Tay Lâm Phương dừng lại một chút, rồi lại tiếp tục nhào bột. Cô ấy biết rõ những chuyện nhà dì, cũng như tôi, lần nào cũng phải nhịn. Cô ấy là người phụ nữ hiền lành, mười lăm năm chung sống chưa mấy khi to tiếng với tôi, những việc quá đáng của dì cũng chẳng bao giờ lên tiếng. Nhưng lần này, động tác nhào bột của cô rõ ràng dùng lực hơn lúc trước.
“Phúng bao nhiêu?” Cô hỏi.
“Đại biểu nói mọi người góp phúng điếu, em nghĩ khoảng 2.000 là vừa.”
Lâm Phương không nói gì, đặt cục bột đã nhào lên thớt, dùng cây cán bột lăn từng nhịp. Tiếng cán bột lăn trên mặt bột vang lên đặc biệt rõ trong căn bếp yên ắng.
“2.000 thì 2.000 vậy,” cuối cùng cô cũng lên tiếng, “dì đã 88 tuổi rồi, chẳng còn mấy lần nữa đâu.”
Tôi im lặng. Tôi biết cô ấy đang nghĩ gì. Tháng trước chúng tôi vừa đóng 1.800 tiền học thêm cho con, tháng này mới trả 3.600 tiền v/ay nhà, bảo hiểm xe tháng sau hết hạn lại mất hơn 2.000 nữa. 2.000 đồng với chúng tôi là phải vắt từ kẽ răng ra, nhưng trong mắt những người nhà dì, có khi chỉ là một bữa ăn.
Tiệc thọ được tổ chức vào ngày 18 tháng 11, bắt đầu từ thứ Sáu, kéo dài ba ngày. Tôi xin nghỉ ba ngày, sếp tuy không vui nhưng cũng không nói gì. Tôi làm ở công ty vận chuyển tám năm nay, chưa từng xin nghỉ dài như vậy, thỉnh thoảng xin một lần sếp cũng khó lòng không đồng ý.
Tối 17, Lâm Phương giúp tôi là phẳng quần áo - một chiếc áo khoác màu chàm đã mặc ba năm, cổ áo hơi bạc màu nhưng vẫn sạch sẽ. Cô gấp gọn vào vali, nhét thêm hai đôi tất, một hộp th/uốc dạ dày.
“Anh dạ dày không tốt, đừng uống rư/ợu.” Cô dặn dò.
“Anh biết rồi.”
“Nếu dì bảo anh đóng tiền, cứ nói là không mang đủ.”
Tôi cười: “dì còn bắt anh đóng tiền nữa sao? Bà ấy là thọ tinh, chúng ta đến chúc thọ mà.”
Lâm Phương liếc nhìn tôi, trong ánh mắt ấy có ý “anh vẫn quá ngây thơ”, nhưng cô không nói ra. Cô kéo khóa vali, đặt ở cửa, quay vào đắp chăn cho con.
Sáng 18, tôi lái xe hơn hai tiếng tới huyện. Khách sạn Kim Đô nằm trên con phố sầm uất nhất, trước cửa treo băng rôn đỏ chói: “Nhiệt liệt chúc mừng thượng thọ bà Vương Quế Lan 88 tuổi”, đứng từ xa đã thấy rõ. Trước khách sạn đỗ kín xe, Audi, BMW, Mercedes, chiếc nào cũng bóng loáng sang trọng. Chiếc Hyundai cũ kỹ của tôi kẹt giữa đám, như một người họ hàng nghèo lạc vào yến tiệc quý tộc, nhìn sao cũng thấy chướng mắt.
Đại sảnh khách sạn bày bàn check-in phủ khăn nhung đỏ, trên bàn đặt một cuốn sổ lễ lớn màu đỏ cùng chồng phong bì. Hai nữ lễ tân mặc sườn xám đứng sau quầy, nở nụ cười tươi rói, thấy tôi bước tới đồng thanh: “Hoan nghênh quý khách, xin hỏi ngài là?”
“Tống Thành Viễn, cháu trai bà Vương Quế Lan.”
Nữ lễ tân lật danh sách trong tay, tìm thấy tên tôi, rồi ghi vào sổ lễ. Tôi rút từ túi chiếc phong bì 2.000 đồng, dày cộp, đưa cho họ. Lễ tân tiếp nhận, điểm lại số tiền, đăng ký vào sổ.
“Ngài Tống, chỗ ngồi của ngài ở tầng ba, sảnh Mẫu Đơn, bàn số 28.”
Tôi gật đầu, định bước vào thì phía sau vang lên tiếng giày cao gót gấp gáp. Quay lại nhìn, là biểu tỷ Vương Kiến Anh, mặc áo khoác len đỏ chói, quàng khăn lông chồn xám trắng, tay xách chiếc túi to gần bằng vali tôi, hối hả bước tới.
“Thành Viễn!” Thấy tôi, cô ta hét to như gọi người bên kia đồi, “Cậu đến rồi à? Phúng bao nhiêu?”
Tôi sửng sốt vì câu hỏi, chuyện phúng điếu làm gì có chuyện hỏi thẳng mặt thế?
“2.000.” Tôi đáp.
Trên mặt Vương Kiến Anh thoáng hiện biểu cảm khó nắm bắt - không phải kh/inh thường, cũng chẳng ngạc nhiên, mà là vẻ “quả nhiên như thế” đã đoán trước. Cô ta vỗ vai tôi - hình như nhà họ đều thích vỗ vai người khác - “Không sao không sao, có tấm lòng là được.”
Cô ta quay sang bàn check-in, rút từ túi ra một phong bì căng phồng đặt lên bàn, tiếng phong bì rơi xuống đục và nặng nề như cục gạch đ/ập vào chăn bông. Lễ tân mở phong bì, xấp tiền trăm mới cứng, dây buộc chưa tháo, xem ra vừa rút từ ngân hàng.
“Vương Kiến Anh, 20.000.”
Hai mươi ngàn. Hai ngàn của tôi trở thành trò cười trước mặt cô ta.
Tôi đứng bên cạnh, nét mặt không đổi nhưng trong lòng dậy sóng. Không phải vì cô ta phúng nhiều tôi phúng ít, mà vì sự so bì trắng trợn này khiến tôi buồn nôn. Tiệc thọ của dì, đáng lẽ phải là dịp mọi người vui vẻ chúc thọ cụ già, sao lại biến thành đấu trường khoe của?
Tôi lên tầng ba, tìm sảnh Mẫu Đơn, đẩy cửa bước vào. Đại sảnh rộng mênh mông, kê hơn ba mươi bàn, mỗi bàn trải khăn vàng, bày hoa tươi cùng bộ đồ ăn tinh xảo. Phông nền sân khấu là màn hình LED khổng lồ chiếu ảnh dì - thời trẻ, trung niên, tuổi già - kèm nhạc Happy Birthday phát vang khiến tai ù đi.
Bàn 28 ở góc xa nhất, cạnh nhà vệ sinh. Tôi ngồi xuống, nhìn quanh, người đến dự tôi đều không quen, có lẽ là họ hàng xa hoặc bạn bè bên dì. Các chỗ ngồi xung quanh dần lấp đầy, mọi người giới thiệu lẫn nhau, toàn họ hàng xa lắc xa lơ, vài câu xã giao rồi im bặt.
Tiệc thọ bắt đầu đúng giờ. dì được hai đại biểu dìu lên sân khấu, mặc sườn xám đỏ sẫm, tóc uốn lọn nhỏ, đ/á/nh son, đeo bông tai vàng lấp lánh, hai ngón tay đeo nhẫn vàng, cả người lộng lẫy như một lão Phật gia. Bà đứng trên sân khấu, cầm mic giọng vang khó tin ở tuổi 88: “Cảm ơn mọi người đến dự tiệc thọ của tôi! Hôm nay mọi người ăn ngon uống say, không say không về!”
Tiếng vỗ tay vang dội. Đại biểu Vương Kiến Quốc thay mặt gia quyến phát biểu, dông dài mười mấy phút, từ thuở mẹ ông khổ cực kể đến nay hưởng phúc, từ cách mẹ dạy ba anh em đến việc nuôi cháu trưởng thành. Đến cuối chính ông cũng nghẹn ngào, dưới khán đài có người lau nước mắt.
Tôi ngồi trong góc, nghe những lời ấy nhưng đầu óc lại nghĩ về mẹ mình. Khi mẹ tôi còn sống, dì chưa bao giờ cúi đầu trước bà, chưa từng nói một câu “em gái khổ rồi”. Mẹ tôi mất, dì khóc một trận trong tang lễ, lau nước mắt xong liền nói với họ hàng bên cạnh: “Em gái tôi số phận hẩm hiu, lấy phải nhà nghèo, cả đời chẳng hưởng được phúc.”
Câu nói ấy tôi nhớ suốt mười bảy năm.
Tiệc thọ đãi toàn sơn hào hải vị: tôm hùm, bào ngư, hải sâm, cá mú, từng món dâng lên như tác phẩm nghệ thuật, giá mỗi món đủ cho gia đình tôi ăn mấy ngày. Tôi không mấy hứng thú, ăn vài miếng, uống vài ly nước. Người xung quanh chén chú chén anh ồn ào, riêng tôi lặng lẽ ăn như kẻ ngoài cuộc.
Hôm đầu tiên tan tiệc đã khuya. dì đứng trước cửa khách sạn tiễn khách, cười tươi như hoa. Tôi bước đến chào từ biệt, bà nắm tay tôi, ngắm nghía một hồi, buông câu khiến toàn thân tôi khó chịu: “Thành Viễn, g/ầy đi rồi, không nỡ ăn à?”
“Dạ cháu khỏe ạ.”
“Mẹ cháu mất sớm, không ai chăm sóc, khổ thân.” Bà vỗ vỗ mu bàn tay tôi, động tác y hệt Vương Kiến Quốc, lực đạo vừa đủ để người ta cảm nhận sự hiện diện của bà.
Tôi không đáp, mỉm cười, quay người đi.
Ngày thứ hai, thứ ba, tiệc thọ tiếp diễn. Quy mô ngày hai còn lớn hơn, nhiều người hơn, món ăn đắt đỏ hơn. Tôi nghe nói dì mời đoàn hát tỉnh về diễn hí kịch cả buổi chiều, riêng suất đó đã tốn 80.000. Ngày thứ ba là cao trào, con cháu dì lần lượt lên sân khấu dâng lễ vật. Đại biểu tặng đôi vòng vàng, nhị biểu tặng bức thư họa danh gia, biểu tỷ dâng tượng Phật ngọc, món nào cũng giá trị khủng. Đến lượt tôi, tôi lên sân khấu cúi chào dì, nói câu “Chúc dì khỏe mạnh trường thọ”, dì cười gật đầu, nụ cười ấy thoáng ý “chỉ có thế?”.
Ba ngày tiệc thọ cuối cùng cũng kết thúc. Tôi thở phào nhẹ nhõm, thu dọn đồ đạc chuẩn bị về. Bước xuống đại sảnh, thấy đại biểu Vương Kiến Quốc đứng ở quầy lễ tân, tay cầm xấp hóa đơn đang nói chuyện với quản lý khách sạn. Vẻ mặt ông ta không vui, chau mày, mím ch/ặt môi.
Tôi định lảng đi không chào hỏi. Nhưng vừa bước đến cửa, ông ta đã gọi gi/ật lại.
“Thành Viễn, cậu đợi đã.”
Tôi dừng bước, ngoảnh lại.
Vương Kiến Quốc bước tới, tay lắc lắc xấp hóa đơn trước mặt tôi. Trên mặt ông ta hiện lên biểu cảm kỳ lạ - không gi/ận dữ, không ngượng ngùng, mà là vẻ “chuyện này cậu không thoát được” đầy quả quyết.
“Thành Viễn, tiệc thọ chưa thanh toán,” ông ta nói, giọng không to nhưng rành rọt từng chữ, “tổng cộng 880.000, mấy đứa cháu chia đều, cậu góp 220.000.”
Đầu tôi ù đi.
Hai trăm hai mươi ngàn?
Tôi tưởng mình nghe nhầm, nhìn ông ta chờ câu tiếp theo. Nhưng ông ta không nói thêm, chỉ nhìn tôi, tay lắc lắc xấp hóa đơn như chờ tôi rút ví.
“Đại biểu, anh nói gì cơ?” Tôi hỏi.
“Tiệc thọ tổng 880.000, bốn nhà chia đều, mỗi nhà 220.000,” ông ta nhắc lại, giọng điệu bình thản như nói chuyện thời tiết, “Tiệc thọ của dì mà, con cháu góp tiền là đúng. Anh, Kiến Quân, Kiến Anh, thêm cậu, vừa đủ bốn nhà.”
Tôi nhìn ông ta, nhìn chằm chằm mấy giây. Rồi tôi bật cười.
Không phải nụ cười vui vẻ, mà là kiểu cười vì tức đến phát đi/ên. Kiểu cười khi bạn nhẫn nhịn, nhẫn nhịn mãi, đến lúc không thể nhịn được nữa, phải bật ra từ cổ họng.
“Đại biểu,” tôi nói, “Tiệc này anh bày ra đúng không? Khách sạn này anh đặt đúng không? Món ăn này anh chọn đúng không? Đoàn hát này anh mời đúng không? Từ đầu đến cuối, anh có hỏi qua tôi một câu không? Có bàn bạc với tôi một tiếng nào không?”