Bát gạo cắm hương gừng
Tiếng mõ cầm canh từ điếm tuần đầu làng Đông Cổ gióng sang bến sông, ba tiếng ngắn một tiếng dài, rơi tõm vào màn sương đùng đục đặc quánh như cháo kê.
Tiết tháng Bảy ngâu rả rích. Gió heo may luồn qua kẽ liếp nứa của căn chòi mép nước, mang theo mùi tanh nồng của bùn non phù sa dồn từ thượng nguồn về, quyện lấy mùi khói mùn c/ưa và trầu th/uốc cay hắc.
Đỗ Lương ngồi xếp bằng trên tấm phản gỗ mộc mục lồi lõm vết d/ao khía. Ngón tay trỏ chai sần của chàng lướt chậm rãi qua thân cây sào gỗ lim dựng góc vách. Thân sào bóng nhẫy nước thời gian, dài hơn sải tay người lớn, đoạn ngọn bọc đầu đồng hoen gỉ, dọc thân khắc chằng chịt chín mươi tám vết vạch nông sâu. Mỗi vết vạch là một hình nhân vớt lên từ lòng bùn sông Lương, được cha chàng bọc vải trắng đem lên bãi tha m/a trước lúc chàng kế nghiệp.
Chín mươi tám mạng. Chỉ thiếu một vạch nữa là tròn trăm mạng người theo lời trăn trối của cha.
Phía ngoài sông, mặt nước bỗng trồi lên một chuỗi bọt khí ùng ục, kéo theo tiếng vỗ bì bõm đ/ập vào chân cọc tiêu bến đò. Đó không phải tiếng cá quẫy đớp mồi trăng, cũng chẳng phải tiếng bèo tây trôi giạt va bờ. Âm thanh ấy nặng trịch, rề rà, kéo lê từng đợt như có vật gì bằng bao tải chứa bùn đang cọ sát dưới đáy bùn ngầm.
Lương đứng dậy, với lấy chiếc áo nâu sồng tơi tả vắt trên sào nứa khoác vội lên vai. Dây đai gai thắt ch/ặt ngang lưng giữ ống quần bó gọn gàng. Chàng thò tay rút que đóm, châm vào ngọn đèn dầu lạc trên vách rồi khêu ngọn bấc của chiếc đèn bão bằng đồng tây đã móp một góc. Ánh lửa vàng vọt lập lòe sau lớp kính bám khói bồ hóng, rọi rõ gương mặt g/ầy guộc, sống mũi gồ ghề và đôi mắt sâu hoắm của người thanh niên quanh năm ngụp lặn cõi nước lạnh.
Chàng bưng chiếc bát sành con đặt lên phản. Trong bát lưng lửng gạo nếp cái hoa vàng còn nguyên vỏ cám, ở giữa cắm một nhánh gừng già bẻ đôi, tứa nhựa cay nồng thơm lựng. đ/ốt ba que hương đen se bằng bột rễ bài nhang từ tay cô Thục c/âm b/án hàng mã ngoài ngã ba sông, chàng cắm nghiêng vào lòng bát gạo, đoạn lầm rầm khấn ba câu nôm cổ:
"Sống thác một dòng, h/ồn nương bóng đóm. N/ợ nần buông bỏ, thuận lối tìm về."
Mũi khói không bốc thẳng lên mái rạ mà uốn lượn sát mặt chiếu, chĩa thẳng ngọn khói biếc ra phía cửa chòi hướng về phía dòng sông.
Người ch** trôi tìm đến cửa.
Lương xách đèn bão, một tay cắp bát gạo cắm hương gừng, tay kia nắm ch/ặt cây sào lim bước xuống bờ dốc trơn tuột phù sa. Gió sông tạt qua làm mép vạt áo chàng phần phật đ/ập vào sườn. Chiếc thuyền nan trét nhựa chai nằm ngoan ngoãn buộc cạnh gốc đa c/ụt rễ phơi trắng hếu. Chàng gác bát gạo vững vàng trên mũi thuyền, đặt ngọn đèn bão sát mép ván trước, rồi dùng đầu sào lim ấn mạnh vào mô đất.
Con thuyền tách bờ, trôi êm ru vào bóng tối bàng bạc của sông Lương.
Nước sông tháng Bảy đỏ quạch, cuộn xiết những cuộng rơm khô và cành củi mục trôi về từ mạn ngược. Càng chèo xa bến đò bến Lương, tiếng chó sủa ran trong xóm dần chìm lấp, nhường chỗ cho tiếng nước réo rắt rợn ngời. Phía trước chừng hai tầm quăng chài là Vực Q/uỷ. Khúc sông này thắt lại giữa hai doi cát dựng đứng, ngầm dưới đáy có lòng hẻm đ/á tai mèo chọc ngược, mùa lũ năm nào cũng có người bỏ mạng vì nước xoáy lôi tuột vào hang ngầm.
X/ác người trôi sông có lệ: đàn ông úp mặt vì tính dương hướng đất, đàn bà ngửa lưng vì tính âm hướng trời; nổi sau ba ngày bảy đêm là x/ác thuận dòng. Gặp x/ác thuận, người vớt chỉ việc buông câu chùm hoặc quăng dây gai móc nhẹ vào gấu quần vạt áo rồi kéo xuôi dòng về bãi cát.
Khói hương đen trên mũi thuyền bỗng ngả rạp sang mé tả. Tàn lửa đỏ lừ nơi đầu que nhang lập lòe rồi bùng lên một tia sáng gắt. Ba nén hương rụng tàn xuống bát gạo sống, rơi xèo xèo như có nước thấm vào gốc nén.
Lương ghìm chắc mái chèo vầu, hạ trọng tâm người ngồi thấp xuống lòng thuyền. Chiếc thuyền nan chòng chành giữa hai luồng nước giao nhau, đáy thuyền gầm lên từng chập ken két gh/ê r/ợn vì đ/á ngầm cọ sát.
Giữa luồng xoáy Vực Q/uỷ sủi bọt trắng xóa, một vệt đen sẫm trôi lững lờ.
Lương nheo mắt nhìn qua làn sương mờ. Vệt đen ấy không trôi xuôi theo chiều con nước đang đổ ầm ầm về phía hạ lưu cửa biển, mà lừng lững rẽ sóng đi ngược lên.
T/.ử th/i ngược dòng.
Chân chàng ghìm ch/ặt tấm ván thuyền, da th!t nổi từng đợt gai ốc buốt lạnh. Trong nghề vớt x/ác, x/ác trôi ngược dòng là đại kỵ, báo hiệu cái ch** chứa uất ức thấu trời xanh, h/ồn phách bám riết lấy cặn bùn không chịu rời đi.
Chiếc thuyền trôi sát mép xoáy nước. Lương với tay nhấc củ gừng trong bát gạo ra, dùng răng cắn nát một mẩu nhỏ rồi nhai nhấm nháp vị cay gắt ran trong cuống họng. Chàng ngậm ngụm rư/ợu đế mang bên hông phun một làn sương rư/ợu mỏng qua ngọn đèn bão, quét ánh sáng đỏ au ra mặt nước đen ngòm.
Bóng đen đã dạt đến cách mũi thuyền chừng nửa sào.
Dưới vầng sáng chập chờn của bóng đèn kính ám khói, vật thể hiện rõ dần. Đó là một th* th/ể phủ trong lớp áo dài vải thô rá/ch tơi tả bị bùn sông nhuộm màu xám xịt. Nhưng t/.ử th/i không hề trôi nằm ngửa như lệ thường của giống đàn bà ch** đuối.
Thân x/ác ấy đứng thẳng tưng giữa dòng nước xiết.
Hai vai người ch** nhô cao hơn mặt nước chừng nửa thước, phần thân dưới như bị neo ch/ặt bởi một sức nặng vô hình dưới đáy vực sâu. Mái tóc đen dài trôi dập dềnh bồng bềnh phủ kín toàn bộ khuôn mặt, rủ xuống tận eo, đen nhánh mượt mà một cách quái đản giữa dòng bùn ngầu đục phù sa.
Gió bấc đột ngột quẩn lại trong lòng vực, mang theo luồng tử khí lạnh ngắt như hơi thở phả ra từ hầm m/ộ bỏ hoang lâu năm.
Lương nắm ch/ặt thân sào gỗ lim, niệm thầm câu chú hộ thân mà cha chàng từng khắc vào đáy óc từ thuở mười lăm. Chàng giơ đầu bọc đồng của cây sào ra, nhắm vào khoảng cách an toàn cạnh bả vai x/ác ch*t định lựa thế đẩy nhẹ cho th* th/ể xoay hướng xuôi vào lạch cạn. Theo phép cha dạy, không được chọc mũi sào thẳng vào ngựk hay mặt người khuất mày khuất mặt kẻo phạm oán.
Mũi sào lim vừa chạm nhẹ vào mảng áo ướt sũng của t/.ử th/i thì một luồng lực kéo gh/ê g/ớm từ dưới lòng sông gi/ật mạnh xuống.
Cây sào run lên bần bật trong lòng bàn tay chai cứng của Lương. Mái tóc đen dài của cái x/ác bung xòe ra trên mặt nước, quấn ch/ặt lấy đầu bịt đồng, từng sợi tóc nhẫy nước trườn ngược lên thân gỗ lim đen bóng, siết ch/ặt như những búi rễ si bám đ/á.
Lực kéo nghiêng hẳn mạn thuyền nan. Nước sông Lương bắt đầu tràn qua mép ván, róc rá/ch chảy vào chân trần của Lương buốt nhói.
"Hỡi vo/ng h/ồn! Ta đến vớt người về đất lành, không tranh cơm cư/ớp áo, không đoạt bạc cư/ớp vàng!" Lương trầm giọng quát lớn, âm vang chìm hẳn vào tiếng gầm gào của dòng nước lũ. "Mau buông sào cho thuyền quay mũi!"
Lời khấn vừa dứt, đầu t/.ử th/i từ từ ngửa ra sau. Lớp tóc ướt sũng dạt sang hai bên bờ vai g/ầy, để lộ gương mặt phụ nữ trắng bệch, nhẵn nhụi không hề có dấu vết sình phù của kẻ ngâm nước lâu ngày. Đôi mắt nàng ta nhắm nghiền, khóe miệng rỉ ra một vệt bùn đen sẫm.
Dưới làn nước xiết ngập đến ngựk t/.ử th/i, một cánh tay thâm tím, khẳng khiu trồi lên khỏi mặt sóng.
Những ngón tay dài ngoẵng nhợt nhạt vươn thẳng tới be thuyền nan của Đỗ Lương.
Từng đầu ngón tay g/ầy trơ xươ/ng gõ mạnh lên thớ gỗ mạn thuyền:
Cắc. Cắc. Cắc.
Ba tiếng gõ khô khốc vang lên giữa đêm khuya thanh vắng, buốt lạnh thấu tận tủy xươ/ng chàng trai chèo đò. Đèn bão trên mũi thuyền lóe lên một đốm lửa xanh lè rồi lụi dần trong bóng tối ngột ngạt. Khúc Vực Q/uỷ chỉ còn lại tiếng nước gầm và hơi thở lạnh buốt bốc lên từ mớ tóc dài đang cuốn ch/ặt lấy mũi sào lim.