Thời Đường triều, thương mại hưng thịnh với đặc sắc là các loại chợ phiên. Nghe nhắc tới chợ phiên, Lưu Tú bồi hồi nhớ lại cảnh thái học sinh Tây Hán mở chợ những năm cuối: "Tiền triều hậu kỳ cũng từng mở phiên thị chuyên dành cho thái học sinh, không tường không phòng, các nho sinh chẳng quản thân phận theo kỳ họp mặt giao thương, thật đáng ngợi khen."

Vừa nghe tới chợ thái học sinh, lập tức có vị đại thần phản đối: "Đại Hán xưa nay trọng nông ức thương..."

Lưu Tú khẽ mỉm cười nhìn vị quan ấy: "Chẳng lẽ đại nhân trong nhà không hề kinh thương sao? Vậy lương thực vải vóc nhà ngươi b/án đi bằng cách gì?"

Vị đại thần ấp úng: "Cái này..."

Những quan viên khác thấy thái độ Lưu Tú, im lặng lui về chỗ. Nụ cười tủm tỉm của thiên tử không có nghĩa là dễ dãi.

Việc quần thần ngăn cản thái học sinh buôn b/án, chèn ép thương nghiệp, căn nguyên chẳng phải vì tín điều Nho gia, mà là sợ bị tranh chiếm thị trường.

Cuối thời Tây Hán, những kẻ khởi lo/ạn không phải nông dân cùng khổ như Trần Thắng - Ngô Quảng thời Tần mạt. Phần lớn vốn là hào cường địa phương cùng thương nhân gian hùng.

Lịch sử tựa hồ luân hồi: triều đại nào mới dựng cũng trọng nông ức thương, nhưng đến hồi mạt diệp đều thành cảnh quan thương cấu kết. Hán mạt đã vậy, Đường mạt cũng thế - Vương Tiên Chi cùng Hoàng Sào đều là trùm buôn muối lậu.

Vương Tiên Chi thống lĩnh Bộc Dương diêm bang, Hoàng Sào kế thừa gia tộc buôn muối nhiều đời. Thi hỏng liền về nối nghiệp, khi dấy binh lại có cả thân tộc buôn muối tham gia. Muối lậu xưa nay thuộc trọng tội, nhưng lợi nhuận khiến người liều mạng. Các diêm bang thế lực hùng mạnh, bình thời là bang hội ki/ếm lời, đến khi triều đại suy vi liền hóa quân khởi nghĩa.

Như tiền thân Ngô Việt quốc, thủ lĩnh từng buôn muối thời Đường mạt; Phương Quốc Trân thời Nguyên mạt hay Trương Sĩ Thành thời Minh sơ, đều xuất thân từ giới buôn muối.

Chợ phiên thời Đường chủ yếu thịnh hành ở lưu vực Trường Giang và nông thôn phương Bắc, do chức "Chợ phiên úy" chuyên trách quản lý.

Chợ phiên khởi nguyên từ Đông Tấn, phát triển mạnh thời Nam Bắc triều, đến Đường Tống thì cực thịnh. Ban đầu chỉ là nông dân b/án củi khô ven đường, vì tiện vận chuyển nên tụ tập ngoài thành. Dần hình thành điểm giao thương cố định.

Dân làng dựng mái tranh đơn sơ che nắng, chợ tạm nhìn từ xa chỉ thấy những nóc lá lúp xúp, nên gọi "chợ phiên". Những phiên chợ không chính thức này cũng được gọi là "chợ cỏ".

Ngoài tường thành cao ngất, trên bãi đất cạnh đồng ruộng mênh mông, dăm ba mái đình cỏ tranh đứng lặng lẽ. Nơi đây vừa gần thôn xóm tiện vận chuyển, lại thuận đường cho thành thị ra vào m/ua b/án. Chẳng phải thành nào cũng có quảng trường rộng như Trường An, cũng chẳng phải nông dân nào cũng xin được sạp hàng trong thành. Thế nên những nông phẩm tạp hoá đều được tập trung giao dịch nơi này.

Ban đầu, họ chẳng có lấy một mái lều cỏ. Về sau nghĩ trời mưa cần chỗ che mưa để tiếp tục buôn b/án, bèn dựng lên nhiều đình lợp cỏ.

Lão nông lên núi đốn củi xong, chọn hai bó lớn mang xuống chợ phiên b/án. Vừa đặt xuống đất đã thuần thục cất tiếng rao: "B/án củi lửa rồi!"

Quản gia của đại hộ trong thành trực tiếp cưỡi xe bò tới, nhảy xuống trước mặt lão nông hỏi: "Bao nhiêu tiền?"

Người đàn bà quê kéo giỏ tre: "B/án trứng gà đây, trứng gà ta mái cục tác."

Lão phụ nhân thân hình cường tráng chống gậy tới, khom người xem xét vừa hỏi giá vừa tâm sự với nông phụ: "Con gái ta đang mang th/ai, sợ nhà chồng nó khắt khe. Định m/ua thêm trứng gà đi thăm nó, nào ngờ gà nhà chẳng đẻ được mấy quả, phải ra chợ m/ua vậy."

Nông phụ nhìn vẻ lo lắng cho con gái của lão phụ nhân, chợt nhớ tới mẹ mình, vừa đồng cảm trò chuyện vừa an ủi...

Lũ trẻ trong làng - đã là lao động chính - mang cỏ khô vừa c/ắt sáng sớm ra chợ. Thấy người trung niên y phục chỉnh tề tựa quản sự đi qua, vội vàng cười ngượng nghịu: "B/án cỏ khô đây! Cỏ này dê bò đều thích ăn lắm!"

Kẻ khác thấy mọi mặt hàng đều có người b/án, bèn nghĩ ra cách b/án nước giải khát cho nông dân và khách qua đường...

Cảnh tượng tuy đơn sơ nhưng tràn đầy sinh khí, khiến bao nông dân dưới màn trời bỗng nhớ về chợ quê mình, thấy lòng ấm áp lạ thường.

"Giá mà làng ta cũng có chợ phiên thế này..."

Nông dân đời Hán thốt lên đầy ngưỡng m/ộ.

Kẻ chăn cừu đưa mắt nhìn về thôn phía nam: "Cỏ thôn bên b/éo hơn cỏ làng ta. Muốn sang đó c/ắt cỏ lại bị xua đuổi. Giá có chợ phiên để trao đổi đồ nhà thì tốt biết mấy."

"Thôn bên có con sông lớn, rong cỏ tươi tốt nên dê m/ập thôi." Lão nông vỗ vào thân cây táo gai bên đường, giọng đầy kiêu hãnh như cha khoe con học giỏi: "Làng ta tuy nghèo đất, nhưng táo chín ngọt lừ."

Người chăn cừu vẫn canh cánh nghĩ về đồng cỏ thôn bên, lại nhớ đàn dê b/éo tốt nơi đó, mong được đem dê nhà lai giống.

Chợt lóe lên ý nghĩ: "Hay ta thử lập chợ phiên riêng xem sao?"

Thanh niên trong làng nghe thế đều hào hứng. Người thợ mộc duy nhất trong thôn đã xắn tay áo: "Cái đình cỏ ấy nhìn là biết cách làm. Một ngày là xong ngay!"

Lão nông trầm ngâm hỏi: "Lý trưởng có cho phép không?"

Đám thanh niên nhìn nhau ngơ ngác.

Lão nông đứng phắt dậy: "Cứ ngồi nghĩ mãi thì được gì? Phải hành động thôi! Để ta đi hỏi ý lý trưởng. Nếu được thì ta dựng ngay! Không được... lại tính cách khác!"

Thế rồi màn trời lại hiện ra hình ảnh phiên chợ mới.

【Ngoài chợ phiên, đời Đường còn có miếu thị - còn gọi là hội chùa.】

Miếu thị khởi nguyên từ thời Đường, kế thừa qua hai đời Tống, đến Minh Thanh thì cực thịnh.

Hội chùa chính là tụ hội quanh chùa chiền để tế lễ, giải trí và m/ua b/án - một trong những hình thức chợ cổ đặc trưng của Hoa Hạ, thường tổ chức vào ngày lễ hoặc ngày cố định tại các tự viện.

Thời Đường, Từ Ân Tự ở Trường An cùng Vĩnh Thọ Tự, Tiến Phúc Tự là những địa điểm tổ chức miếu thị nổi tiếng. Sang Tống có Tướng Quốc Tự, đến Minh Thanh thì kinh thành lẫn thôn quê đâu đâu cũng có miếu thị, hình thành tứ đại danh hội: Thổ Địa Miếu, Bạch Tháp Tự, Hộ Quốc Tự, Long Phúc Tự.

Bao cuộc tao ngộ kỳ duyên đã diễn ra nơi cửa Phật này.

Dù điện ảnh thường khắc họa cảnh đại gia tộc dâng hương lễ Phật, nhưng mỗi dịp lễ hội, chùa chiền không chỉ có tín đồ tụng kinh mà còn nhộn nhịp hàng quán, xiếc trò cùng khói lửa trần gian - phồn hoa thế tục hiển hiện giữa chốn thiền môn.

Lưu Triệt thích xem cảnh náo nhiệt, nhìn thấy màn trời miêu tả xã tế trong thành thị, tâm trí lại xao động: "Đây chẳng phải là xã tế sao? Xã tế còn có cả múa nhạc, nhưng tại sao lại có thể buôn b/án được?"

Thời Chu triều, vương vì dân chúng lập xã gọi là quốc xã; tự lập xã thì xưng vương xã. Chư hầu vì bách tính lập xã gọi là hầu xã; tự lập xã thì xưng quốc xã. Bách tính từ 25 hộ trở lên có thể lập dân xã hoặc lý xã. Xã thần bằng đ/á đất chính là trụ cột tinh thần của dân xã, dân chúng hướng xã thần cầu mong mưa thuận gió hòa thông qua nghi lễ xã tế.

Trong xã tế không thể thiếu múa nhạc, tập tục này lưu truyền đến nay, nhiều nơi vẫn còn lưu giữ các điệu múa tế tự. Màn trời trong thành thị miêu tả chính là điệu múa tế tự xã tế, tuy không trang trọng như cung đình nhưng mang tính giải trí cao hơn.

Tang Hoằng Dương xuất thân thương nhân cũng từng theo gia nhân tham dự xã tế, chủ động giải thích với Lưu Triệt: "Kỳ thực hiện nay cũng có giao thương, nhân lúc đông người xem xã tế, người ta thường trao đổi hàng hóa."

"Trao đổi những gì?"

"Từ lương thực đến vật dụng sinh hoạt đều có." Tang Hoằng Dương nhớ lại thời niên thiếu, ánh mắt thoáng nét hoài niệm. "Nông dân b/án gà vịt rau củ, phú hộ m/ua tôi tớ, thậm chí có bọn tr/ộm cắp nhân cơ hội tr/ộm đồ, còn có kẻ buôn người bắt trẻ con."

Lưu Triệt hơi nhíu mày. Buôn b/án nhân khẩu là vấn nạn muôn thuở của các triều đại phong kiến, nhiều lần cấm đoán vẫn không dứt. Với thân phận đế vương, hắn chỉ từng chứng kiến tế lễ cung đình, chưa thấy dân gian xã tế, càng không ngờ trong lễ tế thần linh lại có kẻ dám mạo phạm thần minh mà buôn b/án trẻ con.

Xã tế là quốc sự trọng yếu - "Đại sự quốc gia, tại tế dữ nhung". Đặc biệt khi có màn trời tuyên truyền, xã tế Đại Hán chắc chắn sẽ thúc đẩy hoạt động thương mại. Quốc khố có thêm ng/uồn thu thuế thương nghiệp, Lưu Triệt vui mừng thấy được điều này. Hắn nhanh chóng ra chỉ thị: "Xem ra cần quản chế ngay. Tang Hoằng Dương, ngươi đảm trách việc này."

Việc đảm trách ở đây chính là soạn thảo điều lệ quản lý. Tang Hoằng Dương vẫn còn đang mộng mơ trước cảnh thương mại sôi động của Đại Đường, nghe vậy không vội nhận lời, ôn hòa tâu: "Bệ hạ khoan hãy vội, màn trời hãy còn nhiều điều hay, Đại Hán có thể học hỏi không ít."

Lưu Triệt gật đầu. Đại Hán tuy hưng thịnh về hải ngoại mậu dịch, nhưng phần lớn vàng bạc đều nằm trong tay chư hầu. Hắn cần tìm cách tập trung lượng vàng này - những phiên chợ chuyên biệt chính là phương án khả thi.

【Đường triều đã hình thành các thị trường chuyên biệt, tập trung buôn b/án từng loại hàng hóa.】

Thời Đường, ngoài Trường An còn nhiều thành thị khác có chợ chuyên dụng. Lạc Dương có Kim Thị (chợ vàng), Dương Thị (chợ dê), Ngưu Mã Thị (chợ trâu ngựa). Thành Đô phát triển Tàm Thị (chợ tơ tằm), Dược Thị (chợ th/uốc), Thất Bảo Thị (chợ châu báu).

Đến thời Tống - Nguyên, các chợ chuyên môn càng đa dạng theo mùa. Như Thành Đô thời Tống có: Tháng Giêng - Đăng Thị (chợ đèn), Tháng Hai - Hoa Thị, Tháng Ba - Tàm Thị, Tháng Tư - Cẩm Thị (chợ gấm), Tháng Năm - Phiến Thị (chợ quạt), Tháng Sáu - Hương Thị (chợ hương), Tháng Bảy - Bảo Thị, Tháng Tám - Quế Thị, Tháng Chín - Dược Thị, Tháng Mười - Tửu Thị, Tháng Mười Một - Mai Thị (chợ hoa mai), Tháng Chạp - Đào Phù Thị (chợ bùa đào).

Thời Nguyên, các chợ chuyên dụng như Giác Dương Thị (chợ sừng dê), Mễ Thị (chợ gạo), Diện Thị (chợ bột mì). Trước tháp chuông có Dương Thị, Thị Trường Chứng Khoán (chợ cổ phiếu), Mã Thị, Lạc Đà Thị, Lư Thị (chợ lừa). Khu Thập Thành Khẩu có Tạp Hóa Thị, phía đông thành An có Đăng Thị (chợ đèn).

Vào tiết Đoan Ngọ thời Đường triều, các thành phố trăm tác đều mở cửa. Ngày mồng bảy tháng bảy có hội Khất Xảo, ngày Phật đản lại tổ chức lễ Tắm Phật. Chưa kể đến Tết Nguyên Tiêu - chợ đèn hoa Thượng Nguyên đã lưu truyền từ thời Đường Tống.

Đường triều nghỉ lễ ba ngày dịp Nguyên Tiêu, nhưng dân Tống hiếu kỳ hơn, quan dân được nghỉ tới năm ngày. Thời Đường còn quy định phường thị nghiêm ngặt, Trường An phân chia rõ phường và chợ. Sang Tống triều, lệ này bãi bỏ, phố xá mọc san sát hai bên đường như thời hiện đại, dân chúng tự do qua lại.

Chợ đèn hoa Thượng Nguyên thời Đường Tống treo đủ loại hoa đăng, lại còn có trò giải đố. Đến thời Tống, hoa văn càng thêm cầu kỳ. Các thương nhân chế tác đèn lồng tinh xảo: bạch ngọc đăng, vô cốt đăng, ngũ thải dương bì đăng, đèn kéo quân... Trên mặt đèn đề thơ vẽ nhân vật, dùng làm "câu đố" cho tài tử giai nhân thử tài.

Tiểu thương rao vang: "Giải đố đoạt đèn! Ai đoán trúng thì đèn về tay kẻ ấy!"

Kẻ xem náo nhiệt chen nhau đoán đố, có người lại bị chiếc đèn treo cao nhất trên bức tường đèn thu hút: "Ta muốn chiếc đèn này!"

Ngọn nến bên trong tỏa ánh sáng muôn màu chiếu khắp tám hướng, tựa đèn cầu vũ trường thời nay. Thương nhân nhoẻn miệng cười: "Đây gọi là 'Vạn Nhãn La', là trấn điếm chi bảo của tiểu điếm, không b/án đâu."

Học sinh hiếm khi được thư viện nghỉ phép, vừa ra phố đã trúng mắt chiếc đèn lạ. Chàng rướn cổ ngắm nghía chất liệu Vạn Nhãn La, càng xem càng thấy quý giá: "Chẳng lẽ làm bằng lưu ly? Chỉ có lưu ly mới phản quang tuyệt diệu thế này."

Thương nhân làm bộ thần bí: "Trấn điếm chi bảo, không tiện giải thích."

Càng giấu giếm, học sinh càng hứng thú: "Ta muốn m/ua."

Thương nhân: "Thật không thể b/án..."

"Đèn bình thường của ngươi chỉ đáng vài chục văn. Ta rất thích chiếc Vạn Nhãn La này, trả một trăm!"

"Không b/án, đây là trấn điếm chi bảo."

"Năm trăm."

"Đây thật là bảo vật tổ truyền..."

"Một nghìn!"

Thương nhân: "......"

"Lão tổ tông, tiểu nhân đành phụ ngài dưới suối vàng vậy." Thương nhân không nhịn nổi dụ hoặc, dùng gậy trúc gỡ Vạn Nhãn La xuống, hai tay dâng lên, "Đèn lưu ly dễ vỡ, ngài cầm cho chắc."

Học sinh lấy xấp tiền giao tử đưa cho hắn, mân mê chiếc đèn không rời: "Ừm, quả nhiên tinh xảo."

Bạn học cũng đoán trúng đố, xúm lại vây quanh. Ai nấy tay xách đèn lồng, không khí trẻ trung nhộn nhịp.

"Đi nào! Phía trước có b/ắn pháo hoa, diễn tạp kỹ, lại còn có ca nữ trong ngói tử múa hát!" Đám học sinh xách đèn hướng về góc chợ khác.

Họ dạo hết chợ đèn, xem pháo hoa tạp kỹ, lại vào quán ngói tử dùng điểm tâm. Ăn no chán miệng, tìm hiệu trà ngồi nghỉ, vừa nhấp trà thanh nhiệt vừa gọi ca kỹ đàn hát múa may.

Một học sinh vô tình liếc về hướng chợ đèn, bỗng há hốc kêu lên, thúc cùi chỏ vào đồng môn đang mải ngắm đèn lưu ly:

"Huynh đệ, ngươi bị lừa rồi! Ha ha ha!"

Người kia ngơ ngác nhìn theo tay chỉ, mắt bỗng trợn tròn:

"Sao lại có một chiếc trấn điếm chi bảo nữa?!"

.

Lý Tư mang tư tưởng Pháp gia, vốn kh/inh thường thương nhân: "Lời thương nhân chẳng đáng tin."

Doanh Chính nhớ lại khi tham gia chính sự cùng Lữ Bất Vi. Dù lòng cũng chẳng vui, nhưng khi nhìn cảnh chợ đêm phồn hoa cùng thu thuế sau lưng, vẫn không khỏi động tâm.

Nếu Đại Tần cũng có thể có chợ đêm huy hoàng như thế, nhiều người tụ tập như vậy, lồng đèn nguy nga lộng lẫy như thế, thì dân sáu nước sớm đã quên hết quá khứ.

Sự thật cũng đúng như hắn nghĩ. Không kể dân thường, ngay cả những quý tộc sáu nước trong cung Hàm Dương, khi thấy dân chúng Tống triều được hưởng cuộc sống thoải mái đến thế, đều sinh lòng hâm m/ộ.

Có kẻ thở dài: "Hóa ra Tống triều có nhiều tiền bồi thường đến vậy, dân Tống giàu có thật!"

Doanh Chính: Đột nhiên hết hâm m/ộ.

Đại Tần đã đ/á/nh bại Tống triều, tất sẽ dựng nên phiên chợ còn phồn hoa gấp bội!

.

"Thượng nguyên chợ đèn hoa Đại Minh ta cũng chẳng kém cạnh!"

Người Minh hiếm hoi tỏ vẻ kiêu hãnh.

Sau khi Chu Nguyên Chương lập quốc, thường ngày keo kiệt, c/ắt giảm cả ngày nghỉ của quan lại so với Đường Tống. Nhưng đến tết Nguyên Tiêu lại cho nghỉ tới mười ngày.

Mười ngày nghỉ ngơi khiến triều Minh từ trên xuống dưới thả lỏng vui chơi. Chợ đèn thượng nguyên thời Minh có hoạt động đ/ộc đáo.

Đầu tiên là tục "Đi cầu trừ bách bệ/nh".

Đêm Nguyên Tiêu, người ta rủ nhau đi qua trăm cây cầu để cầu may, xua đuổi tai ương. Dọc đường còn có thể dạo chơi chợ đèn náo nhiệt.

Dù thời Minh sơ hạn chế thương mại, nhưng đến Minh mạt kinh tế phồn thịnh, chợ đèn càng rực rỡ. Nơi đây không chỉ có kỳ trân dị thú từ Tây Vực, còn có gánh xiếc biểu diễn ng/ực đ/ập vỡ đ/á, nuốt ki/ếm, khỉ chắp tay, kịch trò biến mặt...

Nếu không thích náo nhiệt, có thể vào trà quán nghe thuyết thư.

Trên sàn diễn, một bàn, một ghế, một phiến, một thước. Thuyết thư nhân nhấp ngụm trà, gõ thước "bốp" một tiếng, quạt xòe ra: "Hồi trước đã nói..."

Dưới khán đài, khán giả nhâm nhi trà, cắn hạt dưa - thứ đồ ăn vặt hoàn hảo cùng trà pha kiểu Minh và nghệ thuật thuyết thư.

Bên ngoài, đoàn múa rồng sư tử rộn ràng đi qua, gánh hát rộn ràng tiếng sênh tiền.

.

Hoằng Lịch tự tin nói: "Đại Thanh Nguyên Tiêu cũng chẳng kém phần náo nhiệt."

Dù ngày nghỉ giảm còn ba ngày, nhưng pháo hoa đã thêm nhiều kiểu dáng mới. Ngoài xiếc khỉ còn có múa ương ca, đi cà kheo, náo hội chợ dân gian.

【Thời Đường xuất hiện "chợ q/uỷ" và "chợ đêm" - tổ tiên của kinh tế đêm.】

"Chợ đêm" họp ban đêm, khởi ng/uồn từ tiểu thương lén b/án rư/ợu đêm, dần thu hút thương nhân khác. Chợ đèn Nguyên Tiêu chính là dạng này.

"Chợ q/uỷ" thì họp lúc rạng sáng, còn gọi "chợ sáng", là dạng chợ đặc biệt.

Chợ Q/uỷ thường họp vào khoảng "nửa đêm tụ tập, gà gáy tan hàng", thời gian chính x/á/c là từ canh ba đến canh tư, chuyên diễn ra trong đêm tối.

Nơi này được mệnh danh Chợ Q/uỷ bởi ba lý do:

Một là thời điểm họp chợ trùng khớp với truyền thuyết m/a q/uỷ hoạt động, không khí âm trầm q/uỷ dị.

Hai là các sạp hàng chỉ thắp vài ngọn nến leo lét, ánh sáng mờ ảo khiến bóng người trong đêm tựa hồ m/a quái chập chờn.

Ba là hàng hóa nơi đây thường mang "q/uỷ" - hoặc là tang vật tr/ộm cư/ớp, hoặc là đồ giả tinh vi gọi là "q/uỷ hàng".

Thời Đường, có thư sinh nhập kinh ứng thí nghe đồn về chợ lạ, bèn rủ bạn Trường An đến xem. Sáng hôm sau, hắn hớn hở khoe chiến lợi phẩm: "Xem áo choàng da dê thượng hạng này ta m/ua chỉ với trăm rưỡi văn!"

Người bạn liếc nhìn rồi chép miệng: "Ngươi m/ua ở chợ sáng à?"

"Chợ Q/uỷ đấy!" Người bạn x/é tách lớp lông dê, lắc đầu bật cười: "Đây là giấy dầu phết hồ dính lông thú. Ban đêm khó nhận ra, nhưng gặp ánh dương thì lộ nguyên hình!"

Thư sinh ngẩn người xem xét: "Trời ơi! Giữa lớp lông quả nhiên là giấy!"

"Trăm rưỡi văn m/ua bó lông dê, đúng là mất tiền oan!" Người bạn khuyên can: "Chợ Q/uỷ tuy có đồ thật, nhưng kẻ ngoại đạo ham rẻ dễ mắc lừa. Dân bản địa còn bị gạt nữa là!"

Thư sinh tức gi/ận nghĩ cách gỡ gạc. Hôm sau, chính hắn mang "áo da dê" ra chợ Q/uỷ rao b/án. Khi khách hỏi giá, hắn cất giọng đường mật: "Hai trăm văn! Da dê Đột Quyết chính hiệu!"

Vị khách nghe thổi phồng mê mẩn, rút túi định trả tiền đồng rồi lại đổi ý: "Thôi đưa ngươi bạc cho tiện!"

Ánh mắt thư sinh sáng rực khi thấy bạc trắng, vội gật đầu: "Thành giao!"

Hắn thầm mừng đã gài được "q/uỷ hàng" cho người khác, nào biết trong túi bạc kia cũng ẩn tàng mưu q/uỷ khác.

Vị khách đưa cho hắn ít bạc: 'Ta m/ua nhiều, ngươi phải trả lại ta năm mươi văn.'

Thí sinh - kẻ học trò chưa từng trải - vội vã mượn cân nơi quầy hàng bên vách. Sau khi cân đo, hắn đổi số bạc thừa thành Khai Nguyên Thông Bảo rồi giao cho khách.

Khi giao dịch hoàn tất, thí sinh cất bạc, hớn hở quay về khoe với bạn: 'Xem này! Ta đã b/án được cái áo choàng giả da dê kia rồi!'

Bạn hắn nhìn ánh mắt thâm quầng của thí sinh, đoán ra cơ sự: 'B/án ở đâu?'

Thí sinh khề khà: 'Hắc hắc, nơi nào ngã thì nơi ấy đứng dậy - ta ra chợ q/uỷ b/án đấy.'

Người bạn lắc đầu: 'Ngươi x/á/c định không bị lừa nữa sao?'

Thí sinh rút bạc ra: 'Không thể nào, ta còn ki/ếm lời được đây này.'

Vừa thấy thỏi bạc, người bạn đã nhíu mày: 'Bạc này... hình như có vấn đề?'

Thí sinh nhất quyết không tin mình lại bị gạt. Người bạn đành dẫn hắn đến ngân phố nhờ giám định.

Chưởng quỹ ngân phố cân thử liền phát hiện trọng lượng bất thường. Gõ nhẹ nghe âm thanh, ông ta đưa trả thỏi chì với ánh mắt hài hước: 'Đây là chì giả bạc.'

Thí sinh: ......

Tốt lắm, không những bị lừa mà còn tốn thêm năm mươi văn...

.

'Bọn học trò đời sau quả nhiên ngốc thật.'

Tang Hoằng Dương, Đông Quách Hàm Dương cùng mấy thương nhân xem cảnh tượng say sưa. Loại l/ừa đ/ảo mánh khóe này thực chất chỉ là giả kim thuật sơ đẳng, đã xuất hiện từ lâu.

'Bọn học trò dễ lừa thế này, không biết thái học sinh trong kinh thành có ngây thơ như vậy không?' Lưu Triệt lo lắng suy nghĩ, tưởng tượng cảnh tượng ấy mà lạnh cả người.

Hôm nay liên tiếp chứng kiến hai học sinh bị lừa, nếu thái học sinh cũng ngây ngô như thế...

Vậy thì quốc khố hao tiền nuôi lũ bạch ngốt ấy để làm gì!

'Xem ra việc mở phiên chợ quả thực cấp thiết.' Cấp Ảm nghiêm mặt trình tấu, 'Bị thương nhân lừa gạt, vẫn còn đỡ hơn bị Hung Nô lừa ngoài biên ải.'

Câu nói vừa dứt, Lưu Triệt cùng Chủ Phụ Đẳng nhóm người kinh ngạc nhìn Cấp Ảm.

Không ngờ vị quan ngay thẳng này không chỉ biết khuyên can, mà còn thông thuật mánh khóe uốn lưỡi.

Cấp Ảm vẫn giữ vẻ mặt nghiêm nghị: 'Thần cũng chỉ vì tương lai Đại Hán.'

Lưu Triệt gật đầu: 'Ái khanh nói chí phải.'

Tuyệt đối không phải vì hiếu kỳ muốn xem thái học sinh có ng/u thật không - mà là vì vận mệnh Đại Hán. Lý do này quả thực không thể chối cãi!

【Dù là 'Chợ Q/uỷ' hay 'Chợ Đêm', hình thức sơ khai đều xuất hiện từ thời Đường. Sơ Đường thi hành 'Lệnh cấm đi đêm', dân chúng muốn giao dịch chỉ có thể lén lút tổ chức.

Đến trung Đường, lệnh cấm nới lỏng, chợ đêm mới thực sự phát triển.】

【Tống triều hoàng thất thi hành 'Cùng dân đồng lạc', bãi bỏ hoàn toàn lệnh cấm. Kinh tế chợ đêm nhà Tống phồn vinh bậc nhất các triều đại.】

Lý Thế Dân thấy Tống triều kế thừa chính sách của Đường lại còn tiến xa hơn, bất giác than: 'Lại là Đại Đường, lại lợi Tống triều.'

Trưởng Tôn hoàng hậu nhìn cảnh chợ đêm nhộn nhịp, hứng thú nói: 'Chợ đêm vốn đã có thời Đường, nay càng nên mở rộng.'

Trưởng Tôn Vô Kỵ lo lắng: 'Nhưng lệnh cấm đi đêm...'

Quản Hộ bộ đang tính toán làm giàu quốc khố, tiếp thu nhanh nhất ý tưởng: 'Dù không chính thức mở, dân gian thấy thiên mục như thế, há chẳng tự bắt chước?'

'Chỉ cần quản lý nghiêm ngặt.' Lý Thế Dân cười, 'Tống triều nhu nhược còn không lo/ạn, Đại Đường có Kim Ngô Vệ canh giữ, lo gì?'

Các đại thần lập tức trấn định tinh thần.

Ngay cả văn thần Đại Đường cũng tinh thông võ nghệ. Giả sử gặp lo/ạn ở chợ đêm, bọn họ vẫn có thể luyện thân thủ, khó lòng bị người Đột Quyết đ/á/nh bại.

Tựa như chợ đêm hiện đại khuyến khích bày quầy hàng, Đại Tống đã đề ra hình thức "kinh tế đêm" để phát triển thương mại. Chẳng hạn tăng thêm bữa tối, tiệc khuya cùng các ngày lễ tiết đặc biệt.

Triều Tống còn có phúc lợi mà thời hiện đại không có được: số ngày nghỉ nhiều nhất cổ đại! Các quan viên được nghỉ công tư lên tới hơn 120 ngày.

Thấy số ngày nghỉ này, dễ hiểu vì sao quan lại triều Tống ngoài triều chính còn rảnh rỗi nghe kịch, uống rư/ợu, viết sách. Một năm 365 ngày, gần một phần ba thời gian nghỉ ngơi, sao chẳng nhàn nhã được?

Không thể không nói, Gai Cô cũng sinh lòng hâm m/ộ.

Chính sách triều Tống quả thực hữu hiệu. Kinh tế ngày nghỉ hưng thịnh, các hoạt động giải trí lan rộng dân gian, xuất hiện nơi chuyên biểu diễn gọi là "Câu Lan Nhà Ngói".

Nhà Ngói - còn gọi Ngói Tứ, Ngói Thành, Ngói Tử - là trung tâm giải trí đô thị Đại Tống. Nơi đây ban đầu chỉ là lều chợ tạm, dần phát triển thành chốn biểu diễn chuyên nghiệp. Nghệ nhân nghèo tới đây diễn trò: kể chuyện, tạp kỹ, ca múa.

Thời Bắc Tống thịnh trị, Nhà Ngói lên tới hàng trăm gian, trở thành ng/uồn thu thuế trọng yếu. Khi nam thiên, nơi này lan tới Hàng Châu, góp phần phồn vinh kinh tế địa phương.

Câu Lan mang tính thương mại rõ rệt, mỗi buổi diễn đều là "tạp kỹ hỗn tạp". Dưới mắt người hiện đại, các tiết mục vô cùng đ/ộc đáo: tạp kịch, hài kịch, thư thuyết, múa xoáy, diễn tấu, múa rối, đèn chiếu... Còn có "cát sách" (tranh kể chuyện), "huyễn hí kịch thất thánh pháp" (ảo thuật), cùng bóng đ/á nghệ thuật, đô vật... tổng cộng sáu bảy mươi loại, suốt ngày đêm không dứt.

Kinh tế triều Tống phồn vinh một phần nhờ hải ngoại mậu dịch, phần khác tới từ thương nghiệp dân gian tự do phát triển.

Nhưng chư vị có nhận ra: tiền tệ Đường Tống khác biệt lớn so với Tần Hán? Chẳng hạn xuất hiện khái niệm "văn", sử dụng "ngân lượng", cùng tờ giấy bạc sớm nhất thế giới - "Giao Tử".

Bây giờ, chúng ta hãy luận bàn về tiền tệ thời Đường Tống.

————————

Tham khảo:

《Tết Nguyên Tiêu Giản Sử: Ngàn Năm Cố Sự》

《Cổ Đại Chợ Q/uỷ Khuôn Mặt Thật》

《Câu Lan Nhà Ngói: Đêm Kinh Tế Triều Tống》

Cảm tạ đ/ộc giả đã ủng hộ Bá Vương Phiếu cùng quà tặng dinh dưỡng từ 2023-10-24 23:57:10 tới 2023-10-25 23:47:01.

Đặc biệt cảm tạ:

zxjean: 13 bình

36678109, Thương Sơ Liễu: 10 bình

Minh Trạch Ưu, Địch Lệ Nhiệt Ba Lão Bà: 4 bình

Tiêu Tương Thủy Đánh G/ãy, Công Tử Bột, 29526063, Rõ Ràng Cửu, 56389591, Đồ Mi: 1 bình

Vạn phần cảm kích sự ủng hộ của chư vị. Gai Cô sẽ tiếp tục nỗ lực!

Danh sách chương

Có thể bạn quan tâm

Bình luận

Đọc tiếp

Bảng xếp hạng

Mới cập nhật

Xem thêm
Hoàn

Gửi Nhầm Chàng Trai Trẻ, Cải Giá Về Gia Tộc Tướng Môn, Hắn Hối Hận Điên Cuồng

Chương 9
Trong yến Xuân, Bùi Hoài ra mặt bênh vực Tưởng Chiêu Ngọc, khiến kinh thành xôn xao bàn tán. Khi tôi hỏi chuyện, hắn nhíu mày đáp bằng giọng lạnh nhạt: "Tưởng Chiêu Ngọc thô bỉ, chỉ biết múa giáo vung đao. Giúp nàng giải vây, cũng chỉ vì nể mặt gia tộc họ Tưởng." Hắn né tránh ánh mắt tôi: "Nàng yên tâm, ta không ưa loại nữ tử ấy." Thế nhưng lễ cài trâm của tôi qua đã lâu, hắn vẫn lần lữa không chịu thực hiện hôn ước. Ngày ngày lại phi ngựa đến doanh trại nơi Tưởng Chiêu Ngọc đóng quân. Họ hàng nhà tôi sốt ruột muốn gả tôi đi. Bùi Hoài lại xin đi nhậm chức biệt phái chỉ để đuổi theo Tưởng Chiêu Ngọc. Trước lúc lên đường, hắn giả bộ dỗ dành tôi: "Ba năm nữa ta sẽ điều về kinh, nàng cứ đợi thêm chút nữa." Tôi không thể đợi hắn thêm nữa. Mấy hôm trước, mai môi tới nhà đổi bát tự. Bùi Hoài tức giận ném bát tự của tôi ra ngoài, lẫn với những nhà khác. Họ Tống vô tình lấy được bát tự của tôi, thấy hợp tuổi liền định luôn hôn sự. Mấy ngày nữa thôi, tôi sẽ thành thân.
Cổ trang
Nữ Cường
Tình cảm
4