Tôi leo lên xe của anh.
Vết nứt trên kính chắn gió vẫn vẹn nguyên, chiếc gối tựa bên ghế phụ cũng y chang cái gối của năm nào.
Màu xanh xám nay đã bị giặt đến phai màu, đường chỉ may buột ra một mảng, được ai đó lấy chỉ đen vá víu lại những đường khâu xộc xệch.
Không phải do tôi khâu.
Tôi cũng không gặng hỏi ai là người đã khâu nó.
Anh chẳng đả động tới, tôi cũng chẳng để tâm hỏi han.
Xe chạy khỏi trạm dừng chân, hướng thẳng về phía Tây.
Sắc trời dần chuyển sang màu xanh ngắt.
Đường chân trời bị ánh ban mai rạ/ch ngang một đường nhỏ, ánh sáng vàng rực len lỏi tuôn trào dọc theo vết nứt nẻ ấy.
Một tay Chu Dã giữ vô lăng, tay còn lại đặt hờ trên cần gạt số.
Mười năm không chạm vào cần số của chiếc xe này, cảm giác quen thuộc ấy vẫn vẹn nguyên như xưa.
Đột nhiên anh cất lời.
"Năm ấy tiễn em đi xong." Anh kể: "Lúc quay lại, anh đã ngồi ở bến xe suốt cả một đêm."
Tôi chằm chằm nhìn ra ngoài cửa sổ, chẳng buồn quay đầu lại.
"Hút hết tận bốn bao th/uốc." Anh nói: "Sau đợt đó thì cai hẳn."
"Cai luôn?"
"Ừ. Chẳng còn thú vị gì nữa." Anh khựng lại: "Một thân một mình rít th/uốc, nhạt nhẽo lắm."
Bên ngoài cửa kính, vầng thái dương đang ló dạng dần từ đường chân trời.
Cánh đồng hoang vu được mạ lên một lớp màu vàng óng ả.
Tôi nhìn đăm đăm vào bàn tay đang nắm ch/ặt cần gạt số của anh.
Ngay tại vị trí hổ khẩu, cũng hằn lên một vết s/ẹo nhỏ xíu.
Gần như trùng khớp với vị trí vết s/ẹo trên hổ khẩu của tôi vào cái ngày mà tôi đưa điếu th/uốc cho anh.
Anh có vết s/ẹo ấy từ bao giờ?
Tôi không hỏi.
Anh cũng chẳng giải thích.
Cứ thế tiếp tục đ/á/nh lái, chạy mãi về phía Tây.
Tấm biển chỉ đường phía trước hướng thẳng về Hoắc Nhĩ Quả Tư.
Tám trăm cây số.
Đủ để chúng tôi kể hết cho nhau nghe những lời chưa thốt ra suốt mười năm trời.