Mẹ chồng tôi lảo đảo bước ra khỏi quán cà phê, dáng vẻ cao ngạo thường ngày nay đã bị thay thế bởi một sự rệu rã đến thảm hại. Vừa bước đi, bà vừa r/un r/ẩy nói vào chiếc điện thoại đang sáng rực màn hình, thanh âm nghẹn lại trong cổ họng: “Mẹ đã cố hết sức rồi... A Trầm, con từ bỏ đi thôi.”
Đêm hôm đó, giữa sự tĩnh lặng đến tột cùng của thị trấn nhỏ, tiếng chuông điện thoại từ Phó Trầm vang lên như một tiếng nấc c/ụt giữa không trung. Ngay khi tôi vừa nhấc máy, giọng nói trầm đục, mang theo hơi thở dồn dập của anh ta đã vọng đến:
“Tô Cẩn Khê... Hình như, anh đã thực sự yêu em rồi.”
Tôi im lặng, một sự im lặng đến lạnh người. Trái tim tôi giờ đây giống như một mặt hồ đã đóng băng vĩnh cửu, chẳng còn lấy một gợn sóng trước lời thú nhận muộn màng ấy.
“Dù em có tin hay không, nhưng đó là sự thật. Anh thực sự đã yêu em.” – Anh ta khẩn thiết lặp lại.
Nghe những lời ấy, tôi chỉ thấy nực cười cho một kiếp người. Nhớ lại ngày mới kết hôn, chính người đàn ông này đã dùng tông giọng lạnh băng, tà/n nh/ẫn ấy để đóng đinh cuộc đời tôi bằng một lời cảnh báo: “Anh sẽ không bao giờ yêu em, thế nên tốt nhất là em cũng đừng bao giờ mơ mộng mà trao trái tim cho anh.”
Ngày đó, hôn lễ của chúng tôi diễn ra sơ sài đến mức đáng thương, chỉ như một thủ tục cần hoàn tất cho xong chuyện. Thậm chí, ngay cả khoảnh khắc thiêng liêng nhất là đeo nhẫn cho tôi, ánh mắt anh cũng chẳng hề đặt nơi gương mặt vợ mình. Anh lơ đãng nhìn về phía góc tối của sân khấu — nơi mà An Thiền Nguyệt vừa lướt qua. Kể cả khi trên giường, trong những giây phút mặn nồng danh nghĩa, anh chưa bao giờ đủ can đảm để nhìn thẳng vào mặt tôi, cũng tuyệt nhiên không một lần hôn lên môi tôi. Anh đang khao khát hình bóng của ai, đang tưởng tượng ra gương mặt của kẻ nào, tôi đều thấu hiểu rõ đến từng chân tơ kẽ tóc.
Tôi khẽ nhếch môi, giọng điệu bình thản đến cực điểm:
“Phó Trầm, chẳng qua là anh chưa quen với việc mất đi một món đồ luôn hiện diện bên cạnh thôi. Hãy nhìn cho rõ lòng mình đi, đừng nhầm lẫn giữa sự hụt hẫng và tình yêu.”
“Anh nhìn rõ rồi... Thật sự rõ rồi...” – Giọng anh run lên.
Phải, tôi đã từng yêu Phó Trầm, yêu đến mức tôn thờ. Năm mười sáu tuổi, nếu không có bàn tay tài trợ của anh, một đứa trẻ mồ côi như tôi làm sao có đủ tiền để được đến trường, được thấy ánh sáng của tri thức? Năm mười tám tuổi, trong một lần gặp rắc rối tế nhị của con gái và bị kẹt lại trong nhà vệ sinh, tôi đã tuyệt vọng đăng tin cầu c/ứu lên mạng xã hội. Khi bước ra ngoài, đúng lúc thấy chiếc xe sang trọng của anh lướt ngang qua, tôi đã lầm tưởng đó là định mệnh.
Tôi cứ ngỡ mình đã che giấu tình cảm đơn phương vụng dại ấy rất tốt, nào ngờ lại bị chính lời cầu hôn đột ngột và lạnh lẽo của anh làm cho tan rã mọi phòng bị, khiến tôi dại dột đ/âm đầu vào nấm mồ hào môn. Khoảnh khắc phát hiện ra tấm ảnh người con gái khác trong ví anh, tôi đã từng khóc đến mức ch*t đi sống lại, để rồi lại m/ù quá/ng đặt hết hy vọng vào Phó Dự An. Tôi từng tin rằng đứa trẻ ấy sẽ là sợi dây liên kết duy nhất, là lý do cuối cùng để tôi tiếp tục kiên trì ở lại ngôi nhà đó. Thế nhưng cuối cùng, chính nó cũng đã chọn cách quay lưng, chọn rời xa và làm tổn thương tôi.
Có lẽ, sau bao năm tháng chung sống như một bóng m/a, Phó Trầm thực sự đã nảy sinh một chút tình cảm chiếm hữu đối với tôi. Nhưng tôi sẽ không bao giờ, tuyệt đối không bao giờ quay trở lại cái vực sâu hun hút đó thêm một lần nào nữa. Bức tường mà tôi đã từng đ/âm đầu vào đến chảy m/áu đầu, nát con tim ấy — nếu tôi còn đ/âm vào lần thứ hai, đó không còn là chung thủy, mà là ng/u ngốc đến hèn hạ.
Tình cảm anh ta dành cho tôi là thật hay giả, giờ đây không còn quan trọng nữa. Những vết s/ẹo, những tổn thương và sự kh/inh khi bấy lâu nay đều đã thành hình, đã ăn sâu vào cốt tủy.
Tôi thở hắt ra một hơi, thanh thản buông lời đoạn tuyệt cuối cùng:
“Phó Trầm, đường đời dài rộng mênh mông, mong rằng từ nay về sau mỗi người chúng ta đều biết cách trân quý phần đời còn lại của chính mình. Đừng tìm tôi nữa, vì trong lòng anh, có quá nhiều thứ quan trọng hơn tôi.”