Chu Tương thưởng thức xong một củ khoai lang, cất giấu trong ng/ực để lát nữa nướng lên ăn, chưa có ý định mở rộng diện tích trồng trọt ngay lúc này.
Ba loại thần khí của người xuyên việt hậu thế - khoai lang, sắn và ngô - quả thực khoai lang được đồn đại quá mức.
Xét về sản lượng, khoai lang dường như cao nhất. Nhưng do chứa nhiều nước, khi phơi khô chỉ còn 1/5, sản lượng thực tế chẳng khác ngũ cốc là mấy.
Hàm lượng protein trong khoai lang thấp, giá trị dinh dưỡng sau khi sấy còn thua ngũ cốc, lại nhiều xơ thô. Ăn vào dễ no nhưng dễ gây tiêu chảy, khiến người ta càng thêm đói khát.
Một điểm trái khoáy nữa là vị ngọt khó chịu. Người hiện đại thỉnh thoảng ăn khoai lang làm món phụ thì thấy ngon, chứ dùng làm lương thực chính do vị nồng khó kết hợp với nguyên liệu khác, ăn hoài chán phèo.
Việc nông dân thời cổ trồng loại gì thực ra ít liên quan đến khuyến nông của quan phủ. Ngược lại, quan phủ phải căn cứ vào mùa vụ để thu thuế. Ví như lúa mì thành lương thực chính nhờ cối xay đ/á phổ biến đời Đường, lúa nước bùng phát khi kinh tế trọng tâm dời về Nam Tống, còn dân số đời Thanh tăng vọt chủ yếu nhờ nông dân tự chọn giống chứ không phải ba thứ thần khí này.
Đời Càn Long, quan lại phương Nam từng khuyến khích trồng khoai lang nhưng nông dân không mặn mà. Trong khi đó, triều đình cấm dân Bắc phương trồng ngô trên sườn núi vì sợ xói mòn, thế mà dân chúng vẫn bất chấp. Triều đình khuyến nông chẳng tăng được diện tích khoai lang, ra lệnh cấm cũng không giảm được ngô. Ruộng đất nên trồng gì, dân tự có chủ trương, kẻ xuyên việt cũng khó lòng can thiệp.
Ngay cả thời Dân quốc, khi lẽ ra nông dân phải tự phát trồng các loại c/ứu đói năng suất cao, diện tích khoai lang - sắn - ngô cũng chỉ chiếm 5%. Mãi đến sau này khi cơ giới hóa và phân bón hóa học giúp tăng sản lượng ngũ cốc, đáp ứng đủ nhu cầu, diện tích trồng các loại c/ứu đói mới tăng lên.
Chu Tương cùng các chuyên gia nông học và sử học đã nhiều lần nhấn mạnh: nguyên nhân chính khiến dân số đời Thanh bùng n/ổ là nhờ sức lao động của nhân dân chứ không phải ngoại lai giống cây. Mấy học giả kinh tế mượn chuyện này để bôi nhọ triều Thanh, gán công lao cho giống ngoại, thực chất là lối tư duy nô dịch.
Sự thật là xưa nay, chính người Hoa nuôi sống người Hoa, không phải nhờ giống ngoại hay máy móc thần kỳ.
Chu Tương rơi lệ vì củ sắn không chỉ bởi nó lấp đầy chỗ trống trong hệ thống c/ứu đói, mà còn vì sắn và ngô có thể trở thành lương thực chính. Mỗi loại lương thực mới đều vô cùng quý giá. Còn khoai lang như bí đỏ, chỉ thuần túy là cây c/ứu đói.
Dù vậy, khoai lang vẫn cực kỳ hữu ích cho thời đại này. Mỗi loại cây c/ứu đói cao sản đều c/ứu được vô số sinh linh.
Dân thời thịnh trị trồng gì không quan trọng, nhưng khi đói kém, thêm một loại c/ứu đói là thêm vạn mạng người.
Khoai lang lại rất hợp với vùng Nam Tần. Giống này ưa ấm, hậu thế chủ yếu trồng ở núi đồi phương Nam. Lý Mục từng nhòm ngó đất Nam Việt nhưng sản lượng không đủ nên chỉ dạo chơi Bách Việt rồi về. Có khoai lang thì khác.
Khoai lang, sắn, bí đỏ và đậu nành có thể trồng trên đất vụn núi đồi, năng suất cao, đủ đáp ứng nhu cầu sơn dân. Nhờ đó họ định cư, lập thành trấn dưới chân núi. Định cư rồi, nhà Tần dễ bề thu thuế và quản lý, thu phục Bách Việt.
Mọi rợ man di chỉ có thể cai trị sau khi khai phá. Mà khai phá trước hết cần khẩn hoang, sau đó mới giáo hóa.
Chu Tương quyết định nhổ hết hoa cỏ trong vườn Lý Mục để ươm khoai lang. Thành công rồi sẽ đem trồng lên núi Nam Tần. Các quận Kiềm Trung và Nam Quận (tương đương Giang Tây ngày nay) nhiều núi, đất trồng trọt khó khăn. Dù đã phổ biến ruộng bậc thang nhưng đa phần chỉ khai phá được mảnh nhỏ.
Giờ những mảnh nhỏ ấy trồng thêm khoai lang, bên cạnh sắn, đậu nành và bí đỏ. Lương thực càng đa dạng, dân càng yên tâm.
Lập kế hoạch xong, Chu Tương lòng dâng lên cảm xúc phức tạp. Bi thương, chua chát khiến lòng quặn đ/au.
Đồng Bình Quân Triệu Báo kêu gọi c/ứu đói Triệu Quốc, nhưng thứ hợp nhất lại thuộc về Nam Tần. Nỗi đ/au ấy thoáng qua. Bọn quý tộc Triệu và kẻ sĩ tiếp xúc với Chu Tương chưa từng cúi nhìn thứ dân. Chính Chu Tương đã khiến họ thấy được dân đen quanh mình.
Nỗi đ/au và hy vọng của dân ngưng kết thành quà tặng trong hệ thống của Chu Tương. Người Triệu giờ chưa ăn được khoai lang, nhưng rồi sẽ ăn. Như bông vải, giờ hẳn đã có người Triệu mặc vải cotton.
“Lương nhân, rửa mặt cho đỡ mệt.” Tuyết Cơ bưng nước ấm tới.
Chu Tương rửa mặt xong nói: “Ta sẽ trai giới một tuần để tiễn biệt cố nhân.”
Tuyết Cơ mỉm cười: “Thiếp sẽ cùng chàng.”
Chu Tương vốn mặc đồ vải thô, nhưng Tuyết Cơ vẫn tìm cho chàng bộ vải gai. Dù không đ/ốt vàng mã cho Đồng Bình Quân, việc đổi áo lụa sang vải gai cũng là tấm lòng của đôi vợ chồng.
Trong khi Chu Tương và Tuyết Cơ thương tiếc, kinh đô Triệu Quốc hỗn lo/ạn. Trong lịch sử, Triệu Vương mất muộn hơn bốn năm. Đời này dù không có Hàm Đan bị vây, nhưng lòng vua càng dày vò, thể trạng suy yếu.
Triệu Vương lập Thái tử từ sớm. Không có lo/ạn Hàm Đan, Thái tử không ch*t trẻ nên cả nước đều xem ngài là quân chủ tương lai. Nhưng số trời đã định, vị Thái tử trưởng thành ấy lại bệ/nh mất năm nay. Triệu Vương sốc nặng rồi băng hà.
Ngoài Thái tử, Triệu Vương còn hai công tử. Ngài sủng ái nhất Xuân Bình Quân. Đời Chiến Quốc, tước phong đã đổi thành “Hầu” như Ứng Hầu, Xuân Bình Hầu. Chu Tương và Lý Mục trong quan văn cũng ghi là “Trường Bình Hầu”, “Vũ Thành Hầu”.
Trớ trêu thay, kiếp trước Chu Tương có vị ngoại thích nổi tiếng tên Vệ Thanh cũng phong Trường Bình Hầu. Giá mà chàng biết được ắt sẽ thốt lên “Đúng là duyên phận!”
Khi Thái tử còn sống, ngôi vị vững như bàn thạch. Triệu Vương hy vọng Xuân Bình Hầu phò tá Thái tử như Bình Nguyên Quân phò Triệu Điệu Văn Vương, nên năm 251 TCN (năm trước) khi Triệu Báo thôi chức Tướng quốc, Xuân Bình Hầu đã lên thay.
Nhưng Xuân Bình Hầu không được lòng tôn thất và cận thần. Dù tài hoa và được sủng ái, tính cách lại kiêu căng tự phụ.
Thuở thiếu thời, hắn cùng Bình Nguyên Quân và Bình Dương Quân thân thiết, chán gh/ét cảnh a dua nịnh hót bên cạnh Triệu Vương.
Triệu quốc điều quân tới biên cảnh Sở quốc nhằm hòa giải tranh chấp. Để ngăn Tần quốc tấn công, triều đình Triệu đề xuất cử con tin sang Tần, vừa cải thiện qu/an h/ệ. Bọn họ lý luận: Tần Vương Tử Sở từng làm con tin ở Triệu, sống khổ cực nên ắt h/ận th/ù. Nếu Triệu không cử con tin sang Tần bày tỏ thiện chí, Tần Vương Tử Sở ắt sẽ b/áo th/ù cho mình và thân tín Chu Tương.
Lý lẽ không phải không có căn cứ. Xưa Tần Chiêu Tương Vương từng vì Ứng Hầu Phạm Thư mà phát binh u/y hi*p Ngụy-Triệu. Trường Bình Quân cùng Tần Vương Tử Sở còn đ/áng s/ợ hơn Phạm Thư gấp bội.
Triệu Vương sợ hãi Tần quốc, đành nghe theo. Thái tử không thể đi con tin vì Triệu Vương yếu đ/au, ngôi báu cần kế thừa ngay. Triệu Vương chỉ còn lựa chọn giữa Xuân Bình Hầu và ấu tử Triệu Ngã.
Ban đầu, Triệu Vương định chọn Triệu Ngã. Nhưng thầy của Ngã là Quách Khai - Lang Trung được vua sủng ái. Cận thần cũng đứng về phe Ngã. Hơn nữa, sự sủng ái dành cho Xuân Bình Hầu khiến Thái tử đố kỵ.
Dù Triệu Vương phong Xuân Bình Hầu làm Tướng Quốc, kỳ vọng người này trở thành Bình Nguyên Quân kế nhiệm, Thái tử không phải Triệu Đãi Văn Vương - vị vua nổi tiếng khoan dung. Huống chi Triệu Đãi Văn Vương trọng dụng Bình Nguyên Quân sau khi tự lên ngôi, khác hẳn việc Triệu Vũ Linh Vương trực tiếp bổ nhiệm.
Thái tử chưa đăng cơ đã để công tử khác làm Tướng Quốc, thật khó coi. Tiếc thay khi Triệu Vương ra quyết định, Bình Nguyên Quân đã mất, Bình Dương Quân già yếu, không ai can ngăn.
Bậc thức giả Triệu quốc cũng mong Xuân Bình Hầu tạm rời Hàm Đan, đợi Thái tử kế vị sẽ trở về. Triệu quốc không chịu nổi nội lo/ạn lần nữa. Chỉ khi Xuân Bình Hầu rời đi, ngôi Thái tử mới vững. Đợi khi hắn làm xong phận sự con tin trở về, Thái tử mới có thể trọng dụng.
Triệu Vương nghe theo, lưu luyến tiễn Xuân Bình Hầu đến Hàm Dương. Ai ngờ vừa rời Hàm Đan chưa bao lâu, Thái tử đột ngột bạo bệ/nh qu/a đ/ời. Triệu Vương chấn động lớn, lâm bệ/nh rồi mất theo. Triệu Báo cũng ch*t theo cha. Vương hậu đã qu/a đ/ời từ trước.
Hàm Đan rắn mất đầu, hỗn lo/ạn bùng phát. Triệu Vương không để lại di chiếu. Có khanh đại phu cho rằng Triệu Ngã - công tử duy nhất trong thành - nên kế vị. Số khác lập luận: Việc Triệu Vương phong Xuân Bình Hầu làm Tướng Quốc chứng tỏ hắn là nhân tuyệt kế vị.
Th* th/ể Triệu Vương bỏ mặc trong cung, các khanh đại phu vừa tranh cãi vừa phái người tìm Xuân Bình Hầu. Phe ủng hộ Triệu Ngã ra tay ám sát Xuân Bình Hầu. Phe kia hộ tống hắn về nước tranh ngôi.
Gia tộc Bình Dương Quân thờ ơ, lấy cớ tang lễ đứng ngoài cuộc. Gia tộc Bình Nguyên Quân về phong địa, không dính chính sự. Lúc này không có Bình Nguyên Quân cùng Bình Dương Quân trấn áp sóng gió, cũng không còn Liêm Pha - Lạn Tương Như gánh vác nội chính ngoại giao.
Yến Vương Hỉ từ khi kế vị vẫn canh cánh mối h/ận Liêm Pha công kích Yến khiến phụ thân ông ta uất h/ận mà ch*t. Hắn luôn cho mật thám giám sát Hàm Đan chờ thời cơ b/áo th/ù.
Khi Thái tử Triệu ch*t, Triệu Vương lâm bệ/nh, mật thám phi ngựa báo tin. Yến Vương Hỉ đại hỉ, lập tức phái Kịch Tân tấn công Triệu.
Nhiều đại thần Yến phản đối: Quốc lực chưa hồi phục sau trận Liêm Pha tàn sát. Huống chi Yến-Triệu vốn là minh hữu đang hòa giải nội lo/ạn Sở. Đại cục ngăn Tần bành trướng bị phá vỡ. Nhưng Yến Vương Hỉ lấy cớ b/áo th/ù cha, không ai ngăn nổi.
Động đến chữ "Hiếu", ngăn vua báo phụ th/ù là bất hiếu. Cứ thế, Yến Vương Hỉ phế bỏ minh ước. Chỉ cần thắng trận, mọi chuyện sẽ ổn.
Kịch Tân từng là mãnh tướng dưới trướng Yến Chiêu Vương. Sau khi Yến Chiêu Vương mất, hắn bị vua mới xa lánh, gần bảy mươi tuổi chưa cầm quân. Nhưng danh vọng vẫn còn, được quân dân Yến tin tưởng.
Triệu quốc không còn danh tướng, Yến vội xuất binh tất thắng lớn.
Tin Yến xuất binh truyền tới Hàm Đan. Trước ngoại hoạn, phe tranh đoạt bừng tỉnh. Để đối phó Yến, Triệu phải lập tân vương. Xuân Bình Hầu chưa về, chỉ còn Triệu Ngã.
Dưới áp lực ngoại xâm, nội lo/ạn Triệu tạm lắng. Triệu Ngã đăng cơ.
Xuân Bình Hầu sắp về tới Hàm Đan. Nghe tin Triệu Ngã lên ngôi, hắn lập tức quay xe chạy về Tần.
Triệu Vương Ngã vừa kế vị đã đối mặt cảnh không tướng dùng. Có người tiến cử lão tướng Bàng Noãn.
Bàng Noãn từng là trọng thần của Triệu Vũ Linh Vương. Sau khi vua này bị ch*t đói, hắn rời triều đình ẩn cư. Ban đầu ở Sở, nay đã về Hàm Đan. Dù đã gần tám mươi, chưa từng chỉ huy trận mạc, nhưng có nhiều binh pháp trước tác, xem như nhân tài.
Triệu Vương Ngã dù ngờ vực vẫn phải cầu hiền, triệu kiến Bàng Noãn. Lão tướng khí thế hùng h/ồn, thuyết phục được vua. Triệu Vương Ngã bái Bàng Noãn làm tướng nghênh chiến.
Trùng hợp thay, Bàng Noãn và Kịch Tân từng là hảo hữu thời trẻ, cùng làm quan dưới trướng Triệu Vũ Linh Vương. Kịch Tân bị Yến Chiêu Vương chiêu dụ, sau khi vua này mất thì bị bỏ rơi. Bàng Noãn rời Triệu sau cái ch*t của Triệu Vũ Linh Vương. Cả hai đều nổi danh thời trẻ rồi chìm khuất đến tóc bạc mới được trọng dụng.
Ngụy Vô Kỵ đã nắm tin Yến xuất binh. Từ khi thay thế nhà họ Lý ở Nhạn Môn, hắn dựa vào năng lực và khí phách thu phục được biên quân, điều binh như cánh tay. Biết Triệu nguy, hắn tự coi mình là người Triệu, dù không có chiếu lệnh vẫn chuẩn bị viện binh.
Khi Bàng Noãn xuất chinh, Ngụy Vô Kỵ để môn khách trấn thủ Nhạn Môn, tự mình dẫn 3.000 tinh binh lặng lẽ rời đi. Thế cục trận chiến giữa hai lão tướng Bàng Noãn - Kịch Tân đã định đoạt từ đây.
Việc Yến bội ước ảnh hưởng tới Sở. Hòa đàm Sở quốc đình trệ không phải vì nội bộ bất hòa, mà do năm nước Ngụy-Hàn-Yến-Triệu-Tề tham gia "hòa giải" đều muốn tranh lợi. Yến-Triệu rút về lo đối phó lẫn nhau.
Yến Vương Hỉ phái Kịch Tân xuất binh chính là từ bỏ đàm phán, chỉ sợ bị tập kích.
Chỉ còn lại Ngụy quốc, Hàn quốc cùng Tề quốc thấy thế lực phe mình suy yếu, lại thấy Tần quốc phái tướng quân Liêm Pha thường xuyên dòm ngó, bèn chẳng dám khua chiêng gõ mõ nữa, vội vã nhận chút tài vật tôi tớ làm lễ hòa thân rồi rút quân.
Sở quốc sau nhiều ngày giằng co rốt cuộc cũng đi đến hòa đàm. Hai bên ước định lấy hồ Cao Bưu (đời sau gọi là hồ Tổ) làm ranh giới, chia Sở quốc thành nam bắc. Họ Cảnh và họ Chiêu cùng những kẻ bôn đào theo phe phản lo/ạn phải dời đến Nam Sở - vùng đất mới được phong cho bọn hắn.
Tuy nhiên, hai họ Cảnh - Chiêu không được xưng vương mà chỉ giữ tước Nam Sở quân, trên danh nghĩa vẫn là chư hầu của Sở vương. Nam Sở trở thành nước chư hầu của Sở, mỗi khi Sở quốc xuất binh phải hiệp trợ.
Sau khi dời đô, trung tâm Sở quốc nay nằm ven bờ Hoài Thủy. Nam Sở sau khi phân lập, phía nam giáp nam Tần, chịu u/y hi*p từ Lý Mục; phía tây dựa vào núi Đại Biệt, nằm dưới tầm kiểm soát của Vương Tiễn. Sở vương lập Nam Sở quốc chính là để tạo lá chắn ngăn chặn hai vị tướng Tần này.
Lực lượng phản lo/ạn ở Sở sau khi Hạng Yến lên làm tướng liên tiếp thất bại, thế cùng lực kiệt đành phải chấp nhận điều kiện này. Nhưng bọn hắn yêu cầu mượn Hạng Yến làm tướng để đuổi quân Tần khỏi bờ bắc Trường Giang.
Sở vương đồng ý giao Hạng Yến cho Nam Sở quốc, phong làm Đại tướng quân, lĩnh quân Nam Sở tấn công những thành trì do Tần quốc chiếm đóng trong lúc hỗn lo/ạn. Khi Nam Sở xuất binh đã là tháng tư năm thứ hai.
Chu Tương trồng lúa nước quanh Quảng Lăng thành sắp đến mùa thu hoạch, mô hình "ao cá Tang Cơ" cũng bắt đầu phát huy tác dụng.
Trịnh Quốc quả danh bất hư truyền, bậc thủy lợi đại sư lưu danh sử sách. Nghe nói đến "ao cá Tang Cơ", hắn lập tức đưa ao cá vào hệ thống thủy lợi, tạo cho Quảng Lăng mạng lưới tưới tiêu - nuôi cá - phòng hộ đê điều hoàn chỉnh. Cách quản lý của hắn cũng vô cùng hợp lý.
Dù hoàn thiện toàn bộ hệ thống cần ít nhất ba năm, nhưng mỗi đoạn sửa xong lại đưa vào sử dụng ngay. Thành Quảng Lăng bội thu đã rõ ràng, thanh danh Chu Tương lại càng lừng lẫy hơn cả khi ở nam Tần.
Hắn nhanh chóng nhận ra, từ kẻ sĩ đến thứ dân ở Quảng Lăng đều chẳng mấy trung thành với Tần quốc. Dù hiện tại họ tỏ ra phục tùng nhưng trong lòng vẫn bài xích.
Điều này cũng dễ hiểu. Bờ bắc Trường Giang đã thuộc Sở quốc mấy trăm năm. Khác với Nam Sở, Quảng Lăng cùng khu vực trung tâm Sở quốc không bị Trường Giang chia c/ắt, dân chúng qua lại thân mật nên phong tục đã hòa làm một. Ngay cả khi Sở quốc đói kém hay họ Cảnh - Chiêu tạo phản, dân Quảng Lăng vẫn ngây thơ tin rằng mọi tai ương đều do bọn nghịch tặc gây ra.
Họ cho rằng nhân họa là do phản lo/ạn, thiên tai là trời trừng ph/ạt nghịch thần, còn Sở vương hoàn toàn vô tội. Tần quốc vốn có tiếng x/ấu ở Sở, lại thừa cư/ớp đoạt Quảng Lăng khi nước sôi lửa bỏng nên bị dân chúng c/ăm gh/ét. Họ không coi mình là người Tần, ngày đêm mong Sở vương c/ứu viện.
Chu Tương đến nơi mới khiến mối "h/ận" này ng/uội thành "lạnh nhạt". Trong các thành trì bờ bắc Trường Giang bị Tần chiếm, chỉ có Quảng Lăng chưa xảy ra bạo lo/ạn - bằng chứng cho thấy uy tín của Chu Tương đủ cao để dân chúng nể mặt.
Chu Tương hiểu rõ: Nếu Sở vương xuất binh, dân Quảng Lăng nhất định hưởng ứng, Tần quân sẽ khó giữ thành. Lý Mục cũng nhận ra sai lầm trong quyết sách, vội phái người triệu hồi Chu Tương về Ngô quận.
Biết tin Sở quốc hòa đàm xong, Lý Mục đứng trên boong thuyền suốt đêm, gió biển thổi đến nỗi hôm sau lên cơn ho, giờ đang dưỡng bệ/nh. Hắn không tin mình đã phán đoán sai.
Theo dự liệu của hắn, Sở quốc cùng liên quân Ngũ quốc phải giằng co đến khi kiệt quệ mới chịu giảng hòa. Sở quốc tổn thất nặng sẽ không dám đòi lại mấy tòa thành bờ bắc Trường Giang luôn bị hạm đội Tần u/y hi*p. Hắn tưởng đã nắm chắc những nơi này.
Lý Mục vắt óc cũng không hiểu vì sao Yến quốc phản bội minh ước.
Triệu Thái tử và Triệu vương lần lượt băng hà, ngôi vị Triệu vương bỏ trống - đúng là cơ hội hiếm có để đ/á/nh Triệu. Nhưng sao phải vội vàng lúc này?
Khi nghe tin kịch binh Yến bị Tín Lăng quân Ngụy Vô Kỵ tập kích, lại còn bị Bàng Noãn đ/âm sau lưng, Lý Mục chỉ biết ngửa mặt than trời. Nhìn lại toàn bộ chiến dịch, dù không phải người Yến, hắn cũng đ/au đầu vì những quyết sách sai lầm.
Đúng là nhìn mà nhức mắt!
Giá như hắn thống lĩnh, ắt đợi Xuân Bình quân về Hàm Đan, khi hai phe ủng hộ Xuân Bình quân và Công Tử Ngã đối đầu mới ra tay. Chỉ cần hai bên đổ m/áu, dù ngoại bang xâm lăng cũng khó ngừng tay. Yến quốc có thể giúp phe yếu lên ngôi rồi nhẹ nhàng chiếm vài thành.
Sao có thể xuất binh khi Xuân Bình quân chưa về tới Hàm Đan? Chẳng khác nào ép Triệu quốc đoàn kết, tôn Công Tử Ngã lên ngôi!
Lý Mục nghi ngờ quanh Yến vương toàn gian tế Triệu quốc, cố ý đưa ra chủ ý ng/u xuẩn để bảo vệ nước Triệu. Nghe nói lão tướng Kịch Tân từng làm quan dưới Triệu Vũ Linh Vương - có lẽ hắn đoán đúng rồi chăng?
Yến quốc ng/u xuẩn khiến liên minh tan rã, ba nước còn lại đành rút quân. Sở quốc hết áp lực bèn vội hòa đàm, quay mũi giáo về phía Tần.
Lý Mục ôm đầu than: "Đau đầu quá! Đau quá!"
Chợt hắn nhớ đến lúc ở Hàm Dương, bên chén rư/ợu cùng Bạch Khởi bàn chuyện binh gia. Vũ An quân từng thở dài: "Ta vắt óc cũng không hiểu Triệu Quát vì sao làm thế, suýt nữa khiến ta lâm nguy. May có Chu Tương..."
Giờ Lý Mục mới thấu hiểu tâm tình Bạch Khởi năm ấy.
Người Yến các ngươi làm gì thế? Sao có thể ng/u xuẩn đến vậy? Triều đình chẳng lẽ không còn ai tỉnh táo sao?
Không bảo các ngươi đừng xuất binh, nhưng đợi Xuân Bình quân và Công Tử Ngã đ/á/nh nhau đã rồi hãy ra quân không được sao? Các ngươi đang giúp Triệu quốc đoàn kết chống ngoại xâm chăng?
Lý Mục đ/au khổ vô cùng.
————————
Ghi n/ợ -1, 259w dịch dinh dưỡng ghi n/ợ +1, trước mắt thiếu chương 1 chương.
Nghĩ linh tinh (Đen nhánh bùn):
Quyển sách này nên đổi tên thành "Xuyên Việt Chỉ Nam", dạy các ngươi cách tối ưu hóa cơ cấu trồng trọt khi về cổ đại. Đừng mở rộng ồ ạt khoai lang, ngô, đậu - vô dụng thôi, nông dân chẳng nghe đâu.
Nâng cao năng suất lúa nước, lúa mì mới là chính đạo. Đến tận hiện đại, an ninh lương thực Trung Quốc vẫn dựa vào lúa nước và lúa mì là chính, ngô chỉ là phụ. Chiến lược "lương thực hóa củ quả" chưa phổ biến mấy năm (mà hiệu quả cũng chẳng đáng kể).
Huống chi cổ đại. Các ngươi xuyên việt rồi thì nhớ kỹ: đừng trông cậy vào khoai lang - ngô - đậu, phải tập trung cải thiện lúa nước và lúa mì mới c/ứu được dân chúng đói khổ.
Ừm, ta không nguyền rủa đ/ộc giả xuyên việt đâu, chỉ là... nếu có xuyên thì nhớ lời ta, khục.
Nền
Cỡ chữ
Giãn dòng
Kiểu chữ
Bạn đã đọc được 0% chương này. Bạn có muốn tiếp tục từ vị trí đang đọc?