Năm ta hai mươi ba tuổi, Hộ bộ Thượng thư cáo lão về quê.
Ba năm trước, việc thanh tra hộ tịch ở bảy châu đã đi vào hồi kết, ta được điều vào Hộ bộ, ban đầu quản lý hộ tịch, sau đó tiếp quản thêm điền phú.
Những cuốn sổ sách qua tay ta trải dài từ bảy châu thành mười mấy châu, bản thân ta cũng từ chiếc bàn nhỏ trong căn phòng phía sau, từng bước chuyển đến trước cửa chính đường.
Mùa thu năm ấy, triều đình tranh cãi suốt bảy ngày về người kế nhiệm Thượng thư.
Ngày thứ tám, thánh chỉ gửi đến Hộ bộ: Ninh Chiêu, thăng nhậm Hộ bộ Thượng thư.
Ngày tiếp nhận ấn tín, trời vừa hửng sáng.
Ta chuyển từ phòng làm việc cũ sang chính đường, trên bàn đã chất đầy hộ sách, điền sách và số liệu lương thu mùa thu mới gửi đến từ các châu.
Cuốn trên cùng đến từ Nhạn Hồi Quan.
Ta lật trang đầu tiên, những địa danh quen thuộc đ/ập vào mắt.
Năm mười ba tuổi, ta còn đang ở lều c/ứu tế giúp Hà thư lại ghi chép số cháo, góc bàn bị mẻ một miếng, trong tay chỉ có nửa mẩu than.
Giờ đây, cuốn sổ này đã được gửi tận kinh thành, đặt trên bàn làm việc của ta.
Ta vừa lật qua hai trang, ngoài cửa đã có người bước vào.
Thôi Cảnh Hành đặt một công văn của Ngự sử đài trước mặt ta: "Mấy trang điền ở Hà Đông, xin viện dẫn lệ cũ để miễn tra xét."
Ta mở ra xem qua một lượt.
Phía sau tấu chương đã đóng dấu hai chữ "Bác bỏ".
Ta đọc từ đầu đến cuối: "Mấy nhà ở Hà Đông đều bị bác bỏ cả sao?"
"Đều bị bác bỏ." Thôi Cảnh Hành đáp: "Trang điền chiếu theo quy định mà tra, không mở lệ khác."
Ta ngước nhìn hắn.
Ba năm trước, một trăm hai mươi sáu hộ của Thanh Hà Thôi thị cũng bắt đầu từ mấy trang điền sách như thế này.
Thôi Cảnh Hành không né tránh ánh mắt ta: "Chuyện như thế này, sẽ không có lần thứ hai."
Ta khép công văn lại, đẩy về phía hắn: "Ta biết rồi."
Hắn thu công văn, không nói thêm về chuyện cũ năm xưa nữa.
Lúc sắp ra cửa, hắn mới hỏi: "Ngày mai đi Nhạn Hồi Quan sao?"
"Ừ."
"Bia m/ộ của Hà thư lại, năm kia đã dựng xong rồi."
Ta nhìn hắn, hắn nói: "Ta vẫn luôn n/ợ lão một tấm bia."
Ta không nói gì.
Thôi Cảnh Hành thu công văn vào tay áo, lại nói: "Thay ta đến thăm lão ấy một chút."
Ta gật đầu, lúc này hắn mới xoay người đi ra.
Ngày hôm sau ta liền xuất thành.
Nhạn Hồi Quan cũ kỹ hơn trước một chút, tường thành đã được tu sửa lại, vùng đất hoang ngoài cửa đông đã mọc lên không ít bia m/ộ.
Thẩm Lan Nương hai năm trước đã đến đây, bà lập cho con gái một tấm bia bên cạnh nghĩa trang: M/ộ của Hứa Tri Vi người Bình Châu.
Ta đứng trước bia một lúc, đặt tấm quan thiếp cũ đã lưu giữ bao năm xuống.
Giấy đã ố vàng, mép giấy chỉ cần chạm nhẹ là vỡ vụn, gió thổi qua một hồi, ta lấy đ/á đ/è lên.
Lúc xuống núi, cửa thành vừa vặn bị vài người chặn lại.
Một cô gái mười bốn mười lăm tuổi đeo tay nải rá/ch, bị lính canh chặn lại trước bàn: "Quê quán ở đâu?"
"Thanh Châu."
"Hộ thiếp đâu?"
Cô gái lắc đầu: "Lúc chạy nạn làm mất rồi."
Bên cạnh lính canh ngồi một viên thư lại, không hề đuổi người đi.
Hắn lật ra một tờ giấy trắng: "Có người đồng hương không?"
Cô gái nhìn ra phía sau.
Trong đám đông, một ông lão giơ tay: "Ta nhận ra nó, chúng ta cùng một thôn."
Thư lại lại hỏi tên thôn, tên cha mẹ, rồi bảo người đi lục sổ lưu dân vừa gửi đến hôm kia.
Chẳng bao lâu sau, có người ôm sổ chạy về: "Khớp rồi."
Thư lại cầm bút đăng ký.
Cô gái căng thẳng đứng trước bàn: "Con không còn cha mẹ nữa."
Thư lại không ngẩng đầu: "Biết rồi."
Hắn viết xong, đưa tấm gỗ bài mới qua: "Nữ hộ, một người."
Cô gái nhận lấy gỗ bài, cúi đầu nhìn đi nhìn lại.
Cửa thành mở ra, cô ôm ch/ặt tay nải, theo dòng người vào thành.