Tôi ngồi bật dậy trên giường, vô thức nhìn xuống chiếc vòng ngọc trên cổ tay.
Nó vẫn còn đó.
Nhưng đã chuyển sang màu xám trắng như hòn đ/á thường. Những vết nứt vẫn hiện rõ, nhưng làn khói trong khe đã biến mất. Trên mặt trong vòng ngọc, thoáng hiện một vết mờ.
Như một dòng chữ.
Tôi đưa vòng ngọc sát mắt, nheo mắt nhìn mãi.
“Mẹ mãi yêu con.”
Mũi tôi cay cay, nước mắt muốn trào ra.
Nhưng giờ không phải lúc khóc.
Tôi hít sâu, lau mắt rồi trèo xuống giường. Vệ sinh cá nhân, thay đồ, bỏ chiếc bật lửa bạc vào túi. Xong xuôi, tôi đứng trước chiếc giường trống, lại kéo ghế trèo lên nhìn.
Miếng vải đỏ vẫn còn đó.
Sợi chỉ vàng lấp lánh ánh sáng kỳ dị trong nắng sớm.
Tôi chụp lại ảnh rồi nhảy xuống, đeo ba lô rời phòng.
Thư viện cách ký túc khoảng 800m, đi qua khu vườn nhỏ và hồ nhân tạo. Ngày thường đường đông người qua lại, nhưng hôm nay là cuối tuần, 8 giờ sáng đường vắng tanh.
Vừa đi tôi vừa nghĩ.
Mẹ nói 'ba trận pháp' - cầu Trường Kiều một, ký túc một, thư viện một.
Cầu Trường Kiều nhờ mẹ nhắc nên tôi thoát được. Cái trong ký túc, mẹ bảo dùng bật lửa đ/ốt. Vậy cái trong thư viện sẽ là gì?
Nó giấu ở đâu?
Làm sao tôi tìm ra?
Những câu hỏi xoáy trong đầu cho đến khi tôi đứng trước cửa thư viện vẫn chưa có lời giải.
Thư viện mở cửa lúc 8:30 cuối tuần, tôi đến sớm năm phút.
Đã có bảy tám người xếp hàng chờ giành chỗ tự học - hội ôn thi cao học.
Tôi đứng cuối hàng, cúi đầu giả vờ xem điện thoại, thực ra không biết phải đối diện với thế giới này bằng khuôn mặt nào.
8:30, cửa mở.
Tôi theo đám đông vào, quẹt thẻ qua cổng, thẳng hướng lầu ba.
Thư viện trường tôi năm tầng. Một hai là khu mượn sách, ba bốn là khu tự học, năm là phòng lưu trữ cổ thư. Mọi người thường đến tầng ba bốn vì có chỗ ngồi cạnh cửa sổ, ánh sáng và view đẹp.
Nhưng tôi không định lên đó.
Tôi lên tầng năm.
Phòng cổ thư nằm sâu nhất tầng năm, quanh năm khóa cửa, chỉ được vào khi có đơn đặc biệt. Tôi chưa từng vào, nhưng biết nó tồn tại vì giáo viên hướng dẫn từng nhắc đến - nơi lưu giữ tài liệu dân gian thời Minh Thanh, bao gồm cả bản thảo bùa chú hiếm.
Bùa chú.
Tôi nghĩ đến miếng vải đỏ trên giường với những chữ ngoằn ngoèo. Hai thứ này trong đầu tôi tạo nên liên kết kỳ lạ.
Phải chăng... trận pháp trong thư viện giấu ở phòng đặc biệt này?
Nhưng tôi không vào được.
Không có đơn, không chìa khóa, thậm chí chưa từng thấy rõ cửa phòng.
Tôi đứng trong hành lang tầng năm, nhìn chằm chằm cánh cửa sắt đóng ch/ặt.
“Lâm Vy?”
Giọng nói sau lưng khiến tôi gi/ật mình quay lại.
Chu Dã đứng ở đầu cầu thang, tay cầm xấp tài liệu, ánh mắt kỳ quặc nhìn tôi.
“Học trưởng?” Tôi vô thức lùi một bước.
“Sao em ở đây? Tầng năm ít người lui tới lắm.” Anh ta cười bước lại gần, “Em cũng đến xem cổ thư?”
“Em... em đi dạo thôi.”
“Đi dạo mà lên tận tầng năm?” Nụ cười anh ta không đổi nhưng ánh mắt có thêm thứ gì đó khó hiểu, “Học muội, hôm nay em có chút kỳ quặc đấy.”
“Vậy sao?” Tôi gắng tỏ ra bình thường, “Còn học trưởng? Sao anh ở đây?”
“Giáo sư bảo anh vào phòng cổ thư tìm tài liệu.” Anh ta lắc chùm chìa khóa, “Đúng lúc, em có muốn vào xem cùng không? Trong này nhiều thứ thú vị lắm.”
Chìa khóa.
Anh ta có chìa khóa phòng cổ thư.
Tim tôi đ/ập thình thịch.
“Vâng ạ.” Tôi đáp.
Khi Chu Dã mở cửa sắt, mùi kỳ lạ xộc vào mũi - không phải mùi mốc sách cũ mà là thứ gì đó gắt hơn, như mùi ch/áy khét.
“Mùi gì thế ạ?” Tôi hỏi.
“À, mấy hôm trước sửa điện tầng năm, chắc ch/áy thứ gì đó.” Chu Dã đáp qua quýt, nhường lối cho tôi vào trước.
Bước vào phòng, cảm giác đầu tiên là lạnh.
Giữa tháng chín nóng ba mươi độ, nhưng phòng này lạnh như mùa đông. Luồng khí lạnh từ máy lạnh thổi thẳng vào cửa, nhiệt độ khoảng mười sáu mười bảy độ.
Phòng không rộng, chừng ba mươi mét vuông. Xung quanh là tủ sắt cao chạm trần chất đầy sách xưa ố vàng. Giữa phòng là bàn dài bày vài cuốn sách cùng đèn bàn. Sâu trong phòng, sát tường là thứ kỳ dị.
Đó là giá gỗ cao ngang người, hình dáng như... bệ thờ?
Đỉnh giá đặt chậu đồng đựng tro giấy ch/áy. Mỗi tầng giá bày những thứ không rõ công dụng - cây khô, xươ/ng động vật, lọ sứ nhỏ, và tấm gương đồng.
Tấm gương chĩa thẳng vào cửa.
Chĩa thẳng vào tôi.
Khi ánh mắt tôi chạm vào gương, bề mặt gương chợt hiện hình ảnh mờ. Đó là khuôn mặt phụ nữ trắng bệch, môi tím tái, mắt nhắm nghiền như đang ngủ.
Nhưng khóe miệng nâng lên.
Cô ta đang cười.
Dạ dày tôi cuộn lên, buồn nôn ập đến. Tôi cắn ch/ặt môi kìm nôn.
“Học muội, em sao thế? Mặt tái nhợt vậy?” Chu Dã đến bên cạnh, vỗ nhẹ vai tôi.
Bàn tay anh ta lạnh ngắt.
“Em không sao, chỉ hơi lạnh thôi.” Tôi né người tránh tay anh ta, “Học trưởng, cái giá kia là gì? Trông kỳ quá.”
“À, cái đó à.” Chu Dã liếc nhìn giá gỗ, giọng thản nhiên, “Giáo viên khoa Lịch sử để đấy, hình như phục vụ đề tài gì đó. Anh cũng không rõ.”
Anh ta đang nói dối.
Không ai để 'đồ dùng đề tài' trong phòng cổ thư. Những thứ trên giá - cây khô, xươ/ng động vật - làm gì giống nghiên c/ứu học thuật.
“Ra vậy.” Tôi gật đầu tỏ vẻ tin tưởng, “À mà học trưởng cần tìm tài liệu gì? Em giúp anh nhé?”
“Không cần đâu, anh tự tìm được. Em xem xung quanh đi, đừng động vào sách cổ nhé, dễ rá/ch lắm.”
Anh ta quay lưng về phía tủ sách cuối phòng, bắt đầu lục tìm.
Tôi đứng nguyên tại chỗ, mắt quét qua giá gỗ.
Chậu đồng, tro giấy, hoa khô, xươ/ng, lọ sứ, gương đồng.
Rốt cuộc đây là gì?
“Tấm gương.”
Giọng mẹ vang lên trong đầu, yếu ớt như làn khói.
“Đập vỡ tấm gương đồng.”
Tôi gi/ật mình nhìn tấm gương.
Nó chĩa thẳng vào tôi, khuôn mặt trên gương đã biến mất, thay vào đó là vực tối thăm thẳm đang xoáy tròn như muốn nuốt chửng mọi ánh sáng.
Làm sao đ/ập vỡ?