Lời khai bên chén rư/ợu ngâm ngải
Gió bấc mép sông thổi thốc từng cơn rát buốt, cuốn theo cát khô ràn rạt đ/ập vào vạt áo sồng của Đỗ Lương.
Bãi tha m/a bến đò sau cơn náo lo/ạn của đám tuần đinh chìm vào khoảng không tĩnh mịch rợn người. Những hạt bồ đề văng vãi từ chuỗi tràng hạt của Trịnh Bá Hộ nằm rải rác trên cát ẩm, lẫn vào những vệt m/áu tươi đã bắt đầu cô đặc lại thành từng mảng nâu đen bên mép manh chiếu rá/ch. Lương quỳ một gối xuống bãi bồi, hai tay nâng chiếc chiếu hoa cũ cẩn trọng phủ kín lại gương mặt cùng thân x/ác người đàn bà x/ấu số. Dưới lớp chiếu mục, từng giọt m/áu rỉ ra từ đôi hốc mắt đã ngừng tuôn, nhưng mùi tanh nồng của huyết nhục quyện với vị ngai ngái của bùn rêu vẫn bám ch/ặt nơi đầu mũi.
Bên cạnh, Thục ngồi thu lu trên gót chân, đôi tay g/ầy guộc r/un r/ẩy chụm lại che cho ba nén hương đen vừa cắm trước đầu th* th/ể. Tàn nhang đỏ rực lập lòe trong sương giá, tỏa ra làn khói trầm mỏng manh thơm hắc. Nàng ngước đôi mắt trong veo ngấn nước nhìn chàng, miệng mấp máy không phát ra tiếng động, những ngón tay khẳng khiu vội vã khua trong không trung: hai bàn tay úp lại làm hình mái nhà, rồi chỉ về phía chiếc lều tre xiêu vẹo của nàng cạnh miếu Thủy thần, sau đó chỉ tay thẳng lên triền đê m/ù mịt phía gò mả đầu làng.
Lương hiểu ý nàng. Chàng đứng dậy, thắt lại dải gai ngang lưng, ghì ch/ặt chiếc ruột tượng vải bố vào sát mạn sườn. Nơi ấy, chàng đã giấu kỹ tấm thẻ bài bằng bạc cùng bản rập chữ bùa trên phiến đ/á xanh mà chàng vừa dùng miếng sáp nến ép lấy dấu khi nãy. Trong lòng bàn tay chàng còn nắm ch/ặt một mắt xích sắt gỉ ngoèn vừa dùng mũi đục cạy ra từ cùm chân x/ác ch*t.
"Trông chừng th* th/ể giúp tôi," Lương trầm giọng dặn dò Thục, thanh âm khàn đục như tiếng sỏi va dưới lòng nước. "Nếu người nhà họ Trịnh hay tuần đinh quay lại quấy phá, chớ dại giằng co. Chạy ngay vào miếu gõ chuông lệnh."
Thục gật đầu thật mạnh. Nàng kéo vạt áo vá chằng chịt quấn ch/ặt lấy bọc xươ/ng cốt đứa trẻ sơ sinh, ngồi ép sát bên mép chiếu rá/ch, bờ vai mảnh khảnh gồng cứng như một con thú nhỏ quyết giữ lấy tổ ấm cuối cùng giữa mùa săn.
Lương quay lưng, rảo bước rời bãi bồi. Chàng không đi đường cái quan chạy qua cổng đình làng, nơi ngọn đèn lồng đỏ nhà họ Trịnh vẫn rọi bóng qua những lũy tre ken dày. Chàng rẽ vào lối mòn men theo bờ dộc hoang vu, cỏ may cào rá/ch toạc ống chân lạnh toát. Mùi bùn sình phù sa dần nhường chỗ cho mùi cỏ tranh úa và hơi ẩm mốc của những gò mả vô chủ nhấp nhô giữa làn sương muối tháng Bảy.
Nơi mép gò đất cao nhất làng Đông Cổ, lọt thỏm giữa những lùm cây dứa dại gai góc là một túp lều tranh lợp bằng rạ mục. Mái lều rá/ch nát trũng xuống ở giữa, vách đất tróc lở từng mảng lớn trơ cả những thanh nứa đan vẹo vọ. Chẳng có bờ giậu hay cánh cổng nào ngăn lối, chỉ có một dải dây gai bện chỉ ngũ sắc đã bạc màu xơ x/ác giăng ngang trước thềm đất để xua đuổi tà m/a vãng lai.
Từ bên trong túp lều, mùi lá ngải c/ứu phơi khô xông khói m/ù mịt quyện với mùi dầu vừng cay nồng bay ra đặc quánh. Tiếng nan nứa khô cọ vào nhau phát ra những âm thanh khô khốc rờn rợn: *ken két... sột soạt...*
Lương dừng chân trước ngưỡng đất, cất tiếng:
"Cụ Mo Khảm."
Tiếng nứa ken két bên trong lều bỗng ngưng bặt. Không gian rơi vào sự nín lặng nặng nề, chỉ còn tiếng ngọn đèn dầu lạc n/ổ lép bép bên vách. Một giọng nói khản đặc, the thé như phát ra từ kẽ răng mục rỉ của người già cất lên:
"Đỗ gia? Mùi bùn đáy Vực Q/uỷ nồng nặc thế kia... người trần mắt th!t chẳng ngửi ra, nhưng cái mũi của một lão m/ù ăn cơm dưới chân mả ròng rã hai mươi năm thì chẳng lẫn vào đâu được."
Lương cúi người vén tấm mành cói rá/ch nát bước vào bên trong.
Túp lều chật chội không kê nổi một chiếc chõng tre. Đất dưới nền nện bằng vôi sống trộn xỉ than khô khốc. Khói ngải xông từ chiếc ơ đất nung góc lều tỏa ra từng đụn xám xịt cay xè, làm cay sè khóe mắt. Giữa lều, cạnh ngọn đèn đĩa con thắp bằng dầu vừng bốc khói đen sì, một bóng người g/ầy guộc như bộ xươ/ng bọc da đang ngồi xếp bằng trên đống rơm khô.
Lão Khảm m/ù trần truồng nửa thân trên, làn da nhăn nheo dúm dó như vỏ thân ổi già, chằng chịt những vết s/ẹo roj lằn dọc ngang. Điều làm người ta lạnh gáy nhất là gương mặt lão: hai hốc mắt sâu hoắm chỉ còn lại hai bọc s/ẹo th!t trắng đục lồi lõm dị dạng, dấu tích của một nhát d/ao hay thanh sắt nung từng chọc thủng con ngươi từ nhiều năm trước. Đôi bàn tay lão khẳng khiu với những khớp xươ/ng to bè, gồ ghề đầy vết chai sạn rướm m/áu vì vót nan nứa. Trên đùi lão là chiếc rổ sảo đan dở bằng cật tre cộc cạch.
Bên cạnh đĩa dầu là một chiếc hũ sành da lươn sứt mẻ miệng, bên trong ngâm thứ rư/ợu th/uốc đỏ sẫm cắm ngập rễ ngải trắng xóa. Một chiếc bát sành mẻ góc cáu bẩn đựng nước rư/ợu bốc mùi cay nồng hăng hắc.
Lão Khảm không quay đầu lại, nhưng đôi tai dỏng lên như tai dơi, từng thớ th!t trên gò má giần gi/ật theo nhịp thở của người mới đến.
"Họ Đỗ mang sào lim lại đây làm gì?" Lão rít qua kẽ răng, giọng the thé mỉa mai. "Hai mươi năm trước lão đã tự tay chọc thủng đôi tròng mắt này để trả lại chữ 'nghiệp' cho trời cao đất dày, chẳng còn dính dáng gì đến cõi cúng bái của cái làng Đông Cổ nhơ nhớp này nữa. Muốn cầu đảo giải hạn thì cút về nhà họ Trịnh mà xin bùa hộ mệnh."
Lương không lùi bước, cũng không vội cất lời van vơn. Chàng ngồi bệt xuống mảnh chiếu cói rá/ch trước mặt ông già m/ù. Chàng móc từ trong ruột tượng ra miếng sáp ong màu vàng sẫm mang dấu rập và mắt xích sắt đặc sệt rỉ đỏ, đặt cạch một tiếng khô khốc lên chiếc mâm gỗ cũ kỹ đặt cạnh hũ rư/ợu.
Âm thanh kim loại va chạm khiến lão Khảm hơi khựng lại. Đôi tai lão gi/ật mạnh. Cánh mũi phập phồng hít một hơi dài đầy thận trọng.
"Mùi rỉ sắt ngâm đáy bùn phù sa..." Lão Khảm lẩm bẩm, thanh âm bỗng run lên từng chặp. "Cái mùi sắt tôi bằng mỡ chó mực hai mươi năm trước... Chú... chú vừa vớt được thứ gì dưới bến sông?"
"Một cái x/ác trôi ngược dòng," Lương đáp, giọng chàng bình thản nhưng trĩu nặng từng âm tiết. "Người đàn bà ôm con. Cổ chân bị xích ch/ặt vào phiến đ/á x/ẻ đáy sâu ba sải nước."
Bàn tay đang cầm thanh cật nứa của lão Khảm r/un r/ẩy đá/ nh rơi thanh nan tre xuống đất. Cả thân hình còm cõi của lão khẽ co gi/ật, lưng c/òng rạp xuống như bị một bàn tay vô hình ngàn cân đ/è nghiến lên vai. Lão thò bàn tay ráp như vỏ cây sồi ra phía trước, quờ quạng trong không khí mịt mùng m/ù sương của căn lều cho đến khi mười đầu ngón tay chạm vào miếng xích sắt và mẩu sáp ong trên mâm gỗ.
Đầu ngón tay lão miết chậm rãi qua từng đường nét khắc trên mặt sáp. Lão sờ rất kỹ, từ nét móc ngang g/ãy góc đến vệt khoanh tròn xoắn ốc ở tâm ấn. Mồ hôi lạnh rịn ra trên trán lão, chảy ròng ròng qua những nếp nhăn nheo xám xịt rồi rỏ xuống nền đất nện.
"Chữ 'Vĩnh' g/ãy nét... ấn q/uỷ hình ba đầu sóng..." Lão Khảm thì thào, giọng lạc đi như tiếng kêu của loài chim ăn đêm bị bẻ g/ãy cánh. "Bùa 'Vĩnh trầm ba để'... Ngàn năm chìm dưới đáy ba đào... không được nổi lên, không được đầu th/ai, đời đời kiếp kiếp làm q/uỷ c/âm ngậm bùn đáy vực..."
Đột nhiên, lão Khảm chộp lấy mắt xích sắt, đưa thẳng lên mũi ngửi rồi li/ếm nhẹ một cái vào lớp rỉ sét. Một ti/ếng r/ên rỉ u uất nghẹn ngào bật ra từ cuống họng lão. Đôi bàn tay xươ/ng xẩu run b/ắn lên bần bật, lão vung tay đ/ập mạnh chiếc xích xuống mâm gỗ, chén rư/ợu ngâm ngải sóng sánh văng tung tóe ra nền đất ẩm.
"Trời ơi là trời! Nàng ấy nổi lên thật rồi! Oan h/ồn mẹ con nàng ấy không chịu nằm im dưới Vực Q/uỷ nữa rồi!"
Lão Khảm ngửa mặt lên trần lều rá/ch, hai hốc mắt sâu hoắm trợn ngược lên khoảng không đen đặc, từng giọt nước mắt đục ngầu như mủ ứa ra từ khóe s/ẹo chằng chịt. Lão r/un r/ẩy với lấy bát rư/ợu ngải, ngửa cổ tợp một ngụm lớn. Rư/ợu mạnh làm lão sặc, ho sù sụ từng cơn rũ rượi, nước rư/ợu đỏ lòm trào ra khóe mép râu ria lởm chởm.
Lương nhìn chằm chằm vào những ngón tay đang co quắp của lão già, hỏi từng tiếng rành rọt:
"Bùa này do ai vẽ? Xích này do ai rèn? Năm xưa người ta đã làm gì mẹ con người đàn bà ấy?"
Lão Khảm thở dốc, hai bả vai nhấp nhô kịch liệt dưới ánh đèn dầu vừng leo lét. Lão đặt chiếc bát sành mẻ xuống đất bằng một lực r/un r/ẩy, rồi cúi rạp đầu xuống gần sát mặt Đỗ Lương. Mùi rư/ợu ngải c/ứu nồng nặc phả ra theo hơi thở đ/ứt quãng:
"Do ai ư? Do cái thân tàn m/a dại này vẽ chứ ai! Hai mươi năm trước, ta là thầy mo được cả cái tổng Đông Cổ này trọng vọng. Lời ta nói ra người ta coi như thánh chỉ. Thế rồi... đồng tiền bát gạo, danh vọng chức sắc đã bịt kín lương tri của một kẻ làm thầy tế..."
Lão Khảm vò nát mớ tóc hoa râm bù xù, giọng nghẹn lại trong niềm ăn năn giày vò da th!t:
"Năm ấy, con bé Liên... nó mới mười tám tuổi, đẹp như bông hoa dong riềng nở bên bến đò. Cha mẹ nó ch** sớm, nó sống bằng nghề dệt vải thuê ngoài bãi bồi. Trịnh Cả... tức là Trịnh Bá Hộ bây giờ, khi ấy đang chuẩn bị vào kinh ứng thí chức ấm sinh, lại sắp cưới con gái quan tri phủ để mở đường thăng quan tiến chức. Một đêm mưa gió, gã mò xuống trại dệt, dùng sức ép bức hại con bé..."
Lương siết ch/ặt nắm tay, đ/ốt ngón tay kêu lên răng rắc.
"Con bé mang th/ai," lão Khảm tiếp tục, thanh âm rát buốt như d/ao cứa vào màng nhĩ. "Cái bụng ngày một lùm lùm sau vạt áo tơi. Nếu chuyện này vỡ lở, Trịnh Cả không những mất trắng đám cưới danh giá với thiên kim tiểu thư nhà quan, mà còn bị tước bỏ tư cách khảo hạch, dòng họ Trịnh sẽ mang tiếng muôn đời. Đêm rằm tháng Bảy năm ấy, trời đổ mưa như trút nước, gió bấc gầm rú từng cơn rợn người... Họ Trịnh bí mật bắt trói con Liên đem về từ đường tra khảo."
"Chúng bắt nó bỏ cái th/ai?" Lương gằn giọng.
"Không, con bé Liên thà ch** chứ nhất quyết không chịu uống bát th/uốc ph/á th/ai pha thạch tín," Lão Khảm đ/ấm thùm thụp xuống nền đất nện, bụi tro bay m/ù mịt. "Nó quỳ lạy, trán dập nát be bét trên nền gạch hoa từ đường, chỉ van xin cho đứa con trong bụng được chào đời rồi đem đi biệt xứ. Nhưng lòng dạ loài cầm thú đâu có dung tha! Trịnh Cả sợ con bé đem bí mật ra cõi trần, sợ miệng lưỡi thiên hạ làm nhơ nhuốc cái bảng vàng vọng tộc họ Trịnh..."
Lão già dừng lại, ngựk thở phập phồng như chiếc bễ rèn rá/ch nát. Lão r/un r/ẩy quơ lấy bát rư/ợu ngải, uống cạn những giọt chát đắng còn sót lại dưới đáy sành:
"Hắn ném cho ta ba mươi lượng bạc trắng. Hắn ép ta phải lập đàn yểm bùa xích h/ồn. Hắn nói con bé phạm tội gian d/âm hoang toàng, làm ô uế phong thủy long mạch của làng, phải dùng phép 'Vĩnh trầm ba để' dìm xuống nơi vực sâu nhất của sông Lương thì họ Trịnh mới phát quan phát tài, làng Đông Cổ mới tránh khỏi nạn hồng thủy. Ta... ta vì mờ mắt trước số bạc trắng ấy, đã nhận lời vẽ đạo bùa chữ q/uỷ, khắc lên phiến đ/á xanh, rồi sai thợ rèn riêng của nhà họ Trịnh đúc chiếc xích sắt mười tám mắt khóa ch/ặt hai chân con bé vào cối đ/á..."
Không gian trong túp lều bỗng chốc lạnh toát, hàn khí từ dưới đất nện bốc lên buốt tận xươ/ng tủy.
Lương cảm thấy ngựk mình như bị một tảng đ/á đ/è nghẹt thở. Cảnh tượng th* th/ể thiếu phụ nổi đứng giữa Vực Q/uỷ, đôi mắt rỉ m/áu tươi trên bãi cát bến đò hiện lên rõ mồn một. Nỗi oan khiên hai mươi năm ròng rã bị ghì ch/ặt dưới bùn sâu, nơi tăm tối không ánh mặt trời rọi tới, chỉ có dòng nước đục ngầu cuộn xoáy ngày đêm.
"Thế còn chiếc lồng tre nẹp sắt?" Lương hỏi, giọng chàng trầm xuống đến mức gần như thì thào. "Và đứa nhỏ sơ sinh... tại sao lại ch** cùng mẹ nó dưới lòng sông?"
Khóe mắt rỉ mủ của lão Khảm gi/ật b/ắn lên từng đợt co rúm. Lão đưa hai bàn tay g/ầy khẳng khiu bấu ch/ặt lấy hai thái dương, như thể muốn x/é toạc lớp ký ức k/inh h/oàng đang gặm nhấm đầu óc lão:
"Đêm ấy... trời đất tối sầm như mực loãng. Chúng nhét con bé vào chiếc lồng heo đan bằng nứa cật nẹp sắt. Khi ấy con bé đ/au đẻ dữ dội... Tiếng gào khóc của một sản phụ x/é toạc màn mưa đêm bến sông. Ngay trong chiếc lồng hẹp hòi tăm tối ấy, nó đã dùng chính răng mình cắn đ/ứt dây rốn để sinh hạ một đứa bé gái đỏ hỏn. Trịnh Cả đứng trên bờ đê lạnh lùng vung tay ra lệnh... Hắn không cho đứa trẻ sống sót. Hắn sợ m/áu mủ hoang đàng sẽ trở về đòi n/ợ..."
"Khốn nạn!" Lương nghiến răng, một tiếng quát nghẹn lại nơi cổ họng.
"Nhưng muốn đưa chiếc lồng dìm xuống Vực Q/uỷ giữa lúc bão bùng nước xiết không phải chuyện dễ," Lão Khảm thều thào, giọng nói bỗng trở nên ngập ngừng, rụt rè một cách kỳ lạ. Ánh mắt m/ù lòa của lão đảo quanh vô định, rồi chầm chậm hướng về phía Đỗ Lương. "Dòng nước sông Lương đêm ấy chảy xiết như ngựa lồng, thuyền bè của đám tuần đinh chèo ra mép sông đều bị sóng đá/ nh lật úp. Trịnh Cả biết chỉ có một người duy nhất đủ tài nghệ luồn lách qua khúc nước dữ để thả chiếc lồng ấy cắm sâu vào tim vực xoáy..."
Trái tim Đỗ Lương bỗng thắt lại. Một linh cảm lạnh buốt như dòng nước ngầm tháng Chạp xông thẳng lên đỉnh đầu chàng.
"Ai?" Lương hỏi. Cổ họng chàng khô khốc, từng tiếng bật ra nặng trĩu tựa hồ phải dùng hết sinh lực mới gượng dậy nổi.
Lão Khảm không trả lời ngay. Đôi bàn tay xươ/ng xẩu của lão r/un r/ẩy bò trên mặt rơm, từ từ vươn về phía trước. Những ngón tay khô ráp như cành củi mục chạm vào ống quần nâu sồng của Lương, rồi lần dần lên vạt áo chàng.
Lão sờ vào lớp vải thô ráp bám đầy bùn non sông Lương. Ngón tay lão dừng lại nơi vết rá/ch lớn bên vai áo được vá víu vụng về bằng những sợi dây gai bện chéo hình mắt lưới. Lão áp sát mặt vào vạt áo, hít một hơi dài đầy hoảng lo/ạn.
"Chiếc áo sồng rá/ch vai buộc dải gai..." Lão Khảm r/un r/ẩy thốt lên, giọng lạc đi trong sự kinh hãi tột cùng. "Mùi dầu trẩu chống thấm nước trên sợi gai này... suốt hai mươi năm qua chưa từng đổi khác..."
Lão ngước hai hốc mắt m/ù lòa nhìn thẳng vào Lương, khóe môi méo xệch giần gi/ật:
"Đỗ lão trượng... cha của chú! Chính là ông ấy! Trịnh Cả đã đem mười lượng bạc nén giấu dưới đáy thúng gạo mang ra chòi đò. Cha chú khi ấy nghèo đói cùng cực, người vợ ốm đ/au liệt giường cần tiền m/ua th/uốc thang thang bảo mạng... Cha chú đã nhận mười lượng bạc ấy, gật đầu cầm chèo đưa chiếc lồng sắt chở mẹ con con Liên ra tim nước Vực Q/uỷ!"
*Đùng!*
Một tiếng sấm khan từ chân trời xa dội lại, làm rung chuyển cả mái lều rá/ch nát.
Đỗ Lương ngồi ch** trân trên nền đất nện. Lỗ tai chàng ù đi như có hàng ngàn con ong vò vẽ bay lo/ạn xạ. Cả người chàng đông cứng lại thành một khối băng giá buốt.
"Ông... ông nói láo!" Lương gầm lên, bàn tay chàng chộp lấy bả vai khẳng khiu của lão Khảm, lắc mạnh. "Cha tôi cả đời chèo đò vớt x/ác, c/ứu vớt biết bao nhiêu oan h/ồn cõi nước! Người dạy tôi từng điều kiêng kỵ, dạy tôi phải biết thương xót người ch** trôi hơn cả bản thân mình! Người không thể nào... không bao giờ làm cái trò táng tận lương tâm ấy!"
"Lão nói dối để được cái gì?" Lão Khảm cười, một nụ cười thảm n/ão còn gh/ê r/ợn hơn tiếng khóc. Lão mặc cho Lương bóp ch/ặt bả vai đến rướm m/áu, giọng the thé run lên từng hồi: "Sau cái đêm dìm lồng sắt ấy, mẹ chú cũng chẳng qua khỏi cơn bạo b/ệnh. Đỗ lão trượng ôm số bạc nhuốm m/áu người ch** trở về bến đò, phát đi/ên phát dại suốt một tháng ròng! Chính ông ấy đã nửa đêm mò lên gò mả này, đ/ập nát cánh cửa lều của lão, quỳ sụp xuống đất mà đ/ấm ngựk khóc ròng trong cơn mê sảng!"
Lão Khảm đưa bàn tay r/un r/ẩy sờ soạng trên vách nứa, lôi ra một mảnh vải điều đã mục nát, bên trong gói một chiếc dùi sắt rỉ sét đã cùn mòn:
"Sau đêm ấy, lão tự tay dùng chiếc dùi sắt này chọc m/ù hai mắt mình để tạ tội với trời đất, tự thề suốt đời ăn cơm mả, không bao giờ bước chân xuống bến sông nữa. Còn cha chú... ông ấy lấy mười lượng bạc ấy đúc thành chiếc chuông đồng treo trước mũi thuyền nan, rồi cầm con d/ao gọt vầu rạ/ch vết vạch đầu tiên lên báng sào lim!"
Từng lời, từng chữ của lão Khảm như những nhát búa bổ thẳng vào lồng ngựk Đỗ Lương.
"Chiếc sào lim chín mươi tám vết vạch..." Lão Khảm thở hắt ra một hơi dài đầy cay đắng. "Mỗi một cái x/ác vớt lên không phải để ki/ếm tiền cơm áo, mà là để chuộc lại món n/ợ m/áu năm xưa! Đỗ lão trượng từng thề trước vo/ng linh dưới đáy nước: họ Đỗ đời đời phải ngụp lặn cõi âm ti sông Lương, vớt đủ chín mươi chín x/ác ch*t trôi vô thừa nhận để rửa sạch vết nhơ mười lượng bạc dìm người! Cái x/ác thứ chín mươi chín ấy... chính là mẹ con nàng Liên trở về đòi n/ợ m/áu!"
Bàn tay Đỗ Lương từ từ buông lỏng khỏi vai lão Khảm. Chàng lảo đảo lùi lại một bước, ngồi thụp xuống đống rơm khô.
Hình ảnh người cha già nua quanh năm lầm lũi với tấm áo nâu sồng rá/ch vai, đôi mắt trũng sâu luôn đăm đăm nhìn ra dòng nước đỏ ngầu mỗi độ mưa ngâu lại hiện về chập chờn trước mắt chàng. Những đêm đông giá buốt, cha chàng thường ngồi ôm báng sào lim bên bếp lửa tàn, vừa chuốt từng vết khía vừa lầm rầm tụng câu kinh sám hối trong tiếng nấc nghẹn ngào. Khi ấy, Lương chỉ nghĩ cha thương xót cho những phận người bạc mệnh trôi sông lạc chợ.
Ai ngờ... đằng sau chín mươi tám vết vạch ấy là cả một vực sâu tội á/c dơ bẩn của gia tộc họ Đỗ!
Món n/ợ truyền kiếp mà chàng gánh vác bấy lâu nay trên lưng... hóa ra không phải là ân đức c/ứu người, mà là một bản án chuộc tội đẫm m/áu mà người cha đã trút xuống đôi vai chàng!
Gió bấc lại thốc qua khe liếp, thổi tạt ngọn lửa đèn dầu vừng leo lét. Khói ngải c/ứu xông lên cay nồng, xộc thẳng vào cuống họng khiến Lương nghẹn ứ, một vị đắng ngắt trào lên tận khóe môi.
"Đỗ Lương..." Giọng lão Khảm bỗng chùng xuống, thì thào như hơi thở của kẻ sắp lâm chung. "Mẹ con nàng Liên đã nổi lên rồi. Oán khí hai mươi năm bị nén ch/ặt dưới cối đ/á bùa tà nay bung ra, không một thứ phép thuật hay sào lim nào trấn áp nổi đâu. M/áu mắt nàng ấy đã rỉ ra bãi cát bến đò, nghĩa là nàng ấy đòi n/ợ cả hai nhà: họ Trịnh phải đền mạng, và họ Đỗ... phải trả lại sự thật cho cõi trần."
Lương siết ch/ặt mắt xích sắt trong lòng bàn tay. Cạnh sắt sắc nhọn cứa rá/ch da th!t chàng, m/áu tươi ứa ra, hòa lẫn vào lớp rỉ sét màu đỏ quạch. Vị tanh tưởi của kim loại và nỗi đ/au thể x/ác kéo gi/ật chàng trở về với thực tại nghiệt ngã.
Chàng không nói thêm một lời nào. Lương đứng dậy, nhét mẩu sáp ong cùng mắt xích sắt vào lại ruột tượng, rồi xoay người bước nhanh ra khỏi căn lều rá/ch nát.
Bên ngoài, sương muối phủ trắng xóa các gò mả hoang vu đầu làng. Đêm tối đen đặc như một vũng mực khổng lồ trùm lên vạn vật. Phía bến đò xa xăm, nơi doi cát bãi tha m/a, một ngọn lửa bão vàng vọt của Thục vẫn đang đơn đ/ộc chập chờn chống chọi với những cơn gió lạnh thốc lên từ đáy sông Lương. Chàng bước đi trên con đường mòn ngập tràn gai góc, lồng ngựk thắt lại trong một cơn đ/au đớn dữ dội mà suốt hai mươi năm cuộc đời chàng chưa từng nếm trải.