Tiết trời ấm dần, liễu biếc đ/âm chồi, khi những đóa mai thưa thớt bỗng bung nở rộ, đoàn người chúng ta đã lên đường hướng Bắc được nửa tháng tròn. Trước khi đi, chúng ta đến thăm lão gia hai lần, dường như thấy con cháu đều bình yên, thân hình g/ầy guộc của người bỗng tràn đầy hi vọng. Nghe nói phu nhân và các tiểu thư đều sẽ theo người đi lưu đày, lão gia vừa buồn bã lại áy náy, mắt ngân ngấn lệ ôm vai phu nhân, cả nhà lại khóc như mưa.
Phạm nhân lưu đày phải dùng chân trần tới Ninh Cổ Tháp, đường xá gian nan, cần chuẩn bị cho lão gia đủ áo ấm cơm nóng. M/ua vải vóc cùng bông gòn, ta giặt hồ c/ắt may, có Trương mạ mạ ra tay giúp đỡ, nhờ vậy quần áo làm ra vừa nhanh vừa đẹp. Sờ tay lên lớp áo mới kịp thời, lòng thầm cảm thán: cùng là đôi tay chăm sóc hoa cỏ, sao Trương mạ mạ lại khéo léo đến thế.
Áo mới may có lớp bông Iót, phu nhân cũm sửa hai đôi hài, lại chuẩn bị thêm chút th!t khô, đợi khi đoàn tù nhân lên đường thì đưa tới. Ta lấy số bạc còn lại, cân đủ trăm lượng đưa phu nhân, nhờ nộp cho quan dịch để được chiếu cố, mong lão gia đỡ vất vả trên đường. Lại moi mấy mảnh bạc vụn còn sót, tìm Anh Thúc thuê chiếc xe ngựa lớn hơn.
Thân phận chủ tớ trong gió bụi đường trường dần tan biến, chúng ta như gia đình thực thụ, chen chúc trong cỗ xe theo sau đoàn người của Anh Thúc. Duy chỉ có điều ngoài dự tính là sự yếu đuối của thiếu gia.
Vốn định để thiếu gia đá/nh xe, học mấy ngày mới tạm thành thục, nào ngờ mới đi nửa ngày đã bị nắng rát, tối đến gió lạnh thổi qua liền ngã b/ệnh. Không nỡ nhìn cảnh ấy, ta kéo chàng vào xe, nhờ người đá/nh xe của Anh Thúc chỉ dạy, vốn từng cày bừa nơi thôn dã nên ta học nửa ngày đã thông thạo.
Phong cảnh dọc đường thật nên thơ, tiểu thư nép trong lòng phu nhân ngắm cảnh vật đổi thay bên cửa sổ, tập ngâm nga: "Hoa ốc ngư y liễu tố thànhGiao long lân động lãng hoa tinhPhi dương ứng trục hải đông thanh".
Khi tới mùa hạ - nỗi lo lớn nhất của phu nhân - thì đoàn ta đã tiến sâu hướng Bắc, tránh được cái nóng như th/iêu. Thiếu gia thường nói mình chẳng hợp với sách đèn, quan sát suốt hành trình, ta thấy chàng cũng không phải là người chịu khó lao động.
Anh Thúc là lái buôn đường dài, mỗi năm nam bắc đôi đường, dọc đường m/ua b/án hàng hóa. Ở Hoàng Long phủ m/ua nhiều đồ vật, tiểu thư theo sau ăn bánh đường, tên gian thương này lại rất hào phóng với nàng. Cũng phải thôi, tiểu thư tựa băng tuyết đáng yêu, thuần khiết lương thiện, suốt đường gian nan chẳng than mệt, lại còn là nguồn vui của mọi người, luôn theo sau Anh Thúc bằng giọng ngọt ngào: "Anh Thúc ơi"/"Anh Thúc sáng suốt quá"/"Cảm tạ Anh Thúc"/"Nhờ có Anh Thúc"... Nàng cười nói ngọt ngào với tất cả, dẫu núi băng cũng phải tan chảy.
Ta dắt tiểu thư xem bộ da thú trong hàng, thấy thiếu gia bước tới. Thấy mọi người đều tất bật, chàng cũng hăng hái xin giúp đỡ. Anh Thúc liếc nhìn chàng trai ốm yếu suốt hai tháng đ/au ba trận, cười gian nói:
"Vậy cháu cùng các bác Vương khiêng hàng đi."
Phu phen hò dô một tiếng vác bao hàng lên vai. Thiếu gia bắt chước, hai tay nắm hai góc bao tải, hùng hổ hô "hò dô" theo, nhưng bao hàng vẫn nằm ì. Những người quay lại khiêng hàng thấy cảnh ấy đều phá lên cười. Thiếu gia nghiến răng, hít sâu thử lần nữa, bao hàng vẫn không nhúc nhích, tiếng cười càng rộ. Mặt đỏ như gấc, chàng gãi đầu cười ngượng nghịu với mọi người, định thử lần thứ ba thì ta đưa tay tiểu thư cho chàng nắm. Một tay vịn bao hàng, nhấc bổng lên vai,
tay trái giữ bao, tay phải xách bộ da vừa m/ua, ra hiệu cho họ theo sau. Chẳng để ý những tiếng kinh ngạc xung quanh, trong lòng chỉ nghĩ: Nếu thực sự có được chàng rể như vậy, bà ta chắc lại thêm một người để m/ắng.
Tiết trời ngày một lạnh dần, thị trấn ven đường thưa thớt, người người vắng bóng, ngay cả tiểu thư hay cười nói cũng trầm mặc hơn. Phu nhân và Trương mạ mạ thường nhìn ra cửa sổ, không phải để thưởng ngoạn mà như muốn khắc ghi, phải tận mắt thấy nơi hoang vu này mới hiểu được nỗi khổ sắp tới.
Cảnh vật bên xe từ rừng liễu xanh hồng thắm chuyển thành núi đen sông thẫm. Khi thấy quen thuộc bãi cỏ, cây du già và rừng thông, nỗi lo âu trong lòng bỗng dâng lên dữ dội.