đang quỳ trước mặt chàng chỉ là những kẻ gánh nạn của một dòng họ vừa sụp đổ danh gia vọng tộc.

Lương đưa tay đỡ lấy thành tráp, giọng trầm và vang:

— Oán h/ận buộc vào người sống mới sinh nghiệp chướng. Người nằm dưới gò Đống Sậy đã nhắm mắt, con nước sông Lương cũng đã nuốt trọn kẻ thủ á/c. Họ Đỗ chúng tôi hôm qua đã tạc bia tạ lỗi với con nước, chẳng còn lý do gì giữ lại dấu vết h/ận th/ù.

Chàng quay sang gật đầu với Thục.

Thục bước tới, nhẹ nhàng đặt chiếc chậu than đồng đỏ rực củi nhãn xuống giữa doi cát, ngay trước chân bia đ/á tạ tội. Nàng quỳ xuống, dùng kẹp tre gắp từng hạt bồ đề nứt nẻ thả vào lòng than.

Than hồng gặp gỗ bồ đề khô n/ổ lách tách. Khói bốc lên mang theo mùi nhựa cây khen khét quyện với mùi dầu vừng cổ xưa, rồi nhanh chóng bị ngọn gió sông thốc tan ra phía cồn lau. Tiếp đó, xâu tiền đồng và những mảnh ván nẹp đinh sắt cũng được đặt vào chậu lửa. Sắt gỉ nóng đỏ rực lên, xì ra những bọt nước hôi tanh của bùn lầy hai mươi năm tích tụ.

Sau cùng, người con họ Trịnh r/un r/ẩy nâng tấm chiếu cạp điều.

Tấm chiếu này từng trải cho những bậc kỳ mục quyền thế ngồi phán xét mạng người, định đoạt sống ch** của kẻ cùng đinh, nay phủ phục mục nát trên cát ẩm. Người đàn ông châm lửa vào một góc viền vải điều đỏ thắm.

Ngọn lửa bén nhanh qua từng sợi cói khô. Mép vải điều co rúm lại, biến thành một vệt đen sém. Lạ lùng thay, ngọn lửa không hề bốc khói đen kịt hay nồng nặc mùi tanh tưởi như lúc th/iêu lồng tre ở bờ sông bận trước. Ngọn lửa bùng lên vàng rực, thuần khiết và dữ dội, cuốn lấy toàn bộ thân chiếu biến thành một cột khói trắng muốt bốc thẳng tắp lên nền trời cao rộng, không quẩn lại một chút nào nơi mặt sóng.

Tro cói bay lả tả như những cánh bướm xám, chao lượn trên đầu ngọn sóng rồi nhẹ nhàng chìm vào lòng sông Lương phẳng lặng.

Bốn người đàn ông họ Trịnh úp mặt xuống cát khóc nấc lên thành tiếng. Tiếng khóc trút bỏ nỗi sợ hãi trừng ph/ạt, trút bỏ gánh nặng ô nhục đ/è nặng lên cả gia tộc bấy lâu nay.

Cụ tiên chỉ họ Lê thở hắt ra một hơi dài, chống gậy bước tới cạnh Lương, nhìn dòng nước biếc trôi xuôi:

— Chiếu rá/ch thì đ/ốt tro tàn, oán sâu thì đổ về biển. Từ nay đình làng Đông Cổ không còn chiếc chiếu nào phân chia sang hèn để ép người vào đường cùng nữa.

Lương không nói, chàng cúi xuống vốc một vốc cát bồi pha lẫn tro than rải đều xuống dòng nước ngầm dưới chân bia đ/á. Con nước mát lành cuốn lấy tàn tro, hòa vào dòng sông cái ngời ngợi ánh nắng ban mai.

Gió chớm thu lướt qua bến đò, xua đi những gợn tro cuối cùng vương trên bãi cát. Mặt sông phẳng lặng không còn sủi tăm m/áu, chỉ có đàn chim le le từ bãi bồi bên kia cất cánh bay vút qua vòm trời xanh thẳm.

Danh sách chương

Có thể bạn quan tâm

Bình luận

Đọc tiếp

Bảng xếp hạng

Hoa Trên Biển

Chương 11
Năm xưa khi còn đi học, tôi đã yêu Tống Trì Lễ ngay từ cái nhìn đầu tiên và đeo bám anh suốt nhiều năm trời. Tôi cậy thế hiếp đáp người khác, vứt hết thư tình người ta gửi cho anh, rồi hất ngã cả hộp cơm bento mà Lâm Uyển Bạch tự tay chuẩn bị. Về sau, lễ đường nhà trường bị sập, để cứu anh mà tôi đã vĩnh viễn mất đi đôi chân. Bố mẹ tôi dùng ân nghĩa ấy ép người báo đáp, khiến anh buộc phải kết hôn với tôi. Rối rắm, dằn dằn vặt vặt cả một đời bên một kẻ vì tàn phế mà trở nên cọc cằn, giận dữ thất thường như tôi. Lâm Uyển Bạch nói, đáng ra anh phải được tỏa sáng rực rỡ trong thế giới của chính mình, chứ không phải bị tôi giam cầm, để rồi sống cả đời trong cắn rứt và uất hận không thể giãi bày. Vào một ngày bình thản như bao ngày khác, tôi tự gieo mình vào bồn tắm, tự dìm chết chính mình. Khi mở mắt ra một lần nữa, tôi phát hiện mình đã trùng sinh về lại thời đi học.
0
2 Khó Cai Chương 21
6 Nuôi sếp Chương 15
10 Đôi tay vàng Chương 10
12 CHÓ THÀNH TINH Chương 11

Mới cập nhật

Xem thêm

Quế tử kim hoàng

Khi Lục Tranh trúng tình độc, vì báo đáp ân tình, ta đã cùng hắn trải qua một đêm phu thê. Lo sợ gia thế hiển hách của Lục gia sẽ khiến người khác cho rằng ta cố tình bám víu quyền quý, trời còn chưa sáng, ta đã lặng lẽ rời khỏi quân doanh, xuôi về phương Nam buôn bán nhỏ. Sáu năm sau, ta mới nghe được tin tức về Lục Tranh. Khi đang bán rượu ở chợ, ta nghe người ta nói Lục gia gặp họa, Lục Tranh bị tống vào ngục của triều đình, sống chết chưa rõ. Ta muốn dẫn Khắc nhi năm tuổi đến gặp hắn một lần. Lục gia đã bị tịch thu toàn bộ gia sản. Ta đi hết nơi này đến nơi khác, cuối cùng mới tìm thấy lão Hầu gia và phu nhân tóc bạc trắng trong một ngôi miếu đổ nát ở ngoại thành kinh thành. Trên chiếc bàn trước tượng Phật có một bức tuyệt mệnh thư, bên cạnh là hai bát cháo loãng pha thạch tín. Lão Hầu gia thở dài, bảo ta không cần khuyên can nữa: “Dù có sống lay lắt qua ngày cũng khó tránh khỏi bị người ta sỉ nhục, lại còn liên lụy đến con trai ta.” Nhìn hai vị trưởng bối Lục gia một lòng muốn tìm đến cái chết, ta khẽ đẩy Khắc nhi: “Khắc nhi, mau gọi tổ phụ, tổ mẫu đi con.”
Cổ trang
Ngôn Tình
0