Có người từng hỏi: "Thời Tần Hán, 'kim' phân làm hai loại là hoàng kim và đồng thau. Chẳng lẽ không bao hàm cả đồng thau?"

Không phải vậy.

Đầu tiên, thời Tần Hán có Kim Quan và Đồng Quan, phân biệt quản lý các nghề nghiệp và khu vực khác nhau.

Vùng Kinh Nam, Giang Nam Dự Chương chuyên khai thác hoàng kim, do Kim Quan trông coi. Vùng Ba Thục, Ích Châu và Ngô Việt chủ yếu khai thác đồng, thuộc quyền Đồng Quan.

Từ thời Xuân Thu Chiến Quốc, hoàng kim đã được dùng làm tiền tệ, tách biệt hẳn với đồng tiền. Điển hình nhất là nước Sở - nơi sở hữu mỏ vàng trù phú. Nước Sở không chỉ đúc tiền hoàng kim tinh xảo, còn tạo ra bạch ngân tệ sớm nhất Hoa Hạ.

Năm 1974, ngân tệ hình lưỡi xẻng được khai quật ở Hà Nam chính là minh chứng, đẩy lịch sử dùng bạc làm tiền tệ lên tận thời Xuân Thu. Tiền vàng nước Sở phần lớn đúc từ hoàng kim tự nhiên, có Dĩnh Viên và Lô Kim, còn gọi là "Dấu Kim" - loại kim bản bằng phẳng khắc minh văn đặc biệt. Ngoài ra còn có Kim Bản không khắc chữ, Kim Bính các loại.

Đến thời Tần, đồng tiền lấy "nửa lượng" làm chuẩn, còn hoàng kim tính theo đơn vị "dật". Mỗi dật tương đương hai mươi lượng, chủ yếu dùng cho hoàng đế ban thưởng đại thần hoặc giao dịch lớn. Tần Thủy Hoàng khi thống nhất tiền tệ đã quy định: "Trung Quốc dùng hai loại tiền. Hoàng kim tính theo dật là thượng tệ. Đồng tiền mang chữ 'nửa lượng', nặng đúng như tên gọi, là hạ tệ". Đây là lần đầu tiên hoàng kim chính thức trở thành tiền tệ trong lịch sử.

Thời Hán, đồng tiền vẫn là phương tiện lưu thông chủ yếu, nhưng hoàng kim đổi sang tính theo "cân" (16 lượng). Thành ngữ "tám lạng nửa cân" bắt ng/uồn từ đây. Khi ấy, hoàng kim chủ yếu tồn tại dưới dạng Kim Bính và Kim Bản. Thời Vương Mãng xuất hiện loại tiền đ/ộc đáo "Nhất đ/ao bình ngũ thiên", hai chữ "nhất đ/ao" được dát hoàng kim, mỗi đồng trị giá 5.500 th/ù tiền - chính là "Kim sai đ/ao" nổi tiếng trong sử sách.

Đông Hán kiến lập sau đó, hoàng kim trở thành công cụ lưu thông chủ yếu. 《Hậu Hán thư》 chép: "Tiền tệ dùng lẫn vải, lụa, vàng, thóc". Rõ ràng hoàng kim cũng nằm trong hệ thống tiền tệ thời Hán.

Hơn nữa, sử liệu ghi chép rõ việc các đế vương ban thưởng đều dùng hoàng kim. Sau khi Lã hậu (Lã Trĩ) nhiếp chính, đã quy định lễ nghênh hậu phải có 2 vạn cân hoàng kim làm sính lễ, trở thành định chế của Tây Hán. Ví dụ như Lã hậu cưới con gái Lỗ Nguyên Công chúa cho Hán Huệ Đế, Vương Mãng gả con gái cho Hán Bình Đế, đều theo lệ này.

Đến Đông Hán, Hán Hoàn Đế khi lập con gái quyền thần Lương Ký làm hoàng hậu cũng "theo điển cũ Hiếu Văn Đế, dâng 2 vạn cân hoàng kim, lụa là châu báu đủ cả". Công chúa thời Hán nắm thực quyền, nhiều người ảnh hưởng chính sự nên thường được ban thưởng hậu hĩnh. Hán Vũ Đế Lưu Triệt từng ban thưởng ngàn cân hoàng kim cho Đồng Thành công chúa - không phải trường hợp cá biệt. Các công chúa như Lỗ Nguyên, Quán Đào, Dương Tín, Nam Cung, Vệ Trưởng, Tác Lợi, Thạch Ấp, Bình Đô, Dương A đều từng nhận ban thưởng tương tự. Chưa kể lượng hoàng kim tùy táng trong m/ộ phần - chỉ có thể nhiều hơn chứ không ít đi.

Các hoàng đế ban thưởng cho đại thần cũng thường dùng hoàng kim làm phần thưởng, thủ bút vô cùng hào phóng.

Hán Cao Tổ ban cho Trần Bình 4 vạn cân hoàng kim để ly gián Hạng Sở. Trần Bình dùng 500 cân vàng chiêu dụ Chu Đột. Thúc Tôn Thông vì Lưu Bang chế định lễ nghi triều chính, được ban thưởng 500 cân hoàng kim.

Sau khi Hán Huệ Đế Lưu Doanh phụ hoàng băng hà, các quan viên lo liệu tang sự đều được ban thưởng: Tướng quân nhất phẩm 40 cân vàng, quan ngũ phẩm 20 cân, lục phẩm 6 cân, thất phẩm trở xuống 2 cân. Tổng số hoàng kim ban ra khiến người đời kinh ngạc, đủ thấy Hán triều sơ kỳ quốc khố sung túc.

Hán Văn Đế Lưu Hằng sau khi đăng cơ, ban thưởng cho công thần trừ khử họ Lữ: Chu Đột 5000 cân, Trần Bình và Đạm Anh mỗi người 2000 cân, Lưu Chương và Lưu Giải đều được ngàn cân.

Hán Tuyên Đế ban thưởng Hoắc Quang 7000 cân, Quảng Lăng Vương 5000 cân, chư hầu vương 15 người mỗi vị trăm cân, Lỗ Bá 200 cân, Hoàng Bá trăm cân...

Trước thủ bút hào phóng của Hán đế, quần thần Đường triều đồng loạt hướng ánh mật oán h/ận về phía Lý Thế Dân. Trinh Quán quần thần vốn tưởng mình được quân thần tương đắc, giờ đều trừng mắt nhìn vị hoàng đế đương triều.

Lý Thế Dân gấp gáp vuốt mồ hôi trán: "Ái khanh a, quốc khố trống rỗng thế nào các ngươi rõ hơn ai hết..." Ánh mắt hắn âm thầm ra hiệu cho Hộ bộ Thượng thư.

Vị quan Hộ bộ khổ sở nhìn kho bạc rỗng tuếch, bất chợt buột miệng: "Bệ hạ, hay là... chúng ta đi đào m/ộ Hán triều?"

Triều đình chợt yên ắng. Mọi người kinh hãi nhìn vị quan vốn nổi tiếng thành thực: Không ngờ ngươi lại cả gan đến thế!

Uất Trì Kính Đức vội tiếp lời: "Thần đã nghĩ tới chuyện này! Theo thiên mục tiết lộ, m/ộ phần Hán triều cuối đời bị Khăn Vàng và Tào Tháo cư/ớp phá nhiều lần. Chi bằng ta nghiêm trị bọn tr/ộm m/ộ, biết đâu thu được bảo vật?"

Quần thần đồng thanh tán thưởng: "Diệu kế!"

Lý Thế Dân: "......"

Hóa ra bọn ngươi đều chẳng phải kẻ thành thực!

* * *

Giữa Minh triều, văn võ bá quan đều giữ nét mặt bình thản. Ban thưởng trăm cân hoàng kim? Chớ nói chi xa xỉ ấy, hoàng thượng còn muốn c/ắt giảm bổng lộc, nghiêm trị tham quan - bọn họ mới thật là khổ chủ!

Chu Nguyên Chương trong lòng còn đắng hơn quần thần. Đại Minh nghèo rớt mồng tơi, nào có hoàng kim dư dả như Hán triều? Nguyên triều khi tháo chạy đã cuỗm sạch bảo vật, quốc khố trống rỗng chẳng kém gì triều Đường.

Nguyên Thuận Đế tuy võ công kém cỏi, nhưng tài phi ngựa đào tẩu thì khó ai bì kịp. Y mang theo cả kho tàng triều đình chạy về thảo nguyên, khiến Bắc Nguyên dù lui vào sa mạc vẫn có thể duy trì 163 năm, ba lần phát động chiến tranh với Minh triều - đủ thấy tài nguyên dồi dào.

Chiến tranh cần tiền, Bắc Nguyên tồn tại đến năm 1635 mới chính thức diệt vo/ng khi quy phục Hậu Kim. Kho bạc Đại Minh làm sao sánh được?

Năm 1644, triều Đại Minh cũng đi theo con đường diệt vo/ng.

Ngay từ buổi đầu lập quốc, Đại Minh không chỉ thiếu vàng bạc, mà ngay cả đồng tiền cũng không đủ dùng!

Lão Chu trong lòng đắng nghẹn. Dù trời xanh từng phê phán việc tiền giấy Đại Minh mất giá nhanh chóng, nhưng đó cũng là biện pháp bất đắc dĩ.

Bởi Đại Minh từ khi khai quốc đã không có tiền!

【Trong lịch sử có rất nhiều sự trùng hợp kỳ diệu.】

【Ví như triều đại đầu tiên của Hoa Hạ - nhà Tần chỉ tồn tại 15 năm. Hay như Tùy Dạng Đế sau khi đăng cơ, chỉ tại vị được 14 năm. Chính quyền bù nhìn cuối cùng - nước Mãn Châu Ngụy, cũng chỉ kéo dài 13 năm. Phải chăng rất dễ nhớ?】

Doanh Chính gi/ật mình: "15 năm! Hai đời quân vương mà chỉ tồn tại mười lăm năm? Chẳng lẽ ý trời báo hiệu ta cũng không sống được bao lâu nữa?"

Hắn cảm thấy hoa mắt, suýt nữa ngất đi vì kích động.

Phù Tô vội vàng lớn tiếng nhắc nhở: "Phụ hoàng, ngài đã không dùng đan dược nữa mà!"

Doanh Chính chợt tỉnh ngộ.

Đúng vậy.

Hắn đã bỏ hẳn đan dược trường sinh. Giờ đây, việc phê duyệt tấu chương trên giấy cũng tiết kiệm sức lực hơn trúc thư. Tinh thần hắn không còn mệt mỏi như xưa.

Thường xuyên để thái y kiểm tra thân thể, kiên trì luyện tập công pháp thể dục đầu tiên của Đại Tần, cả thể chất lẫn tinh thần đều cải thiện rõ rệt.

Nhất định hắn sẽ trường thọ, để Đại Tần vượt xa con số 15 năm!

.

Dương Kiên tức gi/ận đến mức ngã quỵ, Độc Cô hoàng hậu vội vàng đỡ phụ hoàng dậy. Nhưng bà cũng tái mặt vì phẫn nộ, sắc mặt trắng bệch.

Thái y vội châm c/ứu cho hai người, khí sắc họ dần hồi phục.

Dương Kiên thở dài, vẫn không nén được cơn thịnh nộ: "14 năm! Nghịch tử này đã làm gì?"

—— Dương Quảng, đứa con trai mà hắn từng kỳ vọng, sau khi kế vị đã tiêu xài phung phí quốc khố cùng nhân lực tích lũy cả đời của phụ hoàng chỉ trong 11 năm du ngoạn.

.

Huyền Diệp nhíu mày khó chịu: "Ngụy Mãn Châu quốc?"

Chính quyền bù nhìn do Nhật Bản dựng lên đó sao?

"May mà chỉ tồn tại 13 năm. Một chính quyền tay sai của ngoại bang mang danh Hoàng đế Hoa Hạ, ta thà nó chỉ tồn tại 1,3 năm!"

Đây là triều đại duy nhất khiến người ta mong mỏi sớm diệt vo/ng.

【Ví như năm 221 TCN, Tần Thủy Hoàng thống nhất lục quốc, quy chuẩn tiền tệ;】

【Năm 221 SCN, năm Hoàng Sơ thứ hai thời Tào Ngụy, Ngụy Văn Đế Tào Phi chính thức bãi bỏ đồng tiền Ngũ Th/ù, không dùng vàng bạc mà "lấy ngũ cốc lụa vải làm tiền tệ". Từ bỏ kim loại quý để quay về vật đổi vật, đảo ngược mọi nỗ lực tiền tệ hóa suốt thời Tần Hán, phá nát công lao bao đời quân thần.】

Dù việc dùng ngũ cốc vải vóc làm tiền có nguyên do - cuối thời Đông Hán tiền tệ hỗn lo/ạn, thời Tam Quốc lại thiếu lương thực.

Nhưng việc triều đình chính thức phế bỏ tiền tệ khiến kinh tế hỗn lo/ạn trầm trọng hơn, đẩy nền kinh tế Hoa Hạ vào thời kỳ đen tối.

.

Doanh Chính: "Ta thống nhất tiền tệ chỉ để người sau phá bỏ?"

Lưu Triệt: "Trẫm khổ cực đúc tiền Ngũ Th/ù thành công cốc?"

Vương Mãng: "Ta đổi tiền nhiều lần còn có lý do, ngươi thẳng tay bỏ hẳn tiền tệ? Sao không lui về thời nguyên thủy? Thời Xuân Thu chư hầu tranh hùng còn không bỏ tiền, ngươi lại lùi về đổi chác nguyên thủy?"

【Mọi nghi vấn đều có căn nguyên - từ Tây Hán trở đi, vàng bỗng nhiên khan hiếm. Ai ngờ được cuối thời Vương Mãng, vàng rẻ như đậu?】

【Vậy số vàng khổng lồ thời Tần Hán đi đâu?】

Theo khảo cổ hiện đại:

M/ộ Hải Hôn Hầu Lưu Hạ ở Nam Xươ/ng, Giang Tây (phế đế nhà Hán) khai quật được 378 hiện vật vàng, nặng hơn 250 cân - ngôi m/ộ Hán triều có lượng vàng lớn nhất từng phát hiện. Không phải vì chủ nhân có địa vị tối cao, mà do ngôi m/ộ còn nguyên vẹn.

Đây mới là lăng m/ộ một vị phế đế theo chế độ hậu bối. Nếu là đế vương, lượng vàng chỉ có thể nhiều hơn!

Trong ngôi m/ộ của Trung Sơn Tĩnh Vương Lưu Thắng cùng phu nhân tại Hà Nam, người ta khai quật được hơn một vạn khí vật bằng vàng bạc. Trong đó có 43 chiếc kim bánh - bao gồm 40 chiếc thời Hán nặng 1 lạng cùng 3 chiếc trọng lượng lớn. Ngoài ra còn phát hiện hai bộ áo ngọc nối bằng sợi vàng, riêng phần ngọc phiến dây vàng đã nặng hơn 1800 khắc. Lại có lò bạc núi thếp vàng cùng vô số đồ kim khí khác.

Năm 1982, Giang Tô khai quật được kho vàng Tây Hán chứa đầy kim tệ, trong đó chỉ riêng móng ngựa vàng và kim bánh đã nặng hơn 40 cân. Đến năm 1995, các vùng Hà Nam, Giang Tô, An Huy, Thiểm Tây liên tiếp phát hiện 216 kim bánh cùng lượng lớn móng ngựa vàng, vảy chỉ kim thời Tây Hán. Năm 1999, ngoại ô đông bắc Tây An lại xuất lộ 219 kim bánh với tổng trọng lượng hơn 200 cân.

Điều kỳ lạ là những kho báu này không nằm trong m/ộ táng hay kiến trúc kho lẫm, mà ch/ôn vùi giữa đồng hoang. Các sử gia suy đoán chúng có liên quan đến chính quyền Vương Mãng, có lẽ là chiến lợi phẩm bị cư/ớp đoạt rồi tạm thời ch/ôn giấu nơi dã ngoại.

Dưới màn trời, dân chúng khắp nơi đổ xô tìm vận may mới. Nông dân hăm hở tuyên bố: 'Ta phải khai hoang thêm nữa, cày cấy cho thật tốt!' Không phải vì mong đào được vàng giữa đồng hoang, mà vì chính việc canh tác.

Thương nhân cũng bỗng dưng hứng thú với nghề nông: 'Ừm, nông nghiệp vốn là gốc rễ của Hoa Hạ. Chúng ta cũng nên tự tay trồng trọt, tự mình lao động.'

Bề ngoài, các đại quý tộc ra vẻ không màng: 'Nhà ta đâu thiếu vàng bạc, cần gì làm chuyện thô kệch ấy!' Nhưng khi con cháu bàn tán xôn xao về địa điểm đào vàng, họ lại khẽ nhắc nhở: 'Hãy đổi sang y phục hạ nhân, khiêm tốn một chút.'

Lũ trẻ tưởng bậc trưởng bối sáng suốt, gật đầu lia lịch chỉ sợ người lớn đổi ý. Chúng đâu biết các bậc đại nhân đang tính toán kỹ càng: 'Bọn trẻ đào được vàng rồi, phủ ta có thể ngừng cấp tiền tiêu vặt. Chúng tự nuôi được chính mình, ta lại tiết kiệm được một khoản để giao thiệp quan trường - hoàn hảo!'

[Hiện đại chúng ta thường thấy tin tức nông dân đào được đầu chó vàng khi canh tác. Đầu chó vàng chính là 'móng ngựa kim' thời Tây Hán - loại vàng tự nhiên không cần tinh luyện. Mỗi lần phát hiện đều gây chấn động thế giới.]

[Nước ta hiện đã phát hiện nhiều đầu chó vàng tại Hồ Nam, Tứ Xuyên, Thiểm Tây, Hắc Long Giang, Cát Lâm, Thanh Hải, Sơn Đông, Hà Bắc...]

[Điều trọng yếu là đầu chó vàng thường xuất hiện ở mỏ vàng tự nhiên, chính là chỉ thị tiêu quan trọng. Nơi nào có đầu chó vàng, nơi đó ắt tồn tại mỏ vàng!]

Màn trời hiện lên hình ảnh đầu chó vàng - thứ kim loại quý hình thành tự nhiên với bề mặt láng bóng nhưng lỗ chỗ tổ ong, lẫn tạp chất cát đ/á nhưng có độ tinh khiết cao hơn quặng vàng thông thường. Dáng vẻ của nó khiến người ta liên tưởng đến củ gừng, đầu chó hay móng ngựa, tên gọi cũng tùy theo độ tinh khiết mà biến đổi.

Nhưng dù tên gọi là gì, màu vàng rực rỡ ấy vẫn khiến bao người ở mọi thời đại thổn thức: 'Giá như ta cũng đào được đầu chó vàng lúc cày ruộng...'

[Các sử gia đều công nhận rằng vàng thời Hán chủ yếu tập trung trong tay chư hầu vương. Họ không chỉ nắm quyền khai thác mỏ mà còn sở hữu quyền đúc tiền. Các Hoàng đế Tây Hán qua các đời đều ra sức thu hồi hai thứ quyền lực này.]

Ngoại trừ Lưu Triệt, khi Hoàng đế cuối cùng không thể kiểm soát chư hầu, ngươi cho rằng liệu chư hầu còn chịu thành thật cống nạp vàng ròng?

Không thể nào!

Các phiên vương thà mang vàng ròng ch/ôn theo trong lăng m/ộ, cũng không chịu dâng lên triều đình.

Vì thế, sử học giới luôn tồn tại quan điểm: Tây Hán diệt vo/ng bởi hậu táng.

Thời Tây Hán, dân gian lưu hành chủ yếu đồng tiền ngũ th/ù. Các đế vương tướng lĩnh tiêu tiền như nước, ban thưởng phóng túng, đồng thời xem vàng ròng như bảo vật tích trữ.

Đến thời Đông Hán, tuy vàng vẫn được lưu hành trên thị trường, nhưng đã hiếm thấy vương công quý tộc tiêu xài hoang phí.

Ngược lại, quan lại Đông Hán tiết kiệm vàng như mạng sống. Thế lực hào cường Đông Hán không ít, họ trân quý vàng không phải vì thiếu hụt, mà do thị trường khan hiếm.

Lưu Tú gật đầu thảm thiết: "Trẫm vẫn thắc mắc lượng vàng khổng lồ trong sử sách biến đi đâu, nguyên lai đều ch/ôn xuống đất cả rồi."

Một phần lớn bị ch/ôn theo m/ộ táng, phần khác bị giấu ngoài đồng hoang. Mỗi lần ch/ôn cất tốn hàng trăm cân, mỗi lần ch/ôn giấu cũng hàng trăm cân.

Nhìn những mỏ vàng khai quật từ thiên mạch mọc lên như nấm, khắp đông tây nam bắc đều có, biết đâu còn bao nhiêu chưa được phát hiện?

Lưu Tú giờ mới thấm thía: Tây Hán diệt vo/ng, quả thực liên quan mật thiết đến hậu táng xa hoa!

"Sau khi trẫm băng hà, hậu sự phải tối giản!" Lưu Tú nhấn mạnh với hoàng tử Lưu Trang, "Không cần vàng ròng, không cần tuẫn táng, chỉ cần tượng gốm thế thân là đủ!"

Lưu Trang gật đầu lia lịa. Trong lòng hắn thầm nghĩ: "Phụ hoàng ơi, con còn không có vàng để dùng nữa là!"

Huống chi, từ khi thiên mạch tiết lộ Hán m/ộ chứa vàng, bọn tr/ộm m/ộ ắt sẽ hoành hành dữ dội. Hắn dám khẳng định, từ nay về sau chẳng ai dám hậu táng xa xỉ.

Phần lớn vàng ròng bị vùi sâu dưới huyệt m/ộ. Nhưng ai cũng biết, Hán m/ộ bị đào tr/ộm thảm hại, mười phần chín mất. Cuối cùng, khi vàng ròng quay lại lưu thông trong lo/ạn thế, giá trị không sánh được lương thực, không ngừng mất giá khiến thị trường hỗn lo/ạn.

Đến khi Đông Hán kiến lập, giá vàng đã giảm mạnh trên diện rộng.

Giữa thời Đông Hán, tiền tệ bắt đầu xuất hiện khủng hoảng, nảy sinh hiện tượng tiền xén - một loại tiền tệ kỳ dị được chế tạo bằng cách c/ắt xén.

Tiền xén chính là dùng công cụ chuyên dụng khoét rìa ngoài đồng tiền nguyên vẹn (như ngũ th/ù tiền), sau đó dùng phần còn lại làm tiền lưu hành.

Tạo hình kỳ quái này nhằm mục đích gì?

Đương nhiên là để c/ắt phần xén được đúc lại thành đồng tiền nhỏ hơn.

Cách làm này giống thời Hán Sơ, khi Hán Cao Tổ cho đúc loại tiền mỏng manh gọi là "Giáp tiền". Dân gian đem tiền Tần chất lượng cao (đồng nửa lượng) nấu chảy đúc thành nhiều giáp tiền, một đồng Tần nửa lượng có thể đúc ra mấy giáp tiền.

Đây đều thuộc về phương pháp giảm trọng. Tiền đúc ra tuy nhiều hơn nhưng chất lượng càng nhẹ càng kém.

Cuối thời Đông Hán, khi Viên Thuật, Tào Tháo khởi binh đ/á/nh Đổng Trác, hắn ép Hán Hiến Đế dời đô về Trường An, tự mình đúc tiền. Đổng Trác cũng dùng cách nấu chảy tiền lớn thành tiền trinh.

Hắn không chỉ nấu chảy ngũ th/ù tiền, còn cho nấu cả tượng đồng Lạc Dương - Trường An, ngựa đồng, nhạc khí đồng, trong đó có 9 tượng đồng trong "Mười hai kim nhân" do Tần Thủy Hoàng sai đúc.

Tiền trinh do Đổng Trác đúc ra vừa nhỏ vừa thô, không có văn tự rõ ràng, chất lượng cực thấp.

Ngũ th/ù tiền phát hành thời Hán Vũ Đế được xem là cải cách tiền tệ thành công nhất, xuyên suốt lịch sử bốn trăm năm Đại Hán.

Vào hậu kỳ Đông Hán, dù dân chúng có tư đúc tiền, cũng chỉ là cải biến trên cơ sở ngũ th/ù tiền, chứ không thể phế bỏ địa vị tiền tệ của đồng này.

Thế nhưng thành công này bị Đổng Trác phá hoại, khiến mọi nỗ lực đổ xuống sông xuống biển. Tiền chất lượng kém ngày càng nhiều dẫn đến lạm phát, thị trường kinh tế hỗn lo/ạn vô cùng. Tình trạng này kéo dài mãi đến tận thời Ngụy Tấn Nam Bắc triều.

Dưới bàn tay những kẻ thống trị bất tài vô kinh tế, tiền tệ ngày càng rối lo/ạn, rơi vào vực thẳm suy đồi.

Bị màn trời vạch trần bản chất tiền tệ, Ngụy Văn Đế Tào Phi vội tìm cớ thoái thác: "Quả nhiên là lỗi tại Đổng Trác! Trẫm chỉ hành động bất đắc dĩ."

Tiền đồng đã mất giá, còn chẳng bằng lương thực vải vóc đáng tiền. Hắn lấy cớ dùng lương thực vải vóc trao đổi trực tiếp có gì sai? Không sai chút nào - đây rõ ràng là để tiện lợi cho bách tính!

Tào Phi vốn dĩ chẳng hiểu kinh tế, nghĩ sao nói vậy. Đám đại thần Ngụy quốc cũng một lòng tán thành, cho đến khi màn trời vang lên giảng giải tầm quan trọng của tiền tệ:

【Xưa nay Hoa Hạ trọng nông kh/inh thương, quan lại thậm chí thương nhân đều mang tư tưởng tiểu nông. Họ ngộ nhận rằng tiền tệ như ruộng đất - càng nhiều càng tốt. Nhưng trước hết phải hiểu: Tiền tượng trưng cho cái gì? Chỉ đơn thuần số lượng lớn đã là tốt sao?】

【Tất nhiên không phải! Tiền tệ phải gắn liền với hàng hóa. Tiền nhiều hàng ít sẽ gây lạm phát - giá cả tăng vọt, tiền mất giá. Ngược lại, tiền ít hàng nhiều sẽ gây giảm phát - tiền tăng giá, n/ợ nần chồng chất theo.】

【Lấy ví dụ từ cuộc chiến tiền tệ của Gia Cát Lượng...】

Trước trận Ích Châu, Lưu Bị hứa với ba quân: "Sau khi hạ thành, kho báu trong phủ khố tùy các tướng sĩ phân chia!" Khi Ích Châu thực sự thất thủ, kho báu hữu hạn bị chia sạch không còn mảnh vải.

Quân sư lo lắng chiến phí tương lai, khuyên chỉ nên ban thưởng một phần. Lưu Bị khăng khăng: "Một lời đã ra khó thu, ta đâu thể thất tín với ba quân!"

Hắn đi lại trong trướng than thở: "Nếu ta nuốt lời, tướng sĩ đi cư/ớp bóc dân chúng thì sao?" Quân sư gấp giọng: "Chúa công, quân phí sắp cạn kiệt rồi!"

"Chi bằng đúc thêm tiền lớn!" Lưu Bị đ/ập bàn quyết định, "Thu thập ngũ th/ù tiền trong dân, đúc thành đồng tiền mới giá trị trăm lần - gọi là Thẳng Trăm Rưỡi Th/ù Tiền!"

Sau khi thu hồi ngũ th/ù tiền, triều đình Thục quốc dùng vải vóc lương thực đền bù cho dân. Trong ngắn hạn, phủ khố đầy ắp, quân phí đủ dùng. Dân chúng có vật chất thực tế nên chưa xảy ra lạm phát hay đói kém.

Nhưng đây thực chất là bòn rút tài sản dân đen! Toàn bộ đồng tiền Ích Châu chảy về phủ khố Lưu Bị, khi m/ua vật tư ngoại địa lại chảy sang Ngụy - Ngô, khiến hàng hóa trong nước cạn kiệt. Lương thực vải vóc trong kho cũng cấp phát hết cho dân, khiến quân đội thiếu thốn.

Thẳng Trăm Rưỡi Th/ù Tiền danh nghĩa trị giá trăm lần, nhưng xét hàm lượng đồng thực tế chẳng đáng giá bao nhiêu. Khác với tiền giấy, kim loại tiền tệ mang giá trị nội tại - hàm lượng kim loại quyết định giá trị. Đồng tiền kém chất lượng đ/á/nh mất phần lớn giá trị thực.

Dùng ngũ th/ù tiền thu hồi để đúc Thẳng Trăm Rưỡi Th/ù Tiền nhìn thì nhiều, giá trị thực tế lại thấp. Muốn m/ua vật phẩm trị giá trăm đồng, trên lý thuyết chẳng ai chấp nhận loại tiền này!

Lưu Bị lại bắt đầu lo lắng: "Phủ khố tuy dồi dào, nhưng bách tính phải làm sao? Đồng tiền này trọng lượng vốn chẳng đáng giá trăm th/ù."

Gia Cát Lượng đã sớm chuẩn bị kế hoạch: "Chúa công an tâm, chúng ta dùng số tiền này sang Ngụy - Ngô m/ua hàng hóa là được."

Trương Phi hừ lạnh: "Ngụy Ngô đâu phải kẻ ngốc, chút tiền ấy sao đủ m/ua vật giá trăm th/ù?"

Gia Cát Lượng mỉm cười thâm sâu: "Ta đã quy định - gấm Thục Cẩm chỉ được m/ua bằng đồng Thục ngũ th/ù thẳng trăm rưỡi th/ù!"

Gấm Tứ Xuyên vốn là vật phẩm ngoại giao được săn đón nhất. Đất Thục xưa nay vốn là "xứ tằm tang", mỗi nhà đều có vườn dâu ruộng dệt. Thêm vào đó chiến lo/ạn liên miên, địa thế hiểm trở nơi đây trở thành nơi tị nạn cho thợ dệt Trung Nguyên.

Gia Cát Lượng còn thiết lập "Gấm quan" ở Thành Đô, biến toàn bộ ngành gấm Ích Châu thành quốc doanh quy mô. Từ đó Thành Đô được mệnh danh "Gấm quan thành", trở thành trung tâm sản xuất và phân phối lụa cao cấp lớn nhất thế giới bấy giờ.

Dù Ngụy - Ngô nhiều lần chê bai chất lượng gấm Thục là "man di thô lậu", nhưng quý tộc khắp nơi vẫn say mê không ngừng. Thương nhân các nước nườm nượp kéo đến Thục quốc:

"Gấm Tứ Xuyên quả thực tuyệt mỹ! Giá bao nhiêu?"

Thương nhân Thục quốc được lệnh cười đáp: "Hai đồng Thục ngũ th/ù."

"Rẻ thế!" Thương nhân Ngụy - Ngô vội vàng đổi tiền. Nhưng khi cầm đồng thẳng trăm rưỡi th/ù nhẹ tênh, họ gi/ận dữ: "Tiền này đâu đáng giá trăm th/ù?"

Thương nhân Thục quốc kiên quyết: "Muốn m/ua gấm thì phải dùng Thục ngũ th/ù!"

Cuối cùng, thương nhân hai nước đành cắn răng m/ua. Họ tính toán sẽ nâng giá gấm khi về nước, nào ngờ đã rơi vào kế sâu.

Đồng tiền Ngụy - Ngô ào ạt chảy về Thục quốc. Lưu Bị vui mừng nhìn núi bạc chất cao: "Những đồng tiền này đáng giá hơn Thục ngũ th/ù nhiều!"

Lưu Bị cười khẽ: "Giao dịch minh bạch, người m/ua tự nguyện."

Gia Cát Lượng vuốt râu cười: "Trận chiến tiền tệ này vẫn chưa kết thúc." Ông truyền lệnh: "Đem số tiền này đúc lại thành Thục ngũ th/ù, rồi sang Ngụy - Ngô m/ua lương thảo, vải vóc và vũ khí!"

Lưu Bị cười vang: "Vì gấm Thục Cẩm, bọn họ tất không từ chối!"

Quả nhiên, quý tộc Ngụy - Ngô sẵn sàng đổi lương thực trị giá trăm th/ù để lấy những đồng Thục ngũ th/ù nhẹ bỗng. Thục quốc thong dong vượt qua khủng hoảng tiền tệ.

Thục Ngũ Th/ù, tức đồng tiền trị giá một trăm năm mươi đồng, đã trở thành đồng tiền quốc tế thông dụng khắp Tam Quốc. Khủng hoảng kinh tế Thục quốc bất ngờ được chuyển giao sang Ngụy quốc và Ngô quốc.

Đồng thời, lượng lớn gấm Tứ Xuyên tràn vào thị trường Ngụy - Ngô khiến ngành dệt lụa thủ công phân tán của hai nước này chịu xung đột nghiêm trọng, dần suy sụp.

Thời Tam Quốc vốn là giai đoạn nhiệt độ hạ thấp. Vùng phía bắc Tần Lĩnh - Hoài Hà nhiệt độ phổ biến giảm sâu, ngành trồng dâu nuôi tằm ở Sơn Đông, Hà Nam chịu ảnh hưởng nặng nề. Ngành tơ lụa Trung Nguyên suy yếu trầm trọng từ thời Đông Hán - Tam Quốc, mãi đến thời Tống mới hồi phục.

Từ Ngụy Tấn đến Tùy Đường, cái gọi là 'Hoa Hạ tơ lụa' kỳ thực 90% là gấm Tứ Xuyên từ Thành Đô. Gia Cát Lượng thông qua cuộc chiến tiền tệ này không ngừng cư/ớp đoạt tài phú, vật tư của Ngụy - Ngô, đồng thời giúp gấm Tứ Xuyên đ/ộc chiếm địa vị gần như đ/ộc quyền trên thị trường dệt lụa!

Quý tộc văn nhân Ngụy quốc than trời: 'Không có gấm Tứ Xuyên, da thịt ta sao chịu nổi khổ cực này!'

Một nguyên nhân trọng yếu khác khiến gấm Tứ Xuyên được sủng ái thời Ngụy Tấn chính là Ngũ Thạch Tán. Sau khi uống loại th/uốc này, làn da trở nên cực kỳ nh.ạy cả.m và yếu ớt. Vải thô áo gai sẽ gây đ/au đớn khi m/a sát, chỉ có lụa là mềm mại phù hợp.

Gấm Tứ Xuyên không chỉ đáp ứng nhu cầu quý tộc, mà còn phù hợp thẩm mỹ của họ - nam nữ đều mặc trên người, treo giường tủ, trang trí đình lầu, không chỗ nào không dùng.

Nhu cầu đi/ên cuồ/ng ấy khiến dù chiến tranh Ngụy - Thục cấm m/ua b/án gấm Tứ Xuyên, vô số thương nhân vẫn bí mật buôn lậu.

Tôn Quyền nước Ngô cười lạnh: 'Ngươi có Ngũ Th/ù trị giá trăm rưỡi đồng, ta không thể đúc tiền lớn sao? Ta có Đại Tuyền Ngũ Bách! Một đồng đổi năm trăm!'

Vừa hay thiên mục nhắc đến Ngô quốc:

【Khi Ngụy - Ngô phát hiện chân tướng Thục Ngũ Th/ù thì đã muộn. Đồng tiền hai nước đã chảy mất, vật tư hao hụt nghiêm trọng, chỉ đổi về đống Thục Ngũ Th/ù vô dụng.】

【Tôn Quyền bị kích động, quyết định bản địa hóa tiền tệ - đúc 'Đại Tuyền Ngũ Bách' (1 đồng trị giá 500), hai năm sau lại chế 'Đại Tuyền Đương Thiên' (1 đồng đổi 1000), ép dân chúng cưỡ/ng ch/ế hối đoái để thu về vật tư trị giá 500-1000 đồng.】

【Nhưng dân chúng không có đủ hàng hóa, tiền tệ mất sức m/ua, trên diện rộng bị mất giá.】

Chu Nguyên Chương chợt suy tư, lòng dâng lên nghi hoặc. Trước nay hắn cho rằng in tiền giấy Đại Minh là chính sách khôn ngoan, nay bị thiên mục cảnh tỉnh: 'Hóa ra hàng hóa không phải cứ in tiền là có?'

Chính sách tài chính của Chu Nguyên Chương mang đậm cá tính mãnh liệt:

- Thiếu quân phí: in tiền

- C/ứu trợ thiên tai: in tiền

- Thưởng quan viên: in tiền

Hắn luôn thấy phương pháp này hữu hiệu: Quân đội suýt tạo phản vì thiếu lương, một phát tiền giấy Đại Minh liền ổn định. C/ứu trợ thiên tai thiếu vật tư, phát tiền giấy m/ua lương thực cũng qua được khó khăn. Quan viên nhận thưởng bằng tiền giấy cũng không phàn nàn.

'Tiền giấy Tống - Nguyên dùng tốt là thế, sao Đại Minh lại không thể?' - hắn băn khoăn.

Vương công quý tộc cũng thắc mắc: 'Sao dân gian lại không có hàng hóa?'

Không gặp thiên tai, mùa thu lương thực bội thu. Phụ nhân chỉ cần chăm chỉ dệt cửi, vải vóc cũng chẳng thiếu thốn."

Triều đình văn võ bá quan dù có thần tử văn thao võ lược, nhưng hiểu biết kinh tế thương mại lại chẳng mấy người tinh thông. Các đại thần nghe vậy đều cảm thấy kỳ lạ.

"Hàng hóa chợ đông không có, ắt chợ tây sẽ b/án. Phương nam không sản xuất, phương bắc tất có dư. Nông dân không trữ, thương nhân tự khắc vận chuyển tới. Thậm chí Trung Nguyên không sở hữu, ngoài biên ải hay hải ngoại cũng tất tìm được."

"Đất Trung Nguyên rộng lớn bao la, làm gì đến nỗi không có chứ?"

Có vị quan liên tưởng đến thiên tai chư hầu đại Minh mà màn trời từng nhắc, ám chỉ nói: "Chẳng lẽ giống như mỏ vàng bị chư hầu đại Hán đ/ộc chiếm, bọn họ cũng đang thao túng?"

Chữ "bọn họ" rõ ràng ám chỉ các phiên vương chư hầu.

Chu Nguyên Chương ánh mắt đóng băng, nhưng vẫn kìm nén không quát m/ắng bá quan.

Lời ấy quả thực đáng suy ngẫm. Về cuối đại Minh, các chư hầu không những c/ắt xén thuế má, mà còn đ/ộc chiếm vật tư địa phương. So với việc này, tiền giấy đại Minh chỉ là vấn đề nhỏ, cốt tử chính là mối họa từ các phiên vương!

Màn trời từng nói chư hầu đại Hán giữ vàng, chư hầu đại Minh còn lộng hành hơn gấp bội, quả thực là mối họa ngầm khôn lường!

【Điều trọng yếu nhất là loại tiền tệ này không thể lưu thông ngoại thương. Ngô quốc không có thứ như gấm Tứ Xuyên - mặt hàng có sức mạnh tiền tệ tương đương. Khi đồng Đại Tuyền không thể sử dụng bên ngoài, lạm phát cuối cùng chỉ có thể tự nội bộ gánh chịu.】

Tôn Quyền: "............"

Thì ra hắn không những bị lừa gạt, mà còn bắt chước theo gió khiến nguy cơ càng thêm trầm trọng?

Tào Tháo vốn đã nếm trải mưu kế kinh h/ồn của Gia Cát Lượng, giờ lại cảm nhận thêm một tầng đ/áng s/ợ khác.

"Chuyện tiền tệ này thật khiến người đ/au đầu."

Tào Phi đồng tình gật gù.

Sau lo/ạn Đổng Trác, Tào Tháo cùng Tào Phi đều từng nỗ lực khôi phục chế độ ngũ th/ù tiền thời Hán Vũ Đế, nhưng rốt cuộc thất bại vì nhiều nguyên do.

Việc Tào Phi phế bỏ tiền tệ, dùng ngũ cốc vải vóc trao đổi trực tiếp, trong mắt Tào Tháo cũng dễ hiểu - lương thực đắt đỏ quá, chi bằng dùng vật đổi vật cho tiện.

Nhưng giờ mới nhận ra sai lầm: Nếu dùng đồng tiền trăm rưỡi th/ù để m/ua lương thực vải vóc, chẳng phải càng thêm thảm họa?

Huống chi Ngô quốc còn có "Đại Tuyền năm trăm", "Đại Tuyền ngàn lượng". Giả sử dùng chúng m/ua lương thực nước Ngụy, một đồng tiền đổi năm trăm cân ngũ cốc, ngàn tấm lụa... nghĩ thôi đã thấy k/inh h/oàng!

"Không được, không được! Tiền tệ vẫn phải nghiên c/ứu chỉnh đốn." Tào Tháo ôm đầu, chứng đ/au nửa đầu lại tái phát - lần này là bị màn trời làm cho hoa mắt.

Tào Phi cảm giác mình sắp thừa hưởng chứng bệ/nh của phụ thân, bởi đầu óc đã bắt đầu quay cuồ/ng: "Nói thì dễ, nhưng tìm người tài kinh tế ở đâu?"

Hai cha con đối diện, mắt nhìn mắt. Giá mà tìm được nhân tài, họ đâu đến nỗi phải bỏ tiền tệ?

Tào Tháo thở dài, nhớ đến Quan Vũ mà hắn hằng mơ ước, giờ lại thèm muốn Gia Cát Lượng - bậc kỳ tài kinh tế mà nước Ngụy không có. Hắn bất giác thốt lên: "Lưu Bị quả nhiên có phúc, thu phục được nhiều hiền tài đến thế! Thật muốn đào góc tường của hắn!"

【Trong các giao dịch tiền tệ thời ấy, đồng trăm rưỡi th/ù không phải nhân tố quyết định. Hậu kỳ Đông Ngô chỉ thấy vẻ ngoài hào nhoáng, bắt chước đúc tiền lớn nhưng lại gặp phản ứng ngược.】

【Bởi lẽ, thứ quyết định thực sự chính là vật dự trữ đằng sau đồng tiền. Đồng trăm rưỡi th/ù được hậu thuẫn bằng gấm Tứ Xuyên - mặt hàng không thể thay thế khiến người ta buộc phải dùng nó.】

【Trong khi đó, đại tiền của Tôn Ngô chẳng có bất kỳ sản phẩm đặc hữu nào đáng giá đứng sau.】

Các nhà khảo cổ hiện đại phát hiện lượng "Trăm rưỡi th/ù" khổng lồ trong các ngôi m/ộ Đông Ngô. Hơn nữa, tại Bắc Kinh, Hà Nam, An Huy, Giang Tô, Hồ Bắc, Chiết Giang, Hồ Nam, Giang Tây... nhiều kho báu và m/ộ táng thời Tây Tấn cũng xuất hiện lượng lớn đồng tiền này.

Trong lãnh thổ Thục Hán, đồng tiền "Lớn suối tiền" của Đông Ngô và "Ngụy Ngũ th/ù" cũng hiếm khi xuất hiện. Điều này đủ chứng minh học thuyết tiền tệ của Ngô-Ngụy không thể lưu hành tại Thục quốc.

Theo phân tích, đồng "Trực Bách Ngũ Th/ù" của Gia Cát Lượng tựa như tiền tín dụng thời hiện đại. Bản chất nó không mang giá trị thực, mà giá trị thực sự nằm ở tấm gấm Tứ Xuyên - vật phẩm dự trữ giá trị đằng sau. Sau khi cơ chế tiền tín dụng này được thiết lập, đồng Trực Bách Ngũ Th/ù ngày càng được đúc mỏng nhẹ hơn. Xét như đồng tiền, nó ngày càng mất giá, nhưng xét như công cụ tín dụng thì đã tương đối hoàn thiện.

Tôn Quyền học theo cải cách tiền tệ này nhưng thất bại thảm hại. Sau khi đồng "Đại Tuyền Ngũ Bách" và "Đại Tuyền Nhất Thiên" mất giá, ông ta cho đúc "Đại Tuyền Ngũ Thập" nhằm phá vỡ hệ thống tiền tệ Tào Ngụy. Ngô quốc sai binh sĩ giả dạng quân Ngụy đi m/ua vật tư, bắt chước thành công của Thục Hán. Kết cục Tào Ngụy hoàn toàn không chấp nhận, khiến "Đại Tuyền Ngũ Thập" bị thu hồi chưa đầy một năm.

Lý giải sâu hơn: Trực Bách Ngũ Th/ù thuộc loại tiền tín dụng, tương tự tiền giấy hiện đại lấy vàng làm bản vị. Giá trị tiền giấy được quyết định bởi dự trữ vàng - cơ chế giống hệt chế độ bá quyền tiền tệ của Mỹ.

Doanh Chính hai mắt bừng sáng! Đại Tần không thiếu vàng - đây chính là then chốt của bá quyền tiền tệ. Cần phân tích kỹ hơn!

Về ng/uồn gốc bản vị vàng hiện đại, phải nhắc đến nhà khoa học lỗi lạc Isaac Newton. Thế nhân chỉ biết ông là nhà vật lý thiên tài, ít ai hay Newton còn là nhà kinh tế học xuất chúng. Chính ông đã khai sinh chế độ bản vị vàng hiện đại.

Năm 1717, khi đảm nhiệm chức vụ tại Sở đúc tiền Anh, Newton sau cuộc chiến chống tiền giả với William Chaloner đã quyết định lấy vàng làm bản vị cho đồng bảng Anh. Ông ấn định giá vàng ở mức 3 bảng 17 shilling 10.5 penny mỗi ounce. Đến năm 1797, Anh chính thức ban hành chế độ bản vị vàng, x/á/c lập vị thế của kim loại quý này trong hệ thống tiền tệ. Năm 1816, Đạo luật Kim bản vị được thông qua, hoàn thiện cơ chế phát hành tiền giấy dựa trên vàng dự trữ.

Thế kỷ 19, chế độ kim bản vị lan rộng khắp các quốc gia tư bản nhờ vị thế "Đế quốc Mặt trời không lặn" của Anh. London trở thành trung tâm tài chính toàn cầu, hình thành hệ thống kim bản vị quốc tế lấy bảng Anh làm trung tâm - còn gọi là "Chế độ bản vị hối đoái bảng Anh".

Các hoàng đế Tần-Hán lúc này đều toan tính. Thiên mạt từng đề cập Đại Đường cũng là cường quốc đương thời, lại có ngoại thương phát triển. Ngoài tơ lụa, vàng dự trữ liệu có thể mở ra cuộc chiến không khói sú/ng? Các đế vương thời Đường-Tống càng thêm động tâm - thời kỳ này ngoại thương nhộn nhịp, đồ sứ cũng được hải ngoại săn đón không kém gấm vóc.

Hơn nữa, dù là Đại Đường Khai Nguyên Thông Bảo hay đồng tiền thời Tống triều, đều được hải ngoại vô cùng hoan nghênh với sức m/ua cực mạnh.

Tống triều được xem là trung tâm kinh tế thế giới, đồng tiền của họ lưu hành khắp Đông Á.

“Đại Tống không có hoàng kim, không biết đồng tiền có dùng được chăng?” Triệu Khuông Dận bỗng trở nên cực kỳ nghiêm túc, vừa suy tính vừa đ/á Triệu Quang Nghĩa một cước, “Mau động n/ão, không nghĩ ra thì ta ch/ặt ngươi.”

Triệu Quang Nghĩa: “......”

Rõ ràng ngày ngày mong hắn ch*t, trước khi ch*t còn muốn bóc l/ột hắn, thật quá đáng.

Nhưng nghĩ đến ngoại thương, ánh mắt Triệu Quang Nghĩa bỗng lóe lên: Nếu để mình phụ trách mậu dịch hải ngoại, thao túng cuộc chiến tiền tệ này, biết đâu có thể nhân cơ hội thoát khỏi Đại Tống, ra hải ngoại xưng vương xưng bá?

Nghĩ đến đây, Triệu Quang Nghĩa càng thêm hăng hái.

Triệu Khuông Dận nhìn thấu tâm tư đệ đệ, nhưng không nói gì.

Vàng bạc ngoại quốc ư? Nhật Bản kia chẳng phải có lượng lớn hoàng kim bạch ngân sao? Ném Triệu Quang Nghĩa sang đó thăm dò đường như dùng đồ phế thải, hắn thấy rất hợp lý.

【Nước Mỹ nhờ chiến tranh mà trỗi dậy, địa vị bá quyền của USD cũng thay thế Bảng Anh nhờ chiến tranh.】

Sau khi Thế chiến bùng n/ổ, kinh tế nước Anh chịu ảnh hưởng nặng nề, chế độ bản vị hối đoái Bảng Anh bị phá vỡ. Nước Mỹ nhờ buôn b/án vũ khí trong chiến tranh mà vụt trỗi dậy.

Sau Thế chiến thứ hai, Mỹ trở thành kẻ thu lợi lớn nhất, bắt đầu vươn lên mạnh mẽ, thay thế vị thế bá chủ thế giới của Anh, đồng thời thay thế luôn địa vị của Bảng Anh.

Nước Mỹ thiết lập hệ thống tiền tệ quốc tế lấy USD làm trung tâm - “Hệ thống Bretton Woods”, đây cũng là một dạng chế độ bản vị vàng. Tuy trong nước không lưu hành vàng, nhưng Mỹ cho phép các chính phủ khác dùng USD để đổi lấy vàng. USD trở thành tài sản dự trữ chủ yếu của các quốc gia.

Trước khi “Hệ thống Bretton Woods” sụp đổ, USD luôn gắn với vàng, còn các đồng tiền khác thì gắn với USD. Nhờ đó, nước Mỹ thông qua tiền tệ đã thiết lập địa vị bá chủ thống trị toàn cầu.

Để dễ hiểu, lấy ví dụ về gấm Tứ Xuyên đã đề cập trước đó.

Nếu 2 đồng tiền Trực Bách Ngũ Th/ù có thể m/ua một tấm gấm Tứ Xuyên, thì 1 đồng Thục Ngũ Th/ù chỉ m/ua được nửa tấm.

Nhưng về sau, tiền Trực Bách Ngũ Th/ù thời Hậu Thục Hán ngày càng mỏng, lượng phát hành ngày càng nhiều. Từ chỗ 2 đồng m/ua một tấm gấm, sau này phải cần đến 10 đồng. Sức m/ua của Trực Bách Ngũ Th/ù suy giảm rõ rệt.

Cùng thời điểm đó, khi Ngụy quốc và Ngô quốc b/án lương thực vải vóc, dùng Trực Bách Ngũ Th/ù để kết toán - số tiền trong tay không đổi, nhưng lượng gấm Tứ Xuyên m/ua được lại ít đi. Điều này khiến Trực Bách Ngũ Th/ù mất giá nghiêm trọng.

Ngụy quốc và Ngô quốc chẳng làm gì, nhưng tài sản trong tay vẫn mất giá. Đó chính là thị trường tiền tệ bị Thục quốc thao túng.

Bá quyền USD cũng tương tự như vậy.

Sau khi thiết lập bá quyền qua Hệ thống Bretton Woods, Mỹ yêu cầu các nước dùng USD để giao dịch, tỷ giá hối đoái cũng lấy USD làm chuẩn. USD lấy vàng làm bản vị.

Trước khủng hoảng kinh tế, tỷ giá hối đoái vàng của Mỹ là 1 ounce tương đương 20.67 USD.

Khi khủng hoảng kinh tế ập đến, Mỹ chọn in thêm tiền để vượt qua nguy cơ. Lượng vàng không đổi, nhưng sức m/ua USD giảm sút, khiến cần đến 35 USD mới đổi được 1 ounce vàng - USD đã mất giá.

Hơn nữa, giá trị đồng tiền này không ngừng giảm. Chính phủ Mỹ còn cấm dân gian đổi vàng và tư hữu vàng, khiến dân chúng chỉ còn trên tay đống tiền giấy vô giá trị.

Các nước khác nắm giữ USD cũng theo đó mà mất giá, thậm chí nghiêm trọng đến mức ảnh hưởng cả nền kinh tế quốc gia.

Ví như nước Mỹ từng dùng USD đầu tư mạnh vào hải ngoại, thu m/ua công ty các quốc gia khác, mỗi lần ra tay đều là hàng trăm vạn, hàng chục triệu USD.

Thế nhưng khi kinh tế Mỹ quốc lâm nguy, USD bỗng mất giá như đống giấy vụn. Những công ty bị thu m/ua trở thành đống giấy lộn vô dụng trong tay chủ cũ, khiến không ít người tuyệt vọng nhảy lầu t/ự s*t.

Khủng hoảng kinh tế nước Mỹ chấn động toàn cầu, cũng khiến hệ thống Bretton Woods sụp đổ. Trong cơn nguy nan ấy, nước Mỹ dùng chiến tranh và cư/ớp đoạt tài nguyên để vượt qua khủng hoảng, nhưng lại đẩy nhiều quốc gia vào cảnh chính phủ phá sản, nội chiến tranh quyền - hậu trường đều do tiền tệ và kinh tế chi phối.

【Xưa kia USD được gọi là 'Giấy vàng', nay đôla Mỹ được mệnh danh 'Dầu thô USD'. Thế nhưng ng/uồn dầu mỏ dồi dào nhất lại nằm ở Trung Đông.】

【Sau khi hệ thống Bretton Woods sụp đổ, USD tái lập trật tự tiền tệ 'Dầu thô - Lương thực - USD'. Những cuộc xung đột Mỹ châm ngòi ở Trung Đông thực chất là cuộc chiến tranh tiền tệ trá hình.】

【Hiện nay, thế giới tồn tại đa cực tiền tệ. Hoa Hạ lấy vàng làm bản vị tiền tệ, trong khi dầu thô Trung Đông bắt đầu dùng nhân dân tệ để giao dịch - điều này đ/á/nh dấu vị thế quốc tế của đồng nhân dân tệ được nâng cao, phá vỡ bá quyền đôla Mỹ.】

Bầu trời vừa nhắc đến dầu thô cùng các loại bá quyền của nước Mỹ, khiến quần thần dưới triều chợt nhận ra: Dầu thô kết nối với tiền tệ, hóa ra cũng có thể thiết lập bá quyền tài chính! Điều này tựa như mối liên hệ giữa gấm Tứ Xuyên và đồng tiền thẳng trăm rưỡi thời xưa.

Dầu thô tuy là 'huyết mạch công nghiệp', nhưng việc khai thác và sử dụng thời cổ đại cực kỳ khó khăn. Chỉ khi công nghiệp hóa phát triển, dầu thô mới trở thành vũ khí bá quyền thực sự.

Gia Cô không đi sâu phân tích, nhanh chóng chuyển sang chủ đề tiếp theo:

【Nói đủ về vàng - thứ kim loại mê hoặc lòng người, giờ ta trở lại bản chất của thương nghiệp.】

————————

TƯ LIỆU THAM KHẢO:

《Trung Quốc cổ đại mậu dịch》

《Thời kỳ tam quốc tiền tệ chi chiến》

《Gia Cát Lượng thẳng trăm đế quốc》

《Ngưu ngừng lại là như thế nào x/á/c định kim bản vị quy định?》

Cảm tạ đ/ộc giả đã ủng hộ Bá Vương phiếu và quán khái dịch dinh dưỡng tiểu thiên sứ trong khoảng thời gian 2023-10-21 23:50:38~2023-10-22 23:52:32!

Đặc biệt cảm tạ:

- Bảy tiểu Ngũ Tiffany: 10 bình

- Quang, Thương Sơ Liễu, Vân Đệm: 5 bình

- Minh Trạch Ưu: 4 bình

- Khói Lồng Hàn Thủy: 2 bình

- Rõ Ràng Cửu, Rõ Ràng Lê, 29526063, Muốn Lấy Sơ Cuồ/ng, Công Tử Bột, Mực Trúc, Nhặt Quang, Ngải Linh Vẽ Phương, Nướng Cỗ Xì Gà, Lang Hoàn: 1 bình

Vô cùng cảm kích sự ủng hộ của đại gia, ta nhất định sẽ tiếp tục nỗ lực!

Danh sách chương

Có thể bạn quan tâm

Bình luận

Đọc tiếp

Bảng xếp hạng

Mới cập nhật

Xem thêm
Hoàn

Gửi Nhầm Chàng Trai Trẻ, Cải Giá Về Gia Tộc Tướng Môn, Hắn Hối Hận Điên Cuồng

Chương 9
Trong yến Xuân, Bùi Hoài ra mặt bênh vực Tưởng Chiêu Ngọc, khiến kinh thành xôn xao bàn tán. Khi tôi hỏi chuyện, hắn nhíu mày đáp bằng giọng lạnh nhạt: "Tưởng Chiêu Ngọc thô bỉ, chỉ biết múa giáo vung đao. Giúp nàng giải vây, cũng chỉ vì nể mặt gia tộc họ Tưởng." Hắn né tránh ánh mắt tôi: "Nàng yên tâm, ta không ưa loại nữ tử ấy." Thế nhưng lễ cài trâm của tôi qua đã lâu, hắn vẫn lần lữa không chịu thực hiện hôn ước. Ngày ngày lại phi ngựa đến doanh trại nơi Tưởng Chiêu Ngọc đóng quân. Họ hàng nhà tôi sốt ruột muốn gả tôi đi. Bùi Hoài lại xin đi nhậm chức biệt phái chỉ để đuổi theo Tưởng Chiêu Ngọc. Trước lúc lên đường, hắn giả bộ dỗ dành tôi: "Ba năm nữa ta sẽ điều về kinh, nàng cứ đợi thêm chút nữa." Tôi không thể đợi hắn thêm nữa. Mấy hôm trước, mai môi tới nhà đổi bát tự. Bùi Hoài tức giận ném bát tự của tôi ra ngoài, lẫn với những nhà khác. Họ Tống vô tình lấy được bát tự của tôi, thấy hợp tuổi liền định luôn hôn sự. Mấy ngày nữa thôi, tôi sẽ thành thân.
Cổ trang
Nữ Cường
Tình cảm
4