Buông chèo
Sương sớm trên mặt sông Lương mỏng mảnh, là là trôi trên mặt nước phẳng lặng như tờ. Gió bấc mấy hôm trước đã lui hẳn về mạn ngược, chỉ còn làn gió non thổi dọc bờ bãi, đem theo mùi cỏ mật tươi non hòa cùng hương phù sa ngai ngái.
Đỗ Lương ngồi xếp bằng nơi mũi thuyền nan.
Con thuyền đã được chàng cọ rửa sạch sẽ lớp rong rêu nhớp nháp bám suốt những ngày giông bão. Dưới chân chàng, khúc gỗ lim nâu sẫm nằm yên ắng. Đó là nửa đoạn báng của cây sào gia truyền từng gắn bó với cha chàng cả đời, rồi lại theo chàng lặn ngụp qua bao khúc nước sâu. Thân gỗ sần sùi chi chít những vệt khía ngang dọc. Mỗi một vết vạch là một hình hài trôi dạt chàng hoặc cha chàng từng vớt lên khỏi dòng nước lạnh, từng quấn chiếc chiếu cói thô sơ đặt nằm chờ thân nhân đến nhận diện.
Chín mươi tám vạch.
Hai mươi năm trước, cha chàng khía nhát d/ao thứ chín mươi tám vào đêm mưa bão dìm chiếc lồng tre nẹp cọc, rồi buông sào ngã b/ệnh, ôm theo nỗi cắn rứt c/âm lặng xuống mồ. Từ đó đến nay, chiếc báng gỗ trơ khấc chỉ dừng lại ở con số ấy, như một cái dằm cắm sâu vào tâm can kẻ nối nghiệp.
Lương rút con d/ao gọt vầu giắt bên hông. Lưỡi thép xám ánh lên dưới ráng đông đang ửng hồng mé chân trời. Chàng miết ngón tay thô ráp dọc theo thớ gỗ lim đanh cứng, tìm một khoảng trống nhỏ sát đầu báng.
Mũi d/ao tì xuống. Lương dồn lực nơi cổ tay, gọt một đường dứt khoát.
Một dải phoi gỗ mỏng xoăn tít rơi xuống sàn thuyền, để lộ thớ th!t gỗ vàng ươm, thơm mùi nhựa cũ. Vệt khía thứ chín mươi chín hiện ra, sâu hoắm và dứt khoát.
Chín mươi chín phận người. Chín mươi chín n/ợ nần ân oán.
Lương khẽ thở hắt ra một hơi dài. Lồng ngựk chàng như vừa cởi bỏ một tảng đ/á ngàn cân đ/è nặng suốt bao mùa con nước đỏ. Chàng tra d/ao vào vỏ tre bên hông, hai tay nâng khúc báng sào lim lên ngang ngựk. Đôi mắt chàng hướng về phía gò Đống Sậy, nơi nấm mồ đất đỏ của nàng Liên còn thơm mùi hoa đại rụng trắng thềm cỏ.
— Cha ơi... N/ợ của họ Đỗ, con đã trả xong. Oan khiên bến này, sông Lương đã rửa sạch.
Chàng cúi đầu, đặt khúc báng sào lim xuống mặt nước lấp lánh ánh mai.
Không còn tiếng rít buốt lạnh, không còn những bọt nước sủi ngầu bùn tanh của xoáy Vực Q/uỷ. Dòng sông êm ả đón lấy khúc gỗ nặng, nâng đỡ nó trôi xuôi. Khúc báng sào lim dập dềnh theo làn sóng gợn lăn tăn, xoay nhẹ một vòng rồi xuôi dần về phía hạ lưu, nơi dòng nước mênh mông mở rộng đổ ra biển lớn.
Lương đứng thẳng dậy nơi đầu mũi thuyền, dõi theo chấm gỗ nâu cho đến khi nó chìm dần giữa ánh rạng đông chói lọi.
Từ phía bờ bãi, tiếng chổi tre quét trên thềm gạch vang lên xoèn xoẹt, nhịp nhàng và ròn rã.
Lương giong mái chèo, đưa thuyền gạt nhẹ làn nước cập vào gờ đ/á bến sông. Căn miếu Thủy thần nép dưới bóng đa cổ thụ nay đã đổi khác. Những búi dây leo gai góc um tùm, những mảng rêu phong nhớp nháp che kín bệ đ/á bao năm qua đã được dọn sạch tinh tươm. Bậc tam cấp dẫn xuống bến đò rải một lớp cát vàng mịn màng, khô ráo.
Bên trong miếu, Thục đang thoăn thoắt lau dọn hương án. Nàng mặc tấm áo tứ thân bằng vải thô nhuộm củ nâu sạch sẽ, mái tóc đen mượt được vấn gọn gàng trong chiếc khăn vuông đen, để lộ vầng trán thanh tú và đôi mắt sáng ngời.
Thấy bóng Lương bước lên thềm đ/á, Thục dừng tay, quay người lại. Nàng không nói được, nhưng khóe môi nở một nụ cười rạng rỡ, đôi mắt long lanh ngập tràn nét an vui. Nàng chỉ tay về phía chiếc lư đồng trên bàn thờ Thủy thần, nơi ba nén nhang trầm Lương vừa se sớm nay đang tỏa làn khói mỏng thơm ngan ngát, xua đi hết vẻ hoang lạnh ngột ngạt của những ngày xưa cũ.
Thục bước lại gần, chìa ra cho Lương một chiếc gáo dừa múc đầy nước chè xanh nóng hổi. Hơi nước bốc lên nghi ngút mang theo vị chát ngọt đầu lưỡi. Lương đón lấy chiếc gáo, uống một ngụm lớn, cảm nhận dòng nước ấm áp lan tỏa khắp tứ chi.
Chàng nhìn quanh mái miếu phong quang, rồi nhìn xuống bến sông. Tấm bia đ/á sám hối do cụ tiên chỉ họ Lê cho người đục đẽo chiều qua đã được dựng trang trọng bên gốc đa, ghi rõ lời răn dạy muôn đời của làng Đông Cổ về việc cấm tiệt hủ tục dìm lồng tre, bên dưới có khắc dòng tên nhỏ của người cha quá cố như một lời tạ tội muôn thuở với dòng nước.
Chợt từ con đường đất đỏ xuyên qua rặng tre ngà, tiếng bước chân lẹp kẹp và tiếng nói cười râm ran bắt đầu rộ lên.
— Chú Lương ơi! Đò ơi! Cho qua sông họp chợ sớm nào!
Tiếng bác Ba b/án đồ gốm gọi với từ đầu dốc đê. Theo sau bác là mấy bà buôn rau gánh những sọt rau tươi mơn mởn còn đọng sương đêm, cùng vài anh thợ mộc mang theo c/ưa đục chuẩn bị sang chợ huyện bên kia bờ.
Lương đặt chiếc gáo dừa xuống bậc đ/á, nhìn Thục. Thục khẽ gật đầu, vẫy vẫy tay ra dấu giục chàng.
Lương sải bước xuống bến. Trên khoang thuyền nan mục nát năm nào, chàng đã thay vào đó những thanh giát tre mới tinh, vàng ruộm và thơm mùi nắng. Cây sào gỗ mới chàng vót bằng tre đực dẻo dai dựng gọn ghẽ bên be thuyền.
— Dạ, các bác xuống đò! Nước êm lắm, sang chợ huyện kịp phiên sớm đấy ạ!
Lương đỡ tay bác Ba gốm bước xuống khoang, xếp gọn từng gánh hàng cho các bà, các chị. Con đò đầy khách, chở theo những nụ cười, những câu chuyện mùa màng rôm rả về vụ chiêm sắp tới, không còn ai nhắc lại những bóng m/a trôi ngược dòng hay những đêm gõ vạc k/inh h/oàng.
Đỗ Lương chống cây sào tre cật xuống đáy cát phù sa. Cây sào uốn cong một vệt rồi bật thẳng, đẩy con đò nhẹ nhàng lướt trên mặt sông Lương trong vắt.
Ánh nắng ban mai rải một dải vàng óng ả trên mặt nước biếc. Đỗ Lương buông cây sào tre, cầm lấy mái chèo gỗ, thong dong khua từng nhịp đều đặn. Con đò rẽ sóng xuôi dòng, mang theo nhịp sống thanh bình của xóm làng trở lại bến sông.