【 Đáp án này, chúng ta sẽ công bố sau.】
【 Hôm nay, chính thức giảng về thương nghiệp cùng những câu chuyện kinh tế tiền tệ.】
【 Trước hết, Hoa Hạ tuy từ xưa đến nay luôn thi hành chính sách trọng nông ức thương, nhưng xét về lịch sử, thương nghiệp Hoa Hạ có ng/uồn gốc cực kỳ lâu đời. Ngoại trừ việc lập quốc sớm hơn Cổ Ai Cập, lịch sử thương mại Hoa Hạ còn sớm hơn cả những dân tộc giỏi buôn b/án như người Hebrew cổ, người Phoenician cổ, người Babylon cổ. Càng không cần nói đến thương nghiệp cận đại Âu Mỹ - khi Hoa Hạ đã có nền thương nghiệp chính quy thì Âu Mỹ thậm chí còn chưa manh nha thương nghiệp.】
Cổ nhân hoặc thận trọng hoặc lộ rõ vẻ tự hào.
Hoa Hạ quả nhiên xứng danh một trong tứ đại văn minh cổ đại, thương nghiệp cũng đã được tổ tiên khai sáng từ rất sớm. Dù Cổ Ai Cập hình thành trước, nhưng nền văn minh ấy sớm đã đoạn tuyệt. Chỉ có Hoa Hạ xứng đáng được gọi là "Cổ Hoa Hạ" mà không cần phân biệt thời đại. Đây chính là niềm kiêu hãnh ngàn năm của nền văn minh bất diệt, là khí chất tự tin vượt thời không của người Hoa.
【 Thế nhưng vì sao, thương nghiệp Hoa Hạ lại tụt hậu so với Âu Mỹ đến thế? Thậm chí cận đại, trong các cuộc chiến thương mại quốc tế, ta thường phải chịu thiệt vì phản ứng chậm trễ?】
Màn trời chất vấn khiến hầu hết đế vương đều trầm mặc. Vì sao ư? Chính họ còn rõ hơn ai hết.
Lúc này, Triệu Khuông Dận cùng Triệu Quang Nghĩa bỗng cảm thấy mặt mũi nở mày nở mặt. Họ Triệu gia tổng cũng làm được việc đúng đắn - thương nghiệp Tống triều đủ để khiến các triều đại khác phải hổ thẹn!
【 Ta biết chư vị ắt cho rằng nguyên nhân nằm ở chính sách "trọng nông ức thương" cùng quan niệm "tiện thương", nhưng không chỉ có vậy.】
Thứ nhất, liên quan đến nền tảng văn minh. Văn minh Hoa Hạ khởi ng/uồn từ lưu vực Hoàng Hà - nơi khí hậu thích hợp canh tác nông nghiệp. Tiên dân Hoa Hạ quen sống tự cung tự cấp, nhiều bách tính cả đời không cần giao thương, cũng không có khái niệm cạnh tranh thương mại. Tính chất bảo thủ của nền kinh tế nông nghiệp cá thể khiến dân chúng tự thân đã không có nhu cầu lớn về thương nghiệp.
Thứ hai, liên quan đến địa hình. Những khu vực thương nghiệp phát triển nhất ở Âu Mỹ đều là đồng bằng, như nền kinh tế Ai Cập cổ hưng thịnh cũng nhờ phù sa sông Nile. Trái lại, Hoa Hạ núi non trùng điệp, đường sá hiểm trở, nam bắc cách xa, duyên hải đông nam lại không dài khiến hàng hải mậu dịch khó phát triển.
Thứ ba, chính sách tiện thương. Chính sách "trọng nông ức thương" từ trên xuống dưới khiến toàn xã hội kh/inh rẻ thương nhân. Triều đình thiếu kiến thức thương mại, kẻ sĩ trong dân không muốn dính líu buôn b/án, khiến thương nghiệp không thể hưng thịnh.
Thứ tư, tư bản nông cạn. Thương nhân qua các triều đại thường chỉ là tư bản cá nhân, tiểu thương nghèo khó, kinh doanh tùy hứng. Những cá nhân hoặc gia tộc này thiếu tầm vóc lớn. Hơn nữa, quốc gia không những không khuyến khích mà còn chèn ép thương nhân, gây tổn thất nặng nề cho giới thương gia.
Bởi vậy, Âu Mỹ Nhật Bản tuy là kẻ đến sau lại vượt lên trước, bao trùm lên Hoa Hạ. Chúng xâm lược, tranh đoạt thị trường thương nghiệp, chiếm lĩnh huyết mạch kinh tế của Hoa Hạ.
.
Chu Nguyên Chương nghe đến chỗ khó hiểu nhất là chuyện Hoa Hạ vốn có nền tảng sớm hơn, cuối cùng lại bị man di vượt mặt.
Đặc biệt trong đó lại lẫn cả Nhật Bản - kẻ khiến người ta h/ận thấu xươ/ng.
Đại Minh chịu đủ nạn giặc Oa, Chu Nguyên Chương nghe màn trời giảng thuật mấy phen, lòng h/ận Nhật Bản đã khắc sâu vào cốt tủy.
Dưới sự kích động của mối h/ận này, Chu Nguyên Chương lần đầu tiên nghiêm túc lắng nghe tác dụng thương nghiệp. Hắn còn không quên nhắc nhở hoàng thất tông thất cùng các đại thần: "Nghe cho rõ! Ghi nhớ cho kỹ! Sau khi màn trời kết thúc, trẫm sẽ khảo thí!"
Các đại thần đã quen với yêu cầu nghiêm khắc của Chu Nguyên Chương, nhưng hoàng thất tông thất thì như ch*t cha ch*t mẹ. Xem xong màn trời trình bày các phương án cải cách, bọn họ nghĩ thầm: Chuyện này đáng lý thuộc về các đại thần, sao lại phải khảo thí? Bọn ta đâu cần tham gia khoa cử!
Không ai biết Chu Nguyên Chương đã quyết tâm giải quyết vấn đề chi tiêu khổng lồ của Minh triều tông thất. Hắn biết hoàng tộc quen sống xa hoa, nếu bắt họ từ bỏ hưởng lạc để sống tằn tiện, khi quốc khố không cấp phụng dưỡng nữa, họ tất sẽ tìm trăm phương ngàn kế ki/ếm tiền. Thuế khóa không thể động, vậy chỉ có cách để tông thất tự học kinh thương ki/ếm tiền từ nay về sau.
Dù Chu Nguyên Chương hiện sắp xếp đủ loại nhiệm vụ cho tông thất, nhưng các hoàng đế tương lai vì lòng kiêng kỵ sẽ không để họ nhúng tay quân chính. Nói cách khác, kinh thương là lĩnh vực không gây u/y hi*p.
【Thương nghiệp bắt ng/uồn từ mậu dịch, từ thời viễn cổ, Hoa Hạ đã có hoạt động thương mại.】
Trước thời Hoàng Đế, khi Hoa Hạ còn là các bộ lạc thượng cổ, xung đột vũ trang thường xuyên xảy ra.
Đến thời Thần Nông thị, nông nghiệp bắt đầu phát triển. Thần Nông nếm trăm cỏ, được cho là thủ lĩnh bộ tộc đầu tiên dám thử nghiệm trồng trọt, đồng thời bắt đầu kỹ thuật đ/ốt biển lấy muối sớm nhất.
Thần Nông thị lập thành thị để giao dịch, khiến tài vật lưu thông. Dân vùng núi dùng da thú làm tiền tệ, dân ven sông dùng vỏ sò làm vật trao đổi.
Trên thiên mạc hiện lên cảnh tượng tiên dân viễn cổ khoác áo da thú hoặc vải thô. Họ sống thành thị tộc, mỗi tộc có đồ đằng riêng. Họ dùng khí cụ bằng đ/á, xươ/ng để canh tác, đ/ốt rẫy gieo hạt trên đất hoang.
Kẻ ven biển vì khát khao muối mà nấu nước biển thành muối. Trên phiên chợ họp mỗi năm một lần, người giỏi trồng trọt mang lương thực và da thú, người giỏi nấu muối mang muối biển và vỏ sò để đổi lấy vật phẩm mình cần. Đó chính là hình thức mậu dịch nguyên thủy nhất - vật đổi vật.
【Vì tiên dân viễn cổ sống chủ yếu ven sông biển, "Bối" (vỏ sò) trở thành tiền tệ phổ biến. Văn minh này lưu dấu trong chữ viết Hoa Hạ. Những chữ liên quan đến tài phú đều có bộ "Bối" như: Phú, Tài, Cống, Bần, Hàng, Tham, Tư, Tặng, Thưởng, Trái, Mãi... Kể cả chữ phồn thể "Mại" (m/ua b/án) cũng mang bộ "Bối".】
Sau khi Hoàng Đế dùng vũ lực thống nhất các bộ lạc, hắn tu sửa đường sá, thiết lập chính quyền thống nhất. Trong các cơ cấu hành chính đã xuất hiện công xưởng quốc doanh, đồng thời đặt chức Tả Hữu Đại Giám để giám sát kinh tế quốc gia. Chính quyền thống nhất tạo điều kiện cho thương nghiệp hưng thịnh.
Hoàng Đế còn thống nhất đo lường, quy định: Số đếm đã định, độ dài đã phân, lượng lớn nhỏ đã rõ, cân nặng đã chuẩn. Từ đó hình thành hệ thống đo lường hoàn chỉnh.
Trong các khoáng sản kim loại, hắn quy định năm loại tiền tệ, đúc đ/ao vàng. Thời Hoàng Đế có các khoáng sản như đan sa, hoàng kim, từ thạch, đồng, lăng thạch, xích đồng. Sau khi quy phạm hóa tiền tệ, ngọc được xem là thượng phẩm, vàng là trung phẩm, đ/ao bố là hạ phẩm.
Dưới trật tự thống nhất và đồng tiền chung, nông dân yên tâm cày cấy, thương nhân an tâm buôn b/án.
Về sử liệu thời Hoàng Đế, ngay cả các hoàng đế cổ đại cũng ít người biết rõ. Chỉ có thể dựa vào sách vở thời Xuân Thu Chiến Quốc để hình dung về thời kỳ Nghiêu Thuấn trị vì thượng cổ, căn cứ vào thần thoại để khôi phục hình ảnh thủ lĩnh bộ lạc trong truyền thuyết.
“Thống nhất thiên hạ, ắt phải thống nhất tiền tệ cùng đo lường.” Doanh Chính khẽ gật đầu, vô cùng hài lòng trước sự tương đồng giữa cách nghĩ của mình với vị Hoàng Đế huyền thoại.
Hắn quả nhiên xứng danh Thiên Cổ Nhất Đế, lựa chọn của hắn hoàn toàn trùng khớp với bậc Thánh Nhân viễn cổ.
【Trong mắt người phương Tây, người Hoa nấu cơm như đang thi triển pháp thuật - họ luồn ngón tay vào nồi để đo lường. Kỳ thực, đó chính là “m/a pháp nấu cơm” truyền thống: dùng ngón tay đo độ sâu nước.】
【Vì sao phải dùng ngón tay để đo nước?
Bởi đó chính là phương pháp đo lường cổ xưa nhất của Hoa Hạ - lấy thân thể người làm chuẩn. Một đ/ốt ngón tay ước tính là “một tấc”, khoảng 2-3 phân. Chỉ cần quan sát vị trí nước ngập đến đ/ốt ngón nào, ta có thể tính tỷ lệ gạo - nước.】
Cô gái cố ý chiếu video người hiện đại nấu cơm.
Trong nồi cơm điện, gạo trắng được đổ vào, vo sạch rồi thêm nước. Một ngón tay thò vào nồi, xem nước có vượt qua đ/ốt tay hay không để ước lượng. Màn trời hiện lên phụ đề giải thích: chiều dài mỗi đ/ốt ngón tay ước chừng một tấc. Cô gái đưa bàn tay nhỏ nhắn của mình làm ví dụ - mỗi đ/ốt chỉ khoảng 2.5 phân.
.
“Đơn vị đo lường hậu thế quả nhiên khác biệt, nhìn càng tinh chuẩn hơn.” Trương Thương - nhà toán học đời Tần - nhìn những con số Ả Rập hiện trên thiên mạc, lộ vẻ hứng thú.
Đơn vị “tấc”, “thước” thời bấy giờ chỉ dùng ước lượng trong sinh hoạt, không thể đạt độ chính x/á/c đến từng số lẻ.
Lưu Huy - nhà toán học Nam Bắc triều - chăm chú nhìn con số “2.5 phân”, trong lòng chợt lóe sáng: “Cách tính này dễ nhớ thật.”
Lý thuyết số thập phân tại Hoa Hạ chính do Lưu Huy khai sáng. Khi tính toán số Pi, ông dùng bảy đơn vị: thước, tấc, phân, ly, hào, ty, hốt. Phần nhỏ hơn “hốt” được gọi là “vi”.
Chu Thế Kiệt - nhà toán học đời Nguyên - cũng động tâm: “Ký hiệu này tiện lợi hơn chữ viết.”
Chu Thế Kiệt đề xuất danh xưng cho số thập phân, đồng thời phát minh cách ghi nhớ bằng ký hiệu vị trí. Cổ nhân dùng que tính, muốn biểu thị số thập phân chỉ có thể dùng văn tự. Phương Tây mãi đến thế kỷ XVI, nhà toán học Pháp Khắc Lạp Duy Tư mới đề xuất dùng dấu chấm phân cách.
Việc thiên mạc vô tình đề cập đo lường khi nấu cơm đã gieo mầm số thập phân từ thời Đại Tần. Tuy ảnh hưởng ngắn hạn chưa rõ rệt, nhưng với giới toán học, đây là gợi ý vô giá.
【Nói về đo lường, phương pháp cổ xưa nhất Hoa Hạ chính là lấy thân thể người làm chuẩn.
《Thuyết Văn Giải Tự》 chép: “Tấc, thước, chỉ, tầm, thường, trượng - các đơn vị đo đều lấy thân người làm mẫu”.
《Lễ Ký》 và 《Khổng Tử Gia Ngữ》 đều ghi: “Bề ngang ngón tay là tấc, bề dài bàn tay là thước, từ khuỷu tay đến cổ tay là tầm”.
《Tiểu Nhĩ Nhã》 còn nói: “Khoảng cách một bước chân gọi là bộ”.
Đó đều là ghi chép về đơn vị đo lấy con người làm chuẩn.】
Hoa Hạ có thuật toán riêng, bắt ng/uồn từ việc dùng mười ngón tay tính toán thời cổ đại - phương pháp phổ biến ở mọi nền văn minh. Nhưng Hoa Hạ còn phát triển hệ thống thập nhị phân đ/ộc đáo: mười hai tháng, mười hai canh giờ, mười hai địa chi...
Con số mười hai bắt ng/uồn từ mười hai đ/ốt ngón tay (trừ hai ngón cái). Cổ nhân dùng ngón cái đếm lần lượt các đ/ốt trên bốn ngón tay, tạo thành “máy tính cầm tay” nguyên thủy.
Nhân thể chính là đơn vị đo lường cổ xưa nhất.
Hoa Hạ lấy nhân thể làm tiêu chuẩn đo lường, xét từ góc độ y học giải phẫu cũng có đạo lý khoa học. Một ngón tay là một tấc, mười ngón tay duỗi thẳng tương đương với khoảng cách từ ngón cái tới ngón trỏ. Một sải tay là một thước, chiều cao con người gấp mười lần như vậy. Chiều cao nhân thể cùng sải tay, tỷ lệ cơ thể đều có qu/an h/ệ mật thiết. Phương Tây mãi tới thế kỷ 15 mới phát hiện tỷ lệ vàng này, thường ứng dụng trong nghệ thuật giải phẫu để miêu tả hội họa.
Trên màn trời hiện lên hình ảnh giải phẫu của danh họa Da Vinci - một trong "Tam kiệt thời Phục hưng". Vị này từng tự tay mổ x/ẻ tử tù để nghiên c/ứu cơ thể người, số lượng không ít. Trong tác phẩm nổi tiếng của ông, một nam tử kh/ỏa th/ân dang tay đứng trong vòng tròn, tứ chi giơ lên các góc độ khác nhau.
Tuy nghệ thuật giải phẫu phương Tây có nhiều khái niệm về tỷ lệ nhân thể, nhưng Hoa Hạ thời viễn cổ đã đề xuất tương tự, chỉ tiếc không đi sâu nghiên c/ứu thêm.
"Nguyên lai chiều cao của ta bằng đúng sải tay!" Tiểu bằng hữu giơ tay đo, lần đầu tò mò ngắm nhìn cánh tay mình rồi lại cúi xuống xem bàn chân.
Đại nhân duỗi bàn tay quan sát đ/ốt ngón tay: "Một tấc chính là đây?" Rồi dùng ngón cái và trỏ đo một sải làm thước, lại nhân mười lần ước lượng chiều cao. Màn trời tri thức này không cần công cụ hỗ trợ, chỉ cần lượng chính thân thể nên nam nữ quý tiện đều hứng thú thử nghiệm.
Người người đứng sát tường vạch dấu đỉnh đầu, rồi dùng cánh tay, khuỷu tay, bàn tay để đo đạc so sánh.
Tống Từ thời Nam Tống ghi chép cẩn thận nội dung màn trời. "Chiều cao liên quan tới độ dài tay chân, vậy phát hiện thi cốt có thể suy đoán được hình thể người?" Ngoài tay, đầu người và bàn chân cũng có quy luật tương ứng.
Tống Từ chợt lóe lên ý nghĩ về giải phẫu học. Đại Tống không phải không có mổ x/ẻ, chỉ là thường dùng vào mục đích chính trị. Như thời Vương Mãng cải chế, nghĩa quân Vương Tôn Khánh bị bắt sống đã bị dùng kim đ/âm vào kinh mạch để nghiên c/ứu huyệt đạo.
Thời Tống Nhân Tông, thủ lĩnh khởi nghĩa Âu Hi Phạm bị quan triều Đỗ Kỷ lừa bắt. Sau khi bị xử trảm, Ngô Giản đã mổ x/ẻ th* th/ể ông, sai họa sĩ vẽ thành "Âu Hi Phạm Ngũ Tạng Đồ".
Tới thời Tống Huy Tông, Dương Giới căn cứ vào th* th/ể tử tù bốn châu vẽ "Tồn Thật Đồ", miêu tả chi tiết hơn về ng/ực bụng, n/ội tạ/ng, mạch m/áu, hệ tiêu hóa và sinh dục so với bản đồ giải phẫu trước đó.
Hai bức mổ x/ẻ đồ này đã thất truyền ở đời sau, nhưng vẫn tồn tại từ thời Nam Tống, mãi đến Minh triều vẫn còn y học gia tham khảo học tập.
Tống Từ từng được xem qua mổ x/ẻ đồ, cũng thông qua đó thấy được kết cấu n/ội tạ/ng nhân thể. Nhưng giờ đây, hắn vẫn cảm thấy chưa đủ.
Cảm giác nét bút trên giấy dần cạn kiệt, hắn không chỉ muốn đích thân giải phẫu, mà còn phải tự mình nghiên c/ứu tỷ lệ qu/an h/ệ giữa các n/ội tạ/ng, tự tay vẽ ra bức đồ tỷ lệ nhân thể hữu dụng.
【Chuyện thương nghiệp xưa】
【Thời Đế Nghiêu, hồng thủy phiếm lạm, tiên dân Hoa Hạ dù trải qua khổ ải vẫn không quên trồng trọt sinh sản.】
【Sau khi hồng thủy rút, tiên dân bắt đầu coi trọng thủy lộ giao thông. Càng nhiều đường mới mở ra, thương nghiệp cũng nhờ đó hanh thông.】
Thời Hạ Vũ, vật产 phong phú, sau khi định ra Cửu Châu, giao thương khắp nơi bắt đầu phát triển.
Như Duyện Châu sản sinh sống núi cùng hàng dệt tơ lụa; Thanh Châu xuất muối biển, hải vật, vải gai và quái thạch; Dương Châu có vàng bạc đồng, ngà voi, sừng tê cùng lông thú... Các loại đặc sản.
Giao thông Cửu Châu không ngừng phát triển, đ/á/nh dấu thời kỳ thịnh vượng của thương nghiệp.
Đến Thương triều, lấy Cửu Di - Bát Địch - Thất Nhung - Lục Mạn làm Tứ Hải, hàng hóa khắp bốn biển đều giao thương với Trung Thổ. Giao dịch phẩm bao gồm khuê bích kim chương, gấm vóc châu ngọc, vải vóc và vũ khí các loại.
Thời Tây Chu, sau khi Chu Vũ Vương diệt Ân Thương, nhờ lượng túc khố dồi dào của nhà Thương, Vũ Vương đề xướng hưng thịnh thương nghiệp, dùng lụa là và hoàng kim làm vật giao dịch.
.
“B/án lương thực! B/án ngô đây!”
Thời kỳ đầu nhà Chu không thiếu lương thực như hậu thế, trái lại còn dư dả túc khố. Nhưng triều đình lại thiếu vàng bạc làm tiền tệ.
Thương Trụ Vương xưa từng xây Lộc Đài cùng Cự Câu, lấy Lộc Đài tụ tài bảo, dùng Cự Câu tích trữ lương thực.
Chu Vũ Vương sau khi chiếm kinh đô, mở kho Cự Câu, đem lượng túc khố ấy tung ra thị trường.
Quan phủ dán bố cáo khắp nơi, lại phái thương nhân đến dân gian chào hàng.
Khi có người đến hỏi, quan thương nhiệt tình đáp: “Có túc mới cùng túc cũ, ngài muốn loại nào?”
Những người có đủ tư cách cùng năng lực m/ua túc khố, vốn là quốc nhân trong thành - hậu duệ quý tộc, chủ nô lệ.
Trong tay họ nắm giữ vàng bạc, dưới trướng có điền trang, lại phải nuôi nấng lượng lớn gia nhân. Thấy quan phủ b/án túc khố, họ liền tới hỏi:
“Quan phủ cũng b/án túc khố ư?”
“Đúng vậy! Túc mới của quan phủ tươi ngon mỹ vị, túc cũ thì giá rẻ hơn, ngài m/ua chứ?”
“Mỗi thứ một nửa!”
Quan thương hào sảng, chủ nô phóng khoáng, giao dịch nhanh chóng thành công. Đôi bên đều hài lòng.
Dân gian có đủ lương thực, giải quyết được nạn thiếu ăn do chiến tranh; Quan phủ thu vàng bạc đầy kho, có thể nuôi quân ổn định quốc gia.
.
“Đánh xong giặc còn có túc khố triều đình b/án lấy tiền, thật đáng ngưỡng m/ộ.”
Lý Thế Dân thốt lên lời cảm thán.
Đại Đường kế thừa từ nhà Tùy - triều đại mà Dương Quảng cực kỳ hoang phí - chỉ còn lại quốc khố trống rỗng.
“Tùy Dương Đế trọng đãi thương nhân Tây Vực, miễn phí yến tiệc chiêu đãi. Cách làm đại thủ bút ấy quả nhiên thu hút không ít người.”
Bùi Củ - người từng phụng sự Dương Quảng - giọng điệu phức tạp.
Chính ông là tác giả bức 《Tây Vực Đồ Ký》, vốn được vẽ để phụng sự sở thích của Dương Quảng.
.
Nhắc tới nhà Tùy, Dương Quảng cũng đẩy mạnh thương nghiệp.
“B/án chút túc khố ấy có được bao nhiêu? Chi bằng thu hút thương nhân ngoại quốc đến giao thương.”
Tùy Dương Đế Dương Quảng đang ở Lạc Dương thành, nghe báo cáo tiến độ chiêu đãi thương nhân Tây Vực, nhìn lại cách làm của Chu Vũ Vương trên thiên mạc, khẽ bĩu môi tỏ vẻ kh/inh thường.
Dương Quảng không chỉ ham hưởng lạc thú mà còn tiêu xài phóng túng, đồng thời cũng rất coi trọng thương nghiệp.
Hắn tự mình tuần tra phương Tây đến Hành Lang Hà Tây, cuối cùng dừng chân nửa năm tại Tây Bình Quận để tổ chức diễn tập quân sự. Trước hết dùng vũ lực u/y hi*p, sau đó đưa ra chiêu đãi ngọt ngào —— mở yến tiệc thết đãi.
Dương Quảng là vị hoàng đế đầu tiên của Hoa Hạ bày tiệc chiêu đãi thương nhân Tây Vực trên Con Đường Tơ Lụa. Về sau để thu hút thương nhân đến Lạc Dương buôn b/án, hắn ban cho họ đủ loại đặc quyền —— như được miễn phí ẩm thực.
Hằng năm vào tháng Giêng, khi các thủ lĩnh dân tộc thiểu số cùng ngoại quốc thương nhân tụ hội về Lạc Dương, Dương Quảng sai người quấn lụa là gấm vóc lên cây cối làm trang trí, lệnh cho các cửa hiệu phải treo rèm the điểm xuyết, biến Lạc Dương thành kinh thành lộng lẫy để tiếp đón tiểu thương Tây Vực.
Khi thương nhân Tây Vực đến chợ giao dịch, Dương Quảng hạ lệnh: "Chỉnh trang phố xá, trang hoàng cửa hiệu, mái hiên phải chỉn chu, hàng hóa phải phô trương", ngay cả quán ăn cũng phải bày biện bàn ghế long lanh.
Mỗi khi các thương nhân đi ngang qua quán trọ hay tiệm cơm, chủ quán phải mời họ vào dùng bữa, đồng thời nói: "Trung Nguyên phồn thịnh, rư/ợu thịt miễn phí."
—— Không chỉ ăn uống không tốn xu, chỗ nghỉ chân cũng chẳng mất đồng.
Đến tết Nguyên Tiêu, Tùy Dương Đế còn chuẩn bị cả đoàn tạp kỹ biểu diễn suốt tháng trường. Ba nghìn vũ công nhảy múa, tiếng sáo tiếng đàn vang khắp kinh thành, xen lẫn những màn xiếc đ/ộc đáo. Thương nhân Tây Vực cùng thủ lĩnh các tộc dù ở quán trọ nào cũng đều được thưởng thức âm nhạc, xem biểu diễn.
Giữa cảnh đẹp nhạc hay, Dương Quảng ngất ngây, cho rằng đây mới chính là cảnh tượng thịnh trị, mình mới là bậc quân vương huy hoàng.
Nhưng hắn không ngờ, những khoản đầu tư này chẳng mang lại hiệu quả gì cho nhà Tùy, trái lại còn khiến dân chúng oán than khắp nơi vì quan phủ bắt cửa hiệu dọc đường phải chiêu đãi thương nhân miễn phí.
—— Chủ ý phô trương hoang phí này lại xuất phát từ Bùi Củ, hoàn toàn hợp ý Dương Quảng nên được hắn hết lời khen ngợi.
Loại đầu tư tốn kém vô bổ này tuy khiến Tây Vực ca tụng Trung Nguyên là "chốn thần tiên", nhưng nhà Tùy tồn tại quá ngắn ngủi, chưa kịp đợi phản hồi từ thương nhân đã diệt vo/ng.
Sự hào phóng mà nhà Tùy bày ra, cuối cùng lại thành món hời cho nhà Đường sau này. Khi thương nhân Tây Vực cùng thủ lĩnh thiểu số đến triều kiến nhà Đường, họ vẫn đi con đường vào Lạc Dương từ thời Tùy.
Ngay cả Bùi Củ - kẻ bị gọi là "nịnh thần" dưới thời Tùy Dương Đế, sang đầu nhà Đường lại được Lý Thế Dân trọng dụng, thậm chí lên đến chức tể tướng, danh tiếng chẳng hề tồi.
Tư Mã Quang từng đ/á/nh giá hắn "Nịnh Tùy mà trung Đường", trong tiểu thuyết đời sau cũng xuất hiện với đủ hình tượng gian thần lẫn lương thần, vô cùng phức tạp.
【 Từ thời Chu đã xuất hiện chính sách thị chính cùng các loại thuế khoán: thuế chợ, thuế hàng hóa, thuế đất đai, thuế khế ước... Nhiều chính sách thời Chu kéo dài mãi đến thời Xuân Thu Chiến Quốc. 】
Thời Xuân Thu Chiến Quốc, thủ công nghiệp cùng thương nghiệp phát triển nhanh chóng, chợ búa dân gian mở rộng, tiền tệ được sử dụng ngày càng phổ biến, đồng thời tùy theo phong tục địa phương mà tạo ra nhiều loại tiền khác nhau.
Giai đoạn này chủ yếu lưu hành đồng tệ, có một ít tiền vàng, bạc, ngọc, vải lụa, vỏ sò. Các khu vực khác nhau được tự do đúc tiền.
Đến thời Chiến Quốc, vàng nguyên chất bắt đầu được dùng phổ biến để chế tác kim tệ. Về sau, phương Nam lẫn phương Bắc đều sử dụng kim tệ với hai hình thái chủ yếu là kim bánh và kim bản.
Vào thời kỳ Xuân Thu Chiến Quốc, kim bánh là thứ quý giá, mà Doanh Chính có tiếng nói tuyệt đối trong lĩnh vực này.
"Quốc khố của sáu nước còn lưu giữ không ít kim bánh, thật là tốt quá."
Dù sáu nước không để lại bảo vật trân quý như Thương Trụ Vương, nhưng số kim bánh tồn kho cũng đủ khiến Doanh Chính hài lòng tiếp nhận.
Cần biết rằng, thời Tần có hai loại "kim": một là hoàng kim chân chính, hai thực chất chỉ đồng thau.
【Nói đến việc dùng hoàng kim làm chủ yếu tiền tệ, không thể không nhắc tới "luyện kim thuật" đã đề cập trước đó.】
【Ba phương pháp đã nêu trước đây, hôm nay sẽ công bố kết quả lựa chọn của mọi người.】
Chu Lệ lập tức hào hứng: "Biển cả thần bí như vậy, biết đâu cũng ẩn chứa hoàng kim, ta chọn nước biển!"
Hắn vẫn nhớ như in những bảo vật hải ngoại từng được thiên mục nhắc đến, nên đối với biển cả luôn dạt dào hứng thú.
Chu Lệ dùng cùi chỏ hích huynh trưởng: "Đại ca chọn phương pháp nào?"
"Vứt bỏ điện thoại." Chu Tiêu thản nhiên đáp, "Vật này tuy Đại Minh chưa có, nhưng từng xuất hiện trước đó, xem ra rất hữu dụng, biết đâu có thể chiết xuất hoàng kim."
Chu Lệ chợt nhớ ra, khi nói về thanh toán, thiên mục từng nhắc đến "điện thoại quẹt thẻ", chỉ cần quẹt nhẹ sẽ phát ra âm thanh báo số tiền.
Trong lòng hắn cũng xao động. Há chẳng phải điện thoại thực sự chứa hoàng kim? Có lẽ mỗi lần thanh toán chính là tiêu hao hoàng kim, chỉ là mắt thường không nhìn thấy?
Chu Tiêu hướng về Chu Nguyên Chương: "Phụ hoàng, không biết ngài chọn phương pháp nào?"
"Ta chọn phân và nước tiểu." Chu Nguyên Chương vừa mở miệng đã khiến mọi người kinh ngạc.
Nhưng lão Chu vốn không ham hư vinh, chỉ nói thật lòng: "Nước tiểu người trước mắt còn chiết xuất được lân trắng, biết đâu hậu thế còn nghiên c/ứu được bảo vật từ phân người."
Chu Lệ chợt trầm tư. Lời phụ thân quả có lý, nhưng rốt cuộc phương pháp nào mới thực sự hữu dụng?
Vừa hay lúc này, thiên mục bắt đầu giải đáp.
【Trước hết là phương pháp vứt bỏ điện thoại. Rác điện tử đã được chứng minh có thể chiết xuất hoàng kim.】
【Như tại Olympic Nhật Bản, người ta đã tinh luyện hoàng kim từ rác điện tử - phương pháp thân thiện môi trường. Từ 10 vạn tấn rác điện tử, họ thu được 32 ký vàng để đúc huy chương.】
Tuy nhiên, số huy chương này bị chê chất lượng kém, thậm chí biến dạng trước khi vận động viên rời Nhật Bản.
Trái lại, huy chương vàng ngọc của Olympic Bắc Kinh 2008 mới thực đáng nể. Có huy chương bị th/iêu trong hỏa hoạn vẫn nguyên vẹn, ngay cả dây đeo bằng lụa cũng không hề hấn gì.
Đó mới thật là vật liệu chống ch/áy ưu việt.
.
Chu Tiêu trước tiên kinh ngạc trước con số 32 ký vàng, trong lòng tràn ngập vui sướng!
Hoàng kim lại có thể chiết xuất từ phế liệu kim loại, vậy chẳng phải chứng tỏ Đại Minh cũng có thể áp dụng kỹ thuật này?
Nghe đến loại vải lụa đặc biệt không hỏng dù bị th/iêu đ/ốt, cả triều đình văn võ đều sôi sục.
"Hỏa th/iêu mà vẫn vẹn nguyên!"
"Đúng là thần bố! Ước chi ta có được."
"Nếu dùng thứ vải này may chiến bào, chẳng phải đ/ao thương bất nhập, thủy hỏa bất xâm!"
Ai nấy đều thèm muốn. Nhưng thiên mục chỉ lướt qua hình ảnh so sánh, không nêu danh xưởng dệt, khiến mọi người tiếc nuối vô cùng.
【Ngoài phương pháp rác điện tử đã được kiểm chứng, còn có thuyết cho rằng có thể chiết xuất hoàng kim từ nước biển hoặc phân/nước tiểu người.】
【Nước biển tuy chứa nhiều khoáng chất nhưng hàm lượng hoàng kim cực thấp, phải tính bằng tấn nước biển mới thu được lượng đáng kể.】
Từ năm 1872, nhân loại đã biết trong nước biển chứa vàng, khơi dậy nhiệt huyết tinh luyện hoàng kim từ đại dương.
Viện MIT (Mỹ) từng tiến hành thí nghiệm chiết xuất vàng từ nước biển. Theo báo cáo, mỗi lít nước biển chứa khoảng 9 microgram vàng, tức 900 tấn nước biển chứa 100 triệu gam. Về lý thuyết, để thu được 1kg vàng cần xử lý hơn 100 triệu tấn nước biển.
Chu Lệ vỗ tay: "Xem kìa! Vàng quả thật có thể tinh luyện từ nước biển!"
Rồi nàng nghe tiếp...
"100 triệu tấn mới chiết xuất được 1kg?!"
Chu Lệ muốn khóc không thành tiếng. Lượng chênh lệch này không phải quá khốc liệt sao?
Chu Nguyên Chương bỗng dự cảm điềm gở. 100.000 tấn rác điện tử hay 100 triệu tấn nước biển đều chỉ thu được lượng vàng vô cùng ít ỏi. Chẳng lẽ... phân và nước tiểu cũng thế?
[Trên thực tế, chiết xuất vàng từ chất thải con người là bất khả thi. Dù có thuyết cho rằng mỗi tấn phân/nước tiểu chứa 0,1 chỉ vàng, nhưng chưa có thí nghiệm khoa học nào thành công - cơ thể người vốn không sinh ra kim loại quý.]
Chu Nguyên Chương: "............"
Thì ra hắn chọn nhầm phương án duy nhất không thể thu hoạch vàng?
[Biết đâu khi khoa học kỹ thuật đạt đến cảnh giới nhất định, việc biến rác thải kim loại thành vàng sẽ không còn là chuyện đùa.]
[Bảo vật vẫn luôn ở quanh ta, chỉ có điều ta không nhận ra vì thiếu kỹ thuật khai thác.]
[Ví như bạc - tại sao giá bạc ở Hoa Hạ luôn thấp dù không có mỏ bạc lớn?]
——————————
Ghi chú:
- Dương Châu thời Đại Vũ không phải Dương Châu hiện đại, xưa kia nơi đây từng có voi, tê giác, cá sấu và gấu Ấn Độ (hiện vẫn tìm thấy hóa thạch).
- Vàng thời Chu chủ yếu dùng cho tầng lớp thống trị (vua quan, chủ nô lệ) để m/ua lương thực. Còn nô lệ chỉ là "hàng hóa" trong m/ua b/án.
Tài liệu tham khảo:
《Lịch sử thương nghiệp Trung Hoa》
《Bàn luận về đơn vị đo lường cổ đại》
《Vàng trong nước biển》
Cảm tạ đ/ộc giả đã ủng hộ Bá Vương phiếu cùng quán khái dịch dinh dưỡng tiểu thiên sứ từ 2023-10-16 đến 2023-10-17.
Đặc biệt cảm tạ:
- Thược dược: 5 bình
- Mộng D/ao, Minh Trạch Ưu: 4 bình
- Mặc Ý, Hạ Trúc, Lang Hoàn, Ngủ Bắc: 1 bình
Xin tiếp tục đồng hành cùng tác giả trên con đường tu tiên văn chương!
Nền
Cỡ chữ
Giãn dòng
Kiểu chữ
Bạn đã đọc được 0% chương này. Bạn có muốn tiếp tục từ vị trí đang đọc?