Quả nhiên, người đó vẫn còn sống. Trương Thành đưa hắn về nhà c/ứu chữa, nhưng khuôn mặt và thân thể kẻ kia mọc đầy mụn mủ gh/ê t/ởm, th!t rữa nát tan đến mức không nhận ra hình dạng. Mời hai lang y đến, chưa kịp bắt mạch, chỉ nhìn bệ/nh nhân đã lắc đầu bỏ đi, đều nói vô phương c/ứu chữa. Mấy người sau có bắt mạch rồi kê đơn, nào th/uốc sắc nào th/uốc bôi, nhưng mấy ngày sau tình trạng càng tệ hơn.
Mấy tên gia nhân x/ấu bụng khuyên Trương Thành: "Người này chỉ còn da bọc xươ/ng, thần y cũng hết cách, tốt nhất vứt ra hoang dã cho xong."
Trương Thành gi/ận run người, lắp bắp m/ắng: "C/ứu người phải c/ứu đến cùng! Hắn còn một hơi thở, ta cũng không bỏ!". Cụ sai con trai thứ dán bảng cáo thị khắp Giang Lăng, hứa thưởng mười lượng bạc cho ai chữa khỏi. Thời Minh sơ, mười lượng bạc đủ m/ua nhà nhỏ, dù nhà Trương giờ khá giả cũng là khoản lớn.
Trọng thưởng hạ anh hùng, nhiều lang y tới thử vận may. Nhưng năm ngày qua, bệ/nh tình không thuyên giảm, chẳng ai biết kẻ x/ấu số mắc chứng gì. Chuyện đồn khắp Giang Lăng: nhà họ Trương có bệ/nh nhân kỳ quái vô phương c/ứu chữa.
Trời tháng sáu như trẻ con khóc cười. Buổi trưa, mây đen vần vũ, mưa như trút nước. Trương Thành ngồi bên giường bệ/nh, mùi th/ối r/ữa xộc vào mũi khiến lòng cụ quặn đ/au. Người bệ/nh thở hắt ra, không còn hít vào. Bảy tám ngày không ăn uống, thần tiên cũng khó sống. Cụ thở dài định đi thu xếp hậu sự.
Vừa ra đến cửa, cháu nội Trương Văn Minh hớt hải chạy tới: "Cụ ơi! Có người đến chữa bệ/nh!"
Trương Thành mừng rỡ: "Mời vào ngay!"
Ai ngờ kẻ bước vào là gã rá/ch rưới lôi thôi, mặt đen chân thọt, áo dài vá chằng vá đụp, đội nón lá đeo tràng hạt, chẳng ra đạo sĩ cũng chẳng giống hòa thượng. Hắn chẳng chào hỏi, gằn giọng: "Rư/ợu đâu?"
Trương Thành ngờ vực gã là kẻ l/ừa đ/ảo, nhưng vốn tính nhân hậu nên sai cháu mang rư/ợu. Trương Văn Minh dâng bình rư/ợu nhỏ, gã nâng lên uống ực, chép miệng: "Ít thế này đã thấm vào đâu? Thêm nữa!"
Thấy hắn uống ngon lành, Trương Văn Minh - vốn tính hào sảng - sai gia nhân bê cả vò rư/ợu đến, còn tự tay xuống bếp thái th!t ngon đãi khách. Chàng vỗ vai gã đen: "Một mình uống chán lắm, ta cùng đ/á vài chén!"
Hai người chén chú chén anh, Trương Thành lắc đầu bỏ đi, sai người đi đặt qu/an t/ài.
Mưa mùa hạ tạnh nhanh như đến. Một khắc sau, trời quang mây tạnh. Trương Thành quay lại phòng khách, thấy ba vò rư/ợu cạn sạch, cháu nội say mèm gục trên bàn, gã đen đã biến mất. Cụ tự nhủ: "Chắc hắn thừa mưa đến trú nhờ, lừa mấy vò rư/ợu rồi chuồn." Đang định gọi người khiêng cháu về phòng, bỗng giường bệ/nh vọng ti/ếng r/ên: "Nước..."
Trương Thành quay lại, kinh hãi thấy người bệ/nh ướt đẫm mồ hôi, các nốt mủ vỡ toác, vô số con giòi trắng nhỏ lẫn trong mủ đen m/áu trắng chảy ròng ròng. Cụ hét lên gọi gia nhân.
Lúc này mọi người mới hiểu: gã đen kia chính là cao nhân c/ứu mạng!
Sau khi được rửa vết thương, cho ăn cháo loãng, người bệ/nh dần hồi phục. Lớp da th!t mục rữa bong ra, lộ dung mạo khiến Trương Thành kinh ngạc: "Chẳng phải đạo sĩ đ/ốt lửa ở Bạch Vân Quán đã mất tích sao?"
Hơn nửa tháng sau, đạo sĩ mới đủ sức nói chuyện, nhưng nhất quyết không tiết lộ nguyên nhân bị thương: "Chuyện đời nhiều điều các ngươi không cần biết." Nghe Trương Thành tả lại dáng vẻ ân nhân, đạo sĩ gật đầu: "Lão Phục Ngưu chân nhân núi Lao Sơn đấy. Hắn chẳng phục ai, chỉ phục trâu thôi!"
Hai người càng thân thiết, đạo sĩ mới tiết lộ đạo hiệu Phù Quân Tử, thuộc đệ tử cháu của Trương Tam Phong. Trương Thành càng kính nể.
Nhớ lời họa phúc tương tùy trước đây, Trương Thành khẩn khoản nhờ giúp. Phù Quân Tử thở dài: "Thôi được, số mệnh khó tránh, ta giúp nhà ngươi vinh hiển. Chỉ có điều phúc này quá lớn, e rằng họa về sau cũng tày trời, con cháu không gánh nổi."
Trương Thành quả quyết: "Chỉ cần tâm thành hướng thiện, họa phúc gì cũng đương đầu được."
Phù Quân Tử không khuyên thêm, chỉ dặn: "Ngươi phải lưu lại gia huấn, tuyệt đối không được ỷ phúc làm càn, bằng không đại họa khó lường."
Khi vết thương lành hẳn, Phù Quân Tử chọn ngày lành tháng tốt, tuyên bố làm phép ở chính đường để báo ơn. Trương Thành mừng rỡ chuẩn bị đủ thứ theo yêu cầu, đặc biệt m/ua một khối ngọc dê trắng thượng hạng. Phù Quân Tử nghiêm giọng dặn: "Hai điều tối kỵ: Một là ba ngày ta tác pháp, con cháu thấy vật lạ thì giả đi/ếc làm ngơ. Hai là không ai được vào chính đường, kể cả ngươi, nếu không hậu họa vô cùng."
Phù Quân Tử bắt đầu bày trận: thắp bốn mươi chín ngọn đèn trường minh, vẽ bùa chu sa khắp cột kèo cửa sổ, bắt Trương Văn Minh cháu viết kín giấy vàng danh hiệu "Bắc Cực Trấn Thiên Chân Vũ Huyền Thiên Thượng Đế Ngọc Hư Sư Tướng Kim Khuyết Hóa Thân Đãng M/a Vĩnh Trấn Chung Kiếp Tế Khổ Thiên Tôn". Sắp đặt xong, lão đuổi hết mọi người, ngồi kiết già giữa chính đường niệm chú.
Hai ngày đầu yên ắng. Đến tối ngày thứ ba, trời đang thu ấm áp bỗng trở gió lạnh, nhiệt độ tụt thảm hại, hơi thở phả ra thành sương. Trương Trấn run cầm cập báo: "Cả Giang Lăng đổ tuyết rồi!" Trương Thành ngước nhìn mái nhà, mặt tái mét: trên không trung hiện bóng người khổng lồ chân đạp rùa rắn, tay chỉ vào chính đường như quở trách điều gì. Dưới chân thánh nhân, vô số bóng m/a nửa người nửa ngợm lởn vởn bay lượn. Trương Trấn kinh h/ồn hét lên, ngất xỉu. Bóng thánh nhân liếc xuống, biến mất tức thì.
Khi Phù Quân Tử bước ra, Trương Thành gi/ật mình: lão già đi mười tuổi, tóc bạc phơ, da nhăn nheo, đồi mồi chi chít. Phù Quân Tử đưa cụ rùa ngọc trắng nhỏ, chỉ chỗ ch/ôn giữa chính đường. Đào sâu bảy thước bảy tấc, đặt rùa ngọc đầu hướng bắc đuôi hướng nam.
Xong việc, Phù Quân Tử nói: "Ta đ/ốt mười năm thọ mệnh đổi phú quý cho nhà ngươi. Tiếc thay con trai ngươi xúc phạm Chân Vũ Đại Đế, e không được ch*t lành." Trương Thành chưa kịp tạ ơn, lão đã biến mất như khói.
Ít ngày sau, Trương Văn Minh báo vợ là Triệu thị nằm mơ thấy lửa đỏ rực trời, mây lành cuộn bay, hoa lạ tỏa hương. Một tiên đồng trong ánh sáng chui lên từ đất, lượn quanh giường rồi chui vào bụng nàng. Trương Thành quỳ lạy phương bắc. Khi cháu sắp chào đời, Trương Trấn mơ thấy nước lụt tràn nhà, người hầu đáp: "Nước từ phủ Thiếu Bảo họ Trương chảy ra đó!". Năm sau, mùng ba tháng năm, chính Trương Thành mộng thấy trăng rơi vào vại nước, rùa trắng bò ra gọi cụ bằng cụ tổ. Hôm đó, Trương Bạch Khuê - tức Trương Cư Chính lừng danh - cất tiếng khóc chào đời.
Trương Bạch Khuê hai tuổi thuộc "Vương viết", năm tuổi biết chữ, bảy tuổi thông hiểu Lục Kinh, mười hai tuổi đỗ tú tài, mười sáu tuổi trúng cử nhân. Về sau chấn hưng triều Minh, kéo dài vận nước trăm năm. Nhưng đúng như Phù Quân Tử tiên đoán, khi Trương Cư Chính đỗ cử nhân, cha hắn là Trương Trấn ch*t vì tửu sát ở Liêu vương phủ.
Cụ cố tôi khẳng định: "Trương Cư Chính chính là yêu tinh rùa ngọc hóa thành đó!"