Du hiệp Quách Giải gần đây kết giao cùng Vệ Thanh - người bạn mới đã tìm cho hắn một cơ hội chính đáng. Từ thủ lĩnh du đãng nông thôn, hắn vụt lên trở thành tướng quân đặc chủng trong quân đội. Quách Giải vui mừng khôn xiết, về nhà thu xếp hành lý. Khi từ biệt bằng hữu cũ, nụ cười trên mặt chẳng hề tắt.

Các môn khách cùng du hiệp giang hồ khác không nỡ rời: "Lão đại, ngài vào quân rồi chúng ta biết làm sao?"

"Các ngươi cũng hãy nhập ngũ! Lập được quân công, sau này ta tự có thể phong hầu bái tướng!"

Quách Giải cười lớn, nhớ lời Vệ Thanh dặn dò, lòng tràn ngập hy vọng về tương lai.

"Thời Cao Tổ, họ Chu c/ứu Quý Bố chẳng cầu báo đáp. Đời Tiên Đế, Kịch Mạnh phò tá Chu Á Phu dẹp lo/ạn thất quốc. Nay đã đến lúc ta Quách Giải lưu danh thiên hạ!"

Hắn đâu biết, sử sách chép rằng Lưu Triệt chẳng ưa hắn. Việc quen biết Vệ Thanh thực chất là âm mưu đày hắn đến Mậu Lăng giữ lăng. Dù Vệ Thanh có xin tha, vẫn không thay đổi được lòng Vũ Đế - vị hoàng đế vốn kiêng kỵ du hiệp, chán gh/ét Quách Giải. Về sau, hắn vẫn bị gi*t với tội danh môn khách sát nhân.

Danh tiếng Quách Giải trong dân gian càng lớn, được giới giang hồ càng tôn kính, thì càng bị đế vương đề phòng.

Nhưng từ khi màn trời lộ ra hình ảnh du hiệp bảo vệ quốc gia, Lưu Triệt bỗng nhận ra tác dụng mới của lực lượng này.

Du hiệp thích kết giao giang hồ - chẳng phải rất hợp để đưa ra biên ải dò la tin tức nơi đất khách? Du hiệp giỏi võ nghệ lại trọng nghĩa khí - không đúng như tính cách mà các bộ tộc thảo nguyên ưa chuộng sao? Du hiệp gắn bó thôn làng - thật tiện để nắm thóp mà không sợ phản quốc!

Nghĩ thông suốt, Lưu Triệt lệnh cho Vệ Thanh chiêu m/ộ du hiệp thân thủ xuất chúng, thành lập đội quân đặc biệt. Như Tú Y Sứ Giả, họ trực tiếp nghe lệnh hoàng đế, chuyên đối phó gián điệp các nước lân bang.

Đương nhiên, lúc này Quách Giải vẫn chưa hay biết. Mang theo giấc mộng hiệp khách cùng tham vọng lập công, hắn khoác bọc hành lý đơn sơ, từ biệt bằng hữu, thẳng hướng Trường An.

Gần như đồng thời, khắp đại Hán, nhân tài các phương cũng đang hướng về kinh thành tụ hội.

Thời Chiến Quốc, chư hầu nuôi dưỡng môn khách du hiệp như lực lượng dự bị. Đầu nhà Hán, giới giang hồ từng hưng thịnh nhưng dần suy yếu sau các đợt trấn áp. Mãi đến cuối Hán, thiên tai dồn dập, lưu dân trở thành lực lượng du hiệp mới - tiền thân của khởi nghĩa nông dân, từ chỗ hợp tác với triều đình biến thành thế lực lật đổ.

Thời Chiến Quốc, chư tử trăm nhà đua tài. Đến đời Hán, Nho gia đ/ộc tôn khiến các phái khác dần mai một. Nhưng nhờ màn trời, Bách gia bỗng tìm được sức sống mới dưới hình thái khác lạ.

"Bô lão ơi, cái guồng nước này sao khác làng bên thế? Nhìn bé tí vậy?"

Trong thôn, dân làng tụ tập bên chiếc guồng nước xươ/ng rồng mới dựng. Họ lần lượt thử quay tay, đạp chân, dùng trâu kéo, cảm nhận sự khác biệt so với cách gánh nước thủ công. Một số người quay sang vị lão giả đội nón lá đứng cạnh, chất vấn đầy hoài nghi.

Xe nước thôn lân cận không cần người đẩy, tiết kiệm sức lực hơn nhiều!

Lão giả đội mũ rộng vành ôn hòa giảng giải: "Thôn bên dùng ống xe, cần dòng nước chảy xiết để kéo ống xe vận hành, thích hợp vùng núi. Còn xe nước thôn ta gọi là lật xe, có thể t/át nước từ dưới thấp lên cao, hợp với ruộng đồng địa hình không quá chênh lệch. Ngươi xem hai thôn chúng ta địa thế có khác nhau rõ rệt không?"

Dân làng đang băn khoăn chưa kịp đáp, người thôn khác đã nhao nhao lên tiếng: "Đúng vậy! Trước ta còn chê thôn họ đường đi khó khăn, lên núi xuống dốc mệt đ/ứt hơi, chẳng buồn qua lại."

"Con dốc thôn bên kia leo phát hụt hơi, mỗi lần đi thăm thân nhân đều phải nhờ họ hàng khiêng đồ, không giúp thật sự không lên nổi!"

"Trước tưởng núi cao nước xa bất tiện, nào ngờ chênh lệch địa hình lại có chỗ hay thế này."

...

Dân làng bàn tán sự khác biệt giữa hai loại xe nước. Lão giả đội mũ rộng vành đi vòng quanh cỗ máy đ/á/nh giá, thỉnh thoảng trao đổi vài câu với vị lão phụ cũng đội mũ tương tự bên cạnh.

Lật xe xuất hiện đầu tiên vào thời Đông Hán. Theo ghi chép trong Hậu Hán thư, Tất Lam thời Đông Hán đã phát minh ra lật xe - "dùng guồng quay để dẫn thủy nhập điền". Còn ống xe nghe đâu được sáng chế từ thời Tùy, thịnh hành vào thời Đường.

Nhưng từ khi thiên mạc hiện ra những hình ảnh này, lật xe của Tất Lam - một trong Thập Thường Thị cuối Đông Hán - đã sớm xuất hiện. Ống xe cũng nhanh chóng được thợ khéo tay chế tạo, tùy theo địa hình khác nhau mà sử dụng luân phiên.

Ngôi thôn này nằm ở giao giới giữa bình nguyên và sơn địa. Thôn bên này địa thế tương đối bằng phẳng, trong khi thôn lân cận đã thuộc vùng núi với độ cao chênh lệch rõ rệt, khiến hai loại xe nước có sự khác biệt rành rành.

Hai vị lão giả và lão phụ đội mũ rộng vành kia không phải dân thường, mà là "nông sư" vừa mới được tuyển chọn.

Đại Hán vừa phát minh ra giấy và sách vở hoàn thiện, sách nông nghiệp vốn không nhiều. Việc đào tạo nông quan khá khó khăn, nên triều đình chọn cách tuyển dụng lão nông dày dạn kinh nghiệm từ dân gian để hướng dẫn mọi người, ban cho đãi ngộ như quan lại thất phẩm. Cách này đôi bên cùng có lợi.

Tiêu chuẩn chọn "nông sư" hiện nay vô cùng giản dị: xem nhà ai thu hoạch tốt nhất trong năm, kinh nghiệm phong phú và sẵn lòng chia sẻ bí quyết canh tác. Vị lão giả đội mũ chính là nông sư bản thôn, còn lão phụ kia là nông sư thôn bên - người đã đề xuất lắp đặt ống xe.

Từ khi nhậm chức, hai vị thường xuyên đi lại giữa các thôn truyền thụ kinh nghiệm, lại còn cùng tham gia hội nghị nông sư trong thành. Dù mùa mưa xuân này tầm tã không ngớt, họ vẫn bận rộn chân không chạm đất.

Vừa xong việc xe nước, đã phải vội vã tới chợ phiên. Hội chợ tưởng đơn sơ nhưng có thể thúc đẩy nông dân cải tiến nông cụ, phát minh sản phẩm mới, nên được các thôn nhiệt liệt hoan nghênh.

Tại Trường An và các trang viên khá giả, những quý tộc, quan viên, địa chủ có học thức bắt đầu chiêu m/ộ nhân tài dân gian dưới sự dẫn dắt của thiên mạc. Dần dà, các chuyên khoa nông nghiệp bắt đầu hình thành.

Nghề vườn, cây ăn trái, nuôi cá, trồng lúa, hoa màu, dâu tằm... vốn đã có nhiều loại hình, nay càng được chia nhỏ: chuyên gia nhà kính, bậc thầy phòng trừ sâu bệ/nh, nghệ nhân lai tạo giống mới; chuyên viên ghép cây cam quýt, bậc thầy tăng sản cam quýt...

Những kỹ thuật vốn phải đợi tới thời Tống Minh mới phát triển nhờ kinh tế thị dân phồn thịnh, nay đã được đẩy nhanh tiến độ dưới thời Hán. Ở khắp nơi, các hội nghề nghiệp - cả quan phương lẫn tư nhân - mọc lên như nấm, từ chỗ đóng kín bí quyết dần chuyển sang giao lưu hội nhập.

Các cuộc thi nghề mộc, thợ rèn cùng những tranh tài kỹ thuật dần xuất hiện. Phú thương hứng thú bỏ vốn tài trợ để tìm nhân tài, công tượng tìm ki/ếm đường công danh. Nhiều bình dân không chuyên nhưng hiếu kỳ cùng học đồ đổ về xem thi đấu, học hỏi thêm nghề, tiếp thêm sinh lực mới cho các ngành nghề.

Từ khi trong cung trọng dụng thêu thùa địa đồ, người ta mới thấu hiểu nữ tử giỏi thêu không chỉ có giá trị thương mại, mà còn mang ý nghĩa quân sự-chính trị sâu sắc. Triều đình đặc biệt chiêu m/ộ tú nương thông tuệ, truyền thụ tri thức họa đồ cùng đo đạc. Họ không chỉ thêu địa đồ, chế tác sa bàn quân sự lập thể, mà còn bảo tồn những văn bí tịch không thích hợp dùng giấy hay thẻ tre.

Chuyện một tú nương cao niên giả dạng b/án rư/ợu nếp, mạo hiểm sang Hung Nô do thám địa hình giao giới, sau đó thêu thành bản đồ quân sự tinh x/á/c khiến Lưu Triệt thân phong chức quan - việc này khiến nữ quan đại Hán ngày càng nhiều, khích lệ nữ tử dân gian dám vùng vẫy vì tương lai của chính mình!

Giới lang y nghiên c/ứu châm pháp, c/ứu pháp và thảo dược học. Kẻ thì dùng rư/ợu cồn luyện thử nghiệm tìm công hiệu, người tự châm chính mình để thực nghiệm huyệt vị... Có những thái y gan dạ như Nghĩa Chước, không cam tụt hậu so với hậu thế, tự tay mổ x/ẻ th* th/ể vô chủ nơi bãi tha m/a hoặc tội nhân t//ử h/ình. Tiếng đồn lan truyền ngày càng kinh dị khiến tỷ lệ phạm tội giảm mạnh trong thời gian ngắn.

Phương sĩ trong cung mải mê nghiên c/ứu th/uốc n/ổ, thi thoảng vang lên tiếng n/ổ lớn, thậm chí có kẻ tự làm mình trọng thương. Điều này khiến dân chúng nản lòng với hỏa dược. Dù có nghiên c/ứu, tiếng n/ổ bộc phát khó lòng qua mặt sự quản chế diêm tiêu nghiêm ngặt của triều đình - huống hồ chúng vừa chói tai vừa dễ bại lộ.

Giới phương sĩ dân gian chuyển hướng nghiên c/ứu hóa học. Khi thì nung luyện đồng sắt trong lò đan, lúc thử nghiệm công thức hàn thực tán hậu thế. Kỳ tích xuất hiện khi họ dùng thạch cao, đất vàng, vôi sống - những nguyên liệu phổ biến - nung ra công thức thổ xi măng. Tường trát xi măng bóng mịn không bong tróc, đường lát gọn ghẽ không lồi lõm, cải thiện đáng kể đời sống dân chúng. Quan trọng hơn, nguyên liệu rẻ tiền mà thành phẩm b/án ra cũng phải chăng.

Du hiệp giang hồ kẻ tòng quân, người mở võ đường trong dân, dạy trẻ nhỏ côn quyền, b/ắn cung, đ/ao ki/ếm. Có võ quán được dân làng góp tiền xây dựng, trở thành những võ sư tiên phong. Ngày càng nhiều nữ nhi tham gia các ngành nghề, đem lại phong thái nữ tính đặc trưng...

...

Khi trăm nghề phát triển rầm rộ, trí thức nhận thức được thời đại biến thiên, chịu ảnh hưởng sâu sắc. Hàng loạt tác phẩm xuất sắc ra đời. Môn khách hoàn khố viết sách thuê cho chủ nhân ít chữ. Quý phu nhân bảo thủ tiếp tục sáng tác Hán nhạc phủ, Hán phú; kẻ chịu ảnh hưởng thần thoại viết tiểu thuyết đồng nhân; người khát khao bày tỏ chép nhật ký hay tự truyện chia sẻ trải nghiệm. Và đương nhiên, không thể thiếu những tài nữ như Trác Văn Quân - người không ngừng thử nghiệm các đề tài mới lạ từng xuất hiện trên thiên mạc.

Trên thị trường trăm hoa đua nở, văn học phồn thịnh tưởng chừng như cảnh thái bình, thế nhưng Trác Văn Quân vẫn đóng cửa phủ Trác chuyên tâm sáng tác.

Nàng chẳng mảy may nhớ thương Tư Mã Tương Như, cũng chẳng bận tâm chuyện hắn nạp thiếp hay không. Ngược lại, Tư Mã Tương Như lại như ngồi trên đống lửa, liên tiếp gửi thư tình tỏ bày.

Trác Văn Quân lướt mắt qua mấy dòng chữ, chợt nhận ra vị trượng phu tài hoa khi xưa giờ chỉ còn là bóng mờ. Thậm chí trong dân gian, thanh danh nàng còn lừng lẫy hơn hắn gấp bội.

Từ thuở sơ giao cảm khái vạn phần, từ bỏ tình yêu mới nhận được thư tình, đến nay nàng đọc qua đã thấy bình thản như nước hồ thu. Nàng nhận phong thư từ tay nha hoàn, thoáng liếc rồi vứt sang bên, tiếp tục cúi đầu viết lách.

Vừa chợt lóe lên chút linh cảm, há lại để chuyện vặt này làm gián đoạn?

Trác phụ gần đây bận rộn ngập đầu, hôm nay hiếm hoi ghé thăm con gái chỉ để bàn việc tư học của Trác gia. Tư học chủ yếu dạy kinh thương, Trác mẫu nhàn cư cũng lên lớp giảng dạy, nào ngờ thu hút đông đảo nữ quyến hào môn cùng hậu duệ hoạn quan đến học, chật kín cả học đường.

Thấy tư học được hưởng ứng, Trác phụ muốn mở thêm chi nhánh. Ai ngờ Trác Văn Quân kiên quyết phản đối: "Kim thượng là bậc đế vương bá đạo, ta ki/ếm đủ ba phần lợi nhuận trên mẫu đất là được, đừng tranh phong với bệ hạ."

Câu nói như gáo nước lạnh dội thẳng vào Trác phụ, khiến ông bừng tỉnh. Phải rồi, vì đâu ông phải rời Tứ Xuyên yên bình đến Trường An? Tất cả chỉ vì một chỉ dụ của thiên tử. Gian nan lập nghiệp nơi kinh thành, há lại tự ý rời đi để rồi công toi việc?

Thôi thì cẩn tắc vô ưu!

Trác Văn Quân chuyển đề tài: "Việc trồng trà thế nào?"

"Đã tiến cung một mẻ, bệ hạ rất hài lòng, ban cho ta đ/ộc quyền buôn trà." Trác phụ mặt rạng rỡ, càng nói càng phấn khích: "So với muối sắt đ/ộc quyền phải khổ công khai thác, trà mới là buôn b/án lâu dài!"

Trác gia đã phái người về Tứ Xuyên chiếm lĩnh các vùng trà núi, ứng dụng kỹ thuật ủ trà đ/ộc đáo, chuẩn bị mở rộng thị trường. Với kinh nghiệm mấy chục năm, Trác phụ tự tin sẽ đưa trà Hán triều vươn ra bên ngoài.

Không chỉ Trác gia, các đại tộc khác cũng hưởng ứng. Viễn cảnh lợi nhuận khổng lồ từ xuất khẩu trà khiến sự phản kháng đ/ộc quyền muối sắt dịu đi. So với việc khổ cực khai thác mỏ, trồng trà nhàn hạ hơn nhiều.

Các cự thương đua nhau chiếm lĩnh vùng trà núi, thậm chí hợp tác với thiết kỵ Đại Hán "hòa bình tiếp quản" những vùng đất xa xôi như Dạ Lang. Thương nhân khắp nơi còn bỏ tiền xây cầu dựng đường, phát chăn ấm cho binh sĩ, c/ứu trợ vùng thiên tai, xây nhà tình thương nuôi cô nhi dưỡng lão - hình thành những tổ chức từ thiện sớm nhất của Đại Hán.

Đối với giới quý tộc và phú thương, số tiền họ quyên góp chỉ bằng một bữa sơn trân hải vị. Nhưng với dân nghèo vật lộn mưu sinh, đó chính là hy vọng sống còn của cả gia đình.

"Bệ hạ đại nhân thật tốt quá!"

Khi long giá Lưu Triệt xuất hiện ở vùng đất ngập lụt - nơi mương nước chưa xây xong đã vỡ đê - hắn tưởng sẽ nghe thấy tiếng oán than của nạn dân. Không ngờ lại nhận được lời khen ngợi như vậy.

Dù long giá rực rỡ vàng son, dân chúng hai bên đường không hề kinh sợ. Những ngày qua, họ đã quá quen với cảnh xe ngựa sang trọng qua lại. Trái lại, ánh mắt họ tràn đầy hi vọng - mỗi lần quý nhân xuất hiện đều mang theo vật tư c/ứu trợ. Lần này sẽ là lương thực, hay quần áo chống rét?

Lưu Triệt vén rèm xe, nhìn những khuôn mặt vàng vọt, thân thể lấm lem đang hướng về mình với vẻ mong chờ. Hắn không khỏi tự hỏi: phải chăng đội quân hộ vệ phòng bị nạn dân bạo lo/ạn do chính mình bố trí đã quá đa nghi?

Tiếng bẩm báo của chẩn tai quan viên kéo hắn trở về thực tại:

"Vẫn có kẻ nhân lúc lo/ạn lạc buôn người, ứ/c hi*p kẻ yếu..." Viên quan thống khổ tiếp lời: "May mà chúng thần kịp thời ngăn chặn. Nếu để mầm họa lan rộng, oán khí tích tụ tất khiến triều đình chuốc lấy tai ương."

Không chỉ vậy, nạn tham nhũng chẩn tai lương vẫn không dứt. Vì thế, chẩn tai quan viên đã nhờ tú y sứ giả - người được hoàng đế ủy quyền - dâng lên hai bản danh sách: vật tư triều đình phát xuống và thực tế phân phát. Nhìn con số chênh lệch, Lưu Triệt thở dài: "Thật là lũ ngoan cố! Trên đầu ba thước có thần linh, chẳng lẽ không sợ trời tru đất diệt, để tiếng x/ấu muôn đời?"

Giữa lúc cả triều dồn sức vào trị thủy và c/ứu trợ, vẫn có kẻ dám trục lợi. Lưu Triệt chỉ biết lắc đầu: hắn đã đ/á/nh giá thấp lòng tham của bọn tham quan.

Tú y sứ giả chua chát kể: nhiều viên quan nơi hẻo lánh sống xa hoa hơn cả đại thần Trường An. Chúng ỷ vào chốn sơn cùng thủy tận mà tung hoành ngang ngược.

"Ch/ém ngay tại chỗ cho nạn dân chứng kiến! Tịch gia sung công làm chẩn tai lương!"

Lời phán quyết của Lưu Triệt định hình phong cách c/ứu trợ, khiến bao đại thần run như cầy sấy. Hắn lạnh lùng nhìn tham quan bị xử trảm, tội trạng phơi bày. Tưởng sẽ nghe tiếng oán h/ận, nào ngờ dân chúng lại càng thêm tín nhiệm:

"Bệ hạ vạn tuế!"

"Đều tại lũ tham quan vô đạo! Chúng tham lam quá nhiều, chắc chắn đê điều không hoàn thành cũng vì chúng!"

"Xử ch/ém đáng đời! Tịch gia cũng đáng kiếp!"

...

Giữa đám đông, các tiểu thuyết gia mắt sáng rực tìm cảm hứng. Họ bàn tán sôi nổi về tác phẩm tương lai:

"Nghe nói chính bệ hạ trực tiếp hạ lệnh? Đây rõ là 'Võ Đế cải trang vi hành, ch/ém gi*t tham quan gian tặc'!"

"Tương truyền trước đây bệ hạ thích công kích hoành tráng. Sau khi màn trời giáng hạ mới quan tâm dân tình. Nên đặt tên 'Màn trời thay dân thỉnh nguyện, Võ Đế đại triệt đại ngộ'!"

"Gì mà đại triệt đại ngộ! Bệ hạ vốn là minh quân, nay chỉ là 'Thần tiên chỉ điểm sai lầm, Võ Đế sớm muộn phi thăng'!"

Nghe những lời bàn tán, Lưu Triệt trong xe ngựa trước tiên im lặng, sau bật cười. Lũ tiểu thuyết gia này, không biết hắn đang ngồi ngay cạnh sao?

Trên xe chất đống tiểu thuyết mới xuất bản. Lưu Triệt nhặt một quyển lật ngẫu nhiên, trang sách mở ra cảnh tham quan nhận hối lộ giữa lúc thiên tai.

Lại khép sách lại, quyển này vẫn ký tên nặc danh.

Nhưng Lưu Triệt có tú y sứ giả, phái người điều tra thì phát hiện ẩn danh chân nhân kia chính là Trác Văn Quân.

Trác Văn Quân dùng bản danh viết đủ loại truyện q/uỷ dị kinh dị, còn dùng bút danh nặc danh lại chuyên viết những chuyện bất bình trong thiên hạ.

Điều trọng yếu nhất là, Lưu Triệt không hề nghi ngờ - lấy địa vị Trác Văn Quân cùng Trác vương tôn, rất nhiều sự tình cực khả năng là chính mắt hắn chứng kiến.

Bởi vậy, khi thấy cố sự này xuất hiện đúng lúc quan trọng, lại vạch trần được tham quan tai khu, quả thực như mèo vồ chuột.

Lưu Triệt xoa xoa huyệt Thái Dương. Sau màn này, tất nhiên sẽ có thêm tiểu thuyết gia đi vạch trần tham quan. Dân gian ngôn luận có phần hỗn lo/ạn, nhưng với bậc Đế Vương mà nói, lại thêm một kênh thăm dò dân tình.

"Quyển này viết không tồi. Về sau gặp sách nào hừng hực khí thế hoặc nội dung kỳ quái, lập tức dâng lên." Lưu Triệt phán với tâm phúc.

Trên đường về Trường An, hắn cố ý dừng chân ở tửu lầu dân gian. Quả nhiên nghe được bách tính đang truyền tụng tiểu thuyết vạch trần tham quan tai khu, lại thấy con em các đại tộc huênh hoang: "Ta cũng biết nhiều chuyện, cũng muốn viết sách!"

Lưu Triệt ẩn trong đám đông, khóe miệng nhếch lên.

So với xuyên tạc sử sách, đây mới là cách dùng đúng đắn cho lũ văn nhân nhàn rỗi.

Màn trời có thể mang đến kỹ thuật mới, nhưng vẫn không ngăn được thiên tai liên miên thời Hán Vũ Đế.

Vượt qua thiên tai, vẫn phải dựa vào quân thần dân Đại Hán đồng lòng. Trong đó không tránh khỏi vài con sâu bỏ rầu nồi canh - cần ánh mắt quần chúng giám sát.

Lưu Triệt tin tưởng sâu sắc: hắn có thể đưa đất nước vượt qua mọi tai ương.

Không có màn trời trong lịch sử, hắn đã thành Thiên Cổ Nhất Đế. Nay có thêm tri thức mới, tất làm được càng hay!

Trước mắt đặt mục tiêu nhỏ:

Biến long phượng heo "Phượng" thành của mình!

Khiến Lý Thế Dân... đi làm heo!

————————

Cảm tạ chư vị đã ủng hộ nguyệt phiếu cùng dinh dưỡng dịch từ 2024-01-14 23:50:11~2024-01-15 14:24:40:

- Phát địa lôi: Lưu Ly Nguyệt hải (1)

- Quán dinh dưỡng dịch:

+ Ta nắm nắm đ/ấm nói (30)

+ Tịnh hải (20)

+ Phốc phốc phốc phốc phốc uông, Ngàn Diễm Ảnh, Meo meo thích ăn Đường (10)

+ Ina nóng (5)

+ Conan quân, Ái mỹ thực Bàn Ngư, Dê tích tích, Đi đến thủy nghèo chỗ, Ngồi xem vân khởi, Gấu bảo đáng yêu nhất, Hạ đầy tức thu, Hồng thùng phía dưới (1)

Vô cùng cảm tạ sự ủng hộ của chư vị, ta nhất định sẽ càng gắng sức!

Danh sách chương

Có thể bạn quan tâm

Bình luận

Đọc tiếp

Bảng xếp hạng

Mới cập nhật

Xem thêm