Trước đây từng nói qua, Thiếu Lâm tự thời Minh triều thường hợp tác với quan phủ, cử trọng binh tham gia trấn thủ biên cương, huấn luyện binh sĩ. Đến thời Thanh triều, lại hoàn toàn đối nghịch khi bị giám sát và cảnh giác.
Thời Minh còn đặt ra chức quan chuyên trách, khiến việc tăng binh của Thiếu Lâm tự được triều đình chấp thuận, hơn nữa còn phối hợp quan phủ đ/á/nh đuổi giặc Oa, hai bên vô cùng tín nhiệm nhau.
Thế nhưng đến thời Thanh triều, sự hợp tác ấy đã biến thành đề phòng lẫn nhau.
Dưới thời Càn Long, Tuần phủ Hà Nam Từ Tích từng thỉnh cầu võ tăng Thiếu Lâm đến doanh trại truyền thụ thương pháp, liền bị Hoàng đế Càn Long nghiêm khắc quở trách: "Tăng nhân đã xuất gia thì nên tuân thủ thanh quy giới luật, lấy nhu hòa nhẫn nhục làm gốc. Há lại học tập võ thuật hiếu sát tranh đấu?"
Chẳng những Hoàng đế Càn Long cảnh giác với Thiếu Lâm tự, các quan viên người Mãn khác cũng tỏ rõ thái độ nghi kỵ. Một vị Tuần phủ Hà Nam khác từng cảnh báo: "Bọn tăng đồ Thiếu Lâm mượn danh nghĩa truyền võ, tụ tập vô lại, mê hoặc chúng sinh nhập bọn."
Bởi lẽ người Mãn vốn trọng kỵ xạ, ngay từ thời Nỗ Nhĩ Cáp Xích đã đề cao "Dựng nghiệp bằng võ công", nên càng cảnh giác với việc người Hán luyện võ.
Từ khi nhập quan, quân chủ nhà Thanh đã ra lệnh nghiêm cấm dân gian tập võ, điều quân trú đóng gần Thiếu Lâm tự để giám sát, lại phái quan viên thường trú trong tự viện.
Thiếu Lâm tự từng có chi nhánh khắp nơi, giờ chỉ còn lại Tung Sơn Thiếu Lâm tự. Ngay cả Nam Thiếu Lâm Phúc Kiến cũng dần mai danh ẩn tích. Võ công Thiếu Lâm chuyển thành truyền thụ ngầm, nhưng vẫn là biểu tượng đặc th/ù của giới võ lâm.
Du Đại Du nghe chuyện gi/ận dữ khôn cùng: "Ta đem bản thân sở học truyền lại cho võ tăng Thiếu Lâm, chính là mong võ thuật đời đời lưu truyền, giúp đ/á/nh đuổi giặc ngoại xâm bảo vệ giang sơn. Thanh triều sao có thể hẹp hòi đến thế! Kh/ống ch/ế Thiếu Lâm tự thì còn ai ra trận diệt Oa khấu?"
Du Đại Du nhiều năm tòng quân, hiểu rõ trong quân đội có quá nhiều ràng buộc. Nhiều tướng sĩ không phải không có thực lực, mà là không được phát huy tùy ý. Ngay cả hắn cũng thường bị văn quan triều đình hạch sách.
Tăng binh có lợi thế lớn là tự do cao hơn hẳn. Triều đình đối xử với Thiếu Lâm tự như lính đ/á/nh thuê - cần thì mời hỗ trợ, không cần thì mặc kệ họ tu luyện. Giới luật chùa chiền giúp tăng binh không nhiễm thói hút th/uốc, c/ờ b/ạc như quân Minh, nên chất lượng cực cao.
Thích Kế Quang khéo léo hơn Du Đại Du, lại thông hiểu chính sự, chỉ suy luận chút ít đã rõ ngọn ngành: "Thanh triều bế quan tỏa cảng, tất cho rằng không còn giặc Oa quấy nhiễu. Hơn nữa họ là ngoại tộc nhập quan, như Mông Nguyên năm xưa, tất kiêng kỵ người Hán luyện võ. Lẽ nào tha cho Thiếu Lâm tự tự do truyền võ?"
Du Đại Du gi/ận dữ đ/ấm mạnh xuống bàn đ/á, khiến tảng đ/á vỡ thành năm bảy mảnh.
Sau khi Minh triều diệt vo/ng, dưới sự thống trị hà khắc của Thanh triều, Thiếu Lâm tự trở thành nơi ký thác tâm tình của di thần liệt sĩ. Dân gian lưu truyền nhiều truyền thuyết như "Thập Tam Côn Tăng C/ứu Đường Vương", thậm chí thổi phồng công tích côn tăng - kỳ thực là gửi gắm nỗi hoài niệm tiền triều.
Hoằng Lịch nghe tin nghiến răng: "Trẫm đã biết bọn Hán nhân kia chưa từng bỏ ý phản lo/ạn!" Vị hoàng đế từng quản thúc Thiếu Lâm tự nghiêm ngặt hoàn toàn không cảm thấy mình sai lầm.
Thiếu Lâm Tự vốn là nơi gửi gắm tình cảm của bá tánh Minh triều từ già đến trẻ, cần phải được quản lý nghiêm ngặt.
【Nhưng người ta thường nhớ về quá khứ vào lúc nào?】
【Đương nhiên là khi hiện tại không bằng quá khứ.】
Hoằng Lịch sắc mặt đột nhiên tối sầm.
"Trẫm đang trị vì thời Khang Càn thịnh thế, sao lại không bằng tiền triều?"
Màn trời đã nói rõ Minh triều nghèo khó, còn xưng tụng Đại Thanh giàu có thịnh vượng. Như thế mà vẫn bảo là không bằng tiền triều?
【Sau lo/ạn An Sử, người nhà Đường hoài niệm thời kỳ trước biến cố; Sau khi Đại Tống thiên đô về nam, người Tống nhớ tiếc thời Bắc Tống phồn hoa thịnh trị.
Thế nhưng, liệu có bách tính nào dưới thời Trinh Quán chi trị lại hoài niệm thời Tùy Dương Đế? Có dân chúng nào dưới thời Văn Cảnh chi trị lại mong nhớ thời Tần Nhị Thế?】
Giữa năm Càn Long nhà Thanh, một nông dân nghèo khổ thốt lên: "Đương nhiên là không! Chúng tôi đâu phải kẻ ng/u si."
Trong cái gọi là "thịnh thế" này, không ít nông dân đã mất đi ruộng đất, buộc phải b/án mình cho địa chủ giàu có. Họ cày cấy trên chính mảnh đất của mình, giờ đây chỉ còn là nô bộc làm trâu ngựa cho người.
Ruộng đồng của họ nhờ giống nông sản ngoại lai năng suất cao mà bội thu, nhưng bản thân cùng gia quyến lại đói đến vàng da xanh xao.
"Chúng tôi mong thời thái bình, không tham vinh hoa phú quý. Chỉ cần không phải đ/á/nh trận, giảm thuế má lao dịch, yên phận làm ruộng là mãn nguyện lắm rồi."
"Nhưng cảnh thái bình này được bao lâu đây?"
"Hừ, gọi là thịnh thế ư? Thịnh thế nào lại khiến dân chúng ch*t đói đến thế này!"
Những người nông dân g/ầy guộc thở dài. Họ mãi không hiểu vì sao ruộng bội thu mà mình vẫn đói ăn. Vì sao địa chủ trả công mà họ vẫn không m/ua nổi gạo muối.
Càng khó hiểu hơn khi giá lương thực vải vóc bên ngoài ngày một tăng, nhưng tiền công từ lão gia lại giảm dần. Cuối cùng, dù trong tay có chút đồng xu, vẫn chẳng m/ua được gì.
Mệt mỏi ngồi bên bờ ruộng, trong chốc lát nghỉ ngơi hiếm hoi, họ đờ đẫn nhìn lên màn trời.
Trong nước thì vương thân quý tộc chiếm đoạt ruộng đất, thu thuế phụ nặng nề. Ngoài biên thì giặc Oa Nhiều quấy phá, cường đạo nổi lo/ạn. Họ thèm khát được như dân chúng sống trong thái bình thịnh thế - dù nghèo đói nhưng còn đường sống.
Thà làm chó thời bình, chứ không làm người thời lo/ạn!
【Còn điểm trọng yếu nhất: Người ta chỉ tìm viện binh bên ngoài khi tự thân bất lực.】
【Từ Tích mời võ tăng Thiếu Lâm đến luyện binh không xuất phát từ tư tâm. Trái lại, qua quan sát cận chiến, ông đã phát hiện khuyết điểm trầm trọng trong quân đội nhà Thanh.】
Từ thời Minh triều, th/uốc phiện và lá cây th/uốc lá đã du nhập từ Đông Nam Á. Khi ấy th/uốc phiện được dâng lên như cống phẩm cho quý tộc và hoàng đế, còn lá th/uốc lá thì phổ biến trong dân gian.
Người ta phát hiện khói th/uốc có tác dụng ngăn chướng khí. Binh lính Vân Quý - nơi chướng khí ngập tràn - hút th/uốc lá thực sự ít bị nhiễm bệ/nh hơn. Vì thế, th/uốc lá trở nên cực kỳ phổ biến trong quân đội, đến mức binh sĩ nghiện th/uốc nặng nề.
Giữa niên hiệu Sùng Trinh, hoàng đế phát hiện tình trạng nghiện th/uốc trong quân đội vô cùng nghiêm trọng. Doanh trại m/ù mịt khói th/uốc, binh sĩ trở nên lệ thuộc, không hút th/uốc thì ủ rũ bất an.
Sùng Trinh Đế nổi gi/ận, hạ lệnh cấm th/uốc khắp nơi. Nhưng ông không ngờ rằng, binh sĩ bị c/ắt th/uốc đột ngột trở nên uể oải, sức chiến đấu suy giảm nghiêm trọng. Ngay cả Cấm Vệ Quân kinh thành cũng không ngoại lệ.
Sau khi quân Thanh nhập quan, vào thời Khang Hi sơ kỳ, triều đình từng ban hành "Cấm hút th/uốc lệnh" trong quân đội. Bản thân Khang Hi Hoàng đế thường nói câu: "Uống nhiều nước lã, chẳng cần ăn khói". Chữ "ăn khói" ở đây chính là ám chỉ việc hút th/uốc.
Đến thời Càn Long, quân đội lại bắt đầu phổ biến hút th/uốc, triều đình nhiều lần cấm chỉ nhưng vô hiệu.
Càn Long Hoàng đế đắm chìm trong ảo tưởng về Đại Thanh đế quốc với bốn vạn vạn nhân khẩu chưa từng có, tự cho văn trị võ công của mình đều hoàn mỹ. Nhưng hắn không ngờ rằng, từ lúc ấy, nguy cơ đã rình rập khắp nơi.
Đáng tiếc là hắn vẫn không tỉnh ngộ, lại còn cho rằng người khác lòng lang dạ thú, thích nói điều gi/ật gân, nên cưỡng ép bịt miệng thiên hạ.
...
Từ Tích cảm động nghẹn ngào thốt lên: "Màn trời cuối cùng đã vì ta minh oan!"
Hắn nào có ý phản Thanh phục Minh? Nếu thật sự muốn khôi phục tiền triều, há dám công khai chiêu m/ộ võ tăng Thiếu Lâm - chẳng phải tự tìm đường ch*t sao? Dù không vì bản thân thì cũng phải nghĩ cho gia quyến.
Thực tình là không thể nhịn được! Hắn làm Tuần phủ Hà Nam, muốn đảm đương trách nhiệm với quân đội địa phương, đề cao sức chiến đấu bằng cách luyện binh cường tráng. Vậy mà lại bị vu cáo là mưu đồ bất chính.
Oan ức biết bao nhiêu mà kể!
...
Hoằng Lịch vô cùng bất mãn trước việc màn trời hạ thấp uy tín của mình, giọng điệu hung hăng: "Màn trời nhất định là người Hán, nên mới đứng ra biện hộ cho bọn Hán thần!"
Phúc Khang An vội an ủi: "Bệ hạ an tâm, màn trời trước đó từng nói sú/ng đạn th/uốc n/ổ rất hữu dụng. Đại Thanh ta tiếp tục nghiên c/ứu, tất sẽ vượt mặt phương Tây."
Phó Hằng cũng tâu: "Đúng vậy! Dù kỹ thuật có tạm thời lạc hậu, nhưng hiện nay đã chiêu m/ộ đông đảo công tượng. Sú/ng đạn Đại Thanh giờ đây đã mạnh hơn trước gấp bội."
Hoằng Lịch trên chính sự lại tỏ ra không mê muội như vậy: "Trong số công tượng có không ít người Hán, cần phải giám sát nghiêm ngặt."
Phó Hằng - người phụ trách giám sát chế tạo sú/ng đạn - vội đáp: "Xin bệ hạ yên tâm, thần đã đem toàn bộ gia quyến bọn chúng dời đến gần, canh giữ cẩn mật."
Một đám đại thần tâm phúc họ Mãn của Hoằng Lịch chỉ vài câu đã bàn xong việc nâng cao chế tác sú/ng đạn. Nhưng kỳ lạ thay, không ai nhắc đến chuyện võ lâm cao thủ người Hán.
Trên thiên mạc đã hiển thị những võ lâm cao thủ kinh khủng như vậy, nếu bọn họ bất mãn mà hành thích, thì chẳng khác nào lấy đồ trong túi! Vẫn nên cấm võ càng nghiêm càng tốt.
Giới quý tộc Mãn Thanh vẫn cho rằng chính sách của Đại Thanh là đúng đắn. Chỉ cần nghiên c/ứu được sú/ng đạn lợi hại, cần gì sợ phương Tây? Nhưng chẳng mấy chốc, màn trời đã t/át thẳng vào mặt bọn họ.
【Cuối thời Thanh, triều đình từng sang phương Tây m/ua loại sú/ng mạnh nhất - hỏa pháo của Đức.】
【Kết quả thế nào? Vẫn bị đ/á/nh tan tành, cuối cùng toàn bộ trở thành chiến lợi phẩm của Nhật Bản.】
【Vũ khí dù tốt đến mấy cũng phải xem người dùng. Sú/ng đạn thời Tống đứng đầu thế giới lúc bấy giờ, nhưng kết cục ra sao?】
Triệu Khuông Dận: Đừng m/ắng nữa, hãy m/ắng bọn Thanh triều đi! Trẫm nhất định ghi nhớ bài học này!
Hoằng Lịch cùng đám đại thần không còn nở được nụ cười nào, chỉ còn biết trầm mặc.
Thì ra sú/ng đạn cũng không phải vạn năng!
...
Cuối thời Thanh không phải không có quan viên phát hiện sú/ng đạn đã tụt hậu xa so với phương Tây. Đặc biệt sau Chiến tranh Nha phiến lần thứ hai, những quan chức tiến bộ nhận ra không biến pháp thì mãi mãi thất bại, bèn đề xướng "Nước giàu binh mạnh".
Cái gọi là "cường binh" này cũng giống như suy nghĩ của Hoằng Lịch và giới quý tộc Mãn Thanh - tưởng rằng chỉ cần có vũ khí tối tân là lập tức hùng mạnh. Thế là phe biến pháp lập tức bắt tay vào việc sang phương Tây m/ua sắm vũ khí.
Ban đầu gặp vô vàn khó khăn khi Anh - Pháp tỏ ra th/ù địch. Bởi hai nước này - kẻ châm ngòi Chiến tranh Nha phiến - đã coi Đại Thanh như miếng mỡ ngon, đâu dễ để thanh đình m/ua vũ khí mà cường thịnh lên?
Thế là triều đình nhà Thanh liền hướng ánh nhìn sang nước Đức.
Sau khi Thanh triều cử sứ đoàn sang Đức, nước Đức lúc bấy giờ đang trong giai đoạn phát triển chưa theo kịp bước tiến của cách mạng công nghiệp, tụt hậu khá xa so với Anh - Pháp. Đúng lúc họ cần ng/uồn tài chính lớn để tiếp tục phát triển, hai bên đã hợp tác ăn ý.
Thanh triều tiêu tốn lượng vàng lớn để m/ua số vũ khí tân tiến của Đức, trong đó có khẩu đại pháo Khắc Lỗ Bá được sử dụng suốt thời kỳ kháng chiến và sú/ng trường hậu xạ sau này.
Lý Hồng Chương phụ trách việc này, một lần đặt m/ua 328 khẩu đại pháo Khắc Lỗ Bá với nhiều cỡ nòng khác nhau. Khi lô đầu tiên gồm 114 khẩu được vận chuyển về Trung Quốc, Lý Hồng Chương đã trang bị chúng cho Hoài quân của mình, thành lập đơn vị pháo binh chính quy đầu tiên trong lịch sử Hoa Hạ. Trương Chi Động chịu ảnh hưởng từ vũ khí phương Tây, đã khai trương Hán Dương xưởng quân công để học tập kỹ thuật sản xuất đạn dược tiên tiến.
Về sau, Hoài quân của Lý Hồng Chương nhờ vũ khí hiện đại đã đ/á/nh bại quân khởi nghĩa Thái Bình Thiên Quốc. Khi Tả Tông Đường tuổi cao 63 vẫn mang qu/an t/ài xuất chinh thu phục Tân Cương, chính nhờ sú/ng trường hậu xạ tân tiến cùng bản nguyên gốc sú/ng máy Gatling, mới giành được thế thượng phong trước quân A Cổ Bá, bảo vệ được vùng đất này.
Tuy nhiên, hai chiến thắng này đều có tiền đề: Thứ nhất, tướng lĩnh đều là danh tướng kinh nghiệm trận mạc. Thứ hai, binh lính đều thuộc thân quân tinh nhuệ của hai vị. Cuối cùng, đối thủ chỉ là quân nông dân khởi nghĩa trang bị thô sơ, ý thức chiến đấu hỗn lo/ạn - hoàn toàn khác biệt với các cường quốc phương Tây đã hiện đại hóa quân đội.
Chiến thắng của Hoài quân không đồng nghĩa toàn bộ quân đội Đại Thanh đều duy trì sức chiến đấu đó. Trái lại, đa phần đều buông lỏng kỷ luật, lâu ngày không huấn luyện. Đặc biệt hải quân do chính sách bế quan tỏa cảng đã trở nên hư hỏng. Đến khi chiến tranh Giáp Ngọ n/ổ ra, người ta mới phát hiện nhiều đạn dược han rỉ, thậm chí có pháo đài chỉ là đồ trang trí bằng gỗ vô dụng.
...
Huyền Diệp nhìn cảnh binh sĩ hút th/uốc phiện, lòng tràn ngập tai họa khói th/uốc. "Dù là th/uốc phiện hay th/uốc lá, binh lính một khi nghiện ngập thì sức chiến đấu coi như phế bỏ hoàn toàn." Hắn nhớ lại hình ảnh những binh lính Hán tộc nghiện ngập, những kẻ hèn nhát nằm vật trên giường như x/á/c ch*t trước mặt quý tộc Minh triều, lòng dâng tràn gh/ê t/ởm.
Hắn lại nghiêm khắc nhắc nhở các con: "Chúng ta là dân tộc du mục trên lưng ngựa, không được quên cung tên chiến mã, càng không thể nhiễm thói quen tồi tệ này!"
Các con đều vâng dạ liên tục.
Nhưng hắn có thể quản được con cháu mình, chứ làm sao kiểm soát nổi hậu thế? Huyền Diệp lại nhớ đến những năm cuối Thanh triều khi chiến tranh nha phiến bùng n/ổ, ngay cả Hoàng đế Hoàng hậu cũng nghiện ngập, chỉ còn biết bất lực. Hắn chẳng phải đã từng cảnh cáo hoàng tộc không được hút th/uốc phiện sao? Nhưng hậu thế khi cần thì nhắc tổ tông gia pháp, khi hưởng lạc lại quên sạch, hắn biết làm sao được?
Giờ phút này, biện pháp vĩnh viễn duy nhất Huyền Diệp nghĩ đến chính là ra tay trước, tiêu diệt hai nước Anh - Pháp khơi mào chiến tranh!
【Ngoài võ học hưng thịnh, Thanh triều cũng là triều đại có nhiều câu lạc bộ dân gian nhất.】
【Nhưng không phải vì chính sách khai phóng. Ngược lại, Thanh triều bị gọi là "nô rõ ràng", thực thi chính sách nô dịch hóa dân chúng chứ không phải khai sáng.】
Sau biến cố Tĩnh Khang nh/ục nh/ã, các hội đoàn dân gian triều Tống phát triển nhanh chóng. Triều Thanh cũng có những bước ngoặt tương tự, một là cuộc đại đồ sát thời Thanh sơ, hai là thất bại trong chiến tranh nha phiến.
Dân gian liên kết với nhau, ấy là sự phản kháng của nhân dân, là cách những kẻ cùng đinh tụ tập sưởi ấm cho nhau, là kế sách tự vệ bất đắc dĩ.
Hồi cuối triều Minh, phong trào tập võ trong dân gian bùng n/ổ, xuất hiện vô số hội quán. Khi ấy chủ yếu để kháng cự lại triều đình.
Thời Minh mạt Thanh sơ, các hội đoàn trong khởi nghĩa nông dân lại một phen hưng thịnh. Bởi những toán quân khởi nghĩa nông dân tuy hô khẩu hiệu vang trời, song sau khi lập chính quyền vẫn không thoát khỏi cảnh cư/ớp bóc tàn sát. "Diệt lục quốc giả, lục quốc dã", chất lượng quân khởi nghĩa cuối Minh cũng chẳng cao. Trương Hiến Trung cùng Lý Tự Thành đều chẳng phải lãnh tụ chân chính thương dân, trái lại trong hàng ngũ họ không thiếu những môn phái hành hiệp trượng nghĩa, ngày đêm bảo vệ đồ đệ mình.
Sau khi chiến tranh nha phiến thất bại, phản ứng dân gian càng thêm dữ dội.
"Thôn thôn đều lập đoàn, trấn trấn mở đàn tràng. Khe suối luyện võ nghệ, đồng bằng hóa chiến trường, khắp chốn tụ hội, ai nấy cầm đ/ao thương."
Nhận thức được triều đình không đáng tin cậy, dân chúng khắp nơi bí mật liên kết, cùng nhau luyện quyền. Thậm chí nhiều đại gia sẵn sàng truyền thụ võ công gia truyền, không còn phân biệt môn hộ.
Triều Thanh xuất hiện ba loại hội kín chủ yếu:
- Hội đảng: Lấy nghi thức uống m/áu ăn thề làm gốc, mượn qu/an h/ệ "trung nghĩa" cùng tình huynh đệ sinh tử làm sợi dây ràng buộc, như Thiên Địa Hội, Kha Lão Hội...
- Giáo môn: Thuộc các tông giáo bí mật hoặc tín ngưỡng dân gian, như Bạch Liên Giáo, Bát Quái Giáo, Thanh Liên Giáo...
- Còn có các hội quyền thuật phổ biến, chủ yếu dạy võ thuật. Đầu thời Thanh, dân gian đã "nhiều hội quyền như rừng", tức Nghĩa Hòa Đoàn sau này, cùng các hội Mai Hoa Quyền, Hồng Quyền, Thiếu Lâm Hội... Từ thời Càn Long, hội quyền và giáo môn thẩm thấu lẫn nhau nên còn gọi là "Quyền Giáo", bị triều đình đàn áp gắt gao.
***
"Một lũ điêu dân! Toàn là phường điêu dân!" Hoằng Lịch vốn biết dân gian nhiều cuộc nổi dậy, nhưng khi được thiên màn chỉ rõ, mới kinh hãi nhận ra số lượng khủng khiếp đến vậy.
Hoằng Lịch chẳng còn giữ nổi vẻ khoan dung, ánh mắt hung lệ đứng phắt dậy: "Mượn danh tập luyện côn quyền để mưu đồ phản nghịch! Những hội đảng câu lạc bộ này đều đáng tội tru di!"
Đối với các thế lực phản Thanh phục Minh, thái độ thống trị của Đại Thanh xưa nay vẫn là trừ khử tận gốc.
Triều đình như thế, dân gian đương nhiên rõ thái độ ấy.
"Lão cẩu hoàng thấy cảnh này hẳn gi/ận đi/ên mất." Người sáng lập Nghĩa Hòa Đoàn nơi thôn dã nhìn thiên màn tường thuật tỉ mỉ, bật cười khoái trá.
"Gi/ận ch*t lão cẩu hoàng mới tốt!" Dân làng bên cạnh đáp lời như đã quen miệng.
Vừa trò chuyện, mọi người vừa làm việc. Giặt giũ, cày cấy, đào khoai, xay lúa... Từng người nhìn như nông dân chất phác, làm những công việc nhà nông tầm thường. Thế nhưng khi họ khẽ buông hai chữ "cẩu hoàng đế", thân phận "phản đảng", "điêu dân" lại hiện lên sống động lạ thường.
Song họ chẳng hề lo bị tố giác, bởi quan làng cùng quan huyện nơi này đều là người trong hội, huynh đệ đồng tâm.
【 Cuối cùng, triều Thanh cho rằng người Hán kiêu căng khó trị, nào biết rằng phong trào phản Thanh phục Minh chính bị họ bức ra.】
Thiên Địa Hội - một trong những hội kín triều Thanh - lấy lễ bái trời đất làm biểu tượng, còn gọi "Hồng Môn", dân gian quen gọi "Hồng Bang".
Ban đầu, Thiên Địa Hội tập hợp những nông dân mất đất, bị áp bức - từ kẻ bần cùng phá sản chuyển thành tiểu thợ thủ công, tiểu thương buôn b/án nhỏ cùng giang hồ lưu lạc vô nghề nghiệp. Đây là nơi họ cùng nhau sưởi ấm qua cơn bĩ cực, chủ yếu dành cho tầng lớp dưới đáy xã hội.
Ở triều Thanh, không những không trừng trị tham quan, lại còn không ngừng bức bách nông dân đến bần cùng. Thiên Địa Hội từ chỗ tự vệ đã biến thành tổ chức Phản Thanh Phục Minh, khẩu hiệu thay đổi thành: "Phản Thanh phục Minh, thuận thiên hành đạo, cư/ớp của nhà giàu chia cho người nghèo".
Những kẻ bị áp bức tầng lớp dưới cùng tụ hội một chỗ, uống m/áu ăn thề: "Phượng Hoa Đình, cao suối am, mã suối miếu, minh chủ truyền tông. Đêm nay uống m/áu kết nghĩa huynh đệ, kết làm đồng bào cốt nhục, vĩnh viễn không hai lòng!"
"Thần trợ quyền, Nghĩa Hòa Đoàn, chỉ vì q/uỷ tử náo Trung Nguyên... Thăng vàng biểu tấu, đ/ốt hương khói, thỉnh các vị thần tiên động phủ. Tiên xuất động, thần xuống núi, phụ thể nhân thân truyền thần quyền. Binh pháp võ nghệ đều thông thạo, bình q/uỷ tử chẳng khó chi!"
Chữ "q/uỷ tử" ở đây chỉ bọn "q/uỷ Tây Dương".
Ban đầu, Nghĩa Hòa Quyền thành lập với mục tiêu đơn giản là chống lại liên quân tám nước, khẩu hiệu rõ ràng là "phò Thanh diệt Dương". Về sau, Nghĩa Hòa Quyền đổi tên thành Nghĩa Hòa Đoàn, tu luyện nghĩa quyền đồng thời mang màu sắc m/ê t/ín phong kiến, tin rằng mình đ/ao thương bất nhập, thủy hỏa bất xâm.
Thủ lĩnh Nghĩa Hòa Đoàn muốn liên Thanh kháng Di, chủ động tìm đến tướng lĩnh Đại Thanh. Lúc ấy, Đoan Quận vương Ái Tân Giác La·Tái Dịch bản lĩnh không cao nhưng khéo nịnh hót, được Từ Hi Thái hậu sủng ái. Hắn muốn lập đại công, lại biết rõ Từ Hi trong lòng cũng gh/ét người Tây Dương, bèn mượn sức Nghĩa Hòa Đoàn để đuổi "q/uỷ Tây Dương", tranh thủ quyền lợi lớn hơn.
Khi Nghĩa Hòa Đoàn tìm đến, Tái Dịch cảm thấy như buồn ngủ gặp chiếu manh, hỏi ngay: "Các ngươi thật lòng muốn cùng Đại Thanh chống liên quân tám nước?"
Thủ lĩnh Nghĩa Hòa Đoàn đáp: "Thiên hạ hưng vo/ng, thất phu hữu trách!"
"Tốt!" Tái Dịch nhân cơ hội tâu lên Từ Hi Thái hậu kế sách "Phò Quyền Diệt Dương" - phò trợ Nghĩa Hòa Quyền tức Nghĩa Hòa Đoàn. Mấy vị cao thủ Nghĩa Hòa Đoàn tự mình diễn võ trước mặt Thái hậu, khiến bà vô cùng hài lòng, đồng ý bàn việc diệt Dương, để Nghĩa Hòa Đoàn cùng Đổng Phúc Tường chỉ huy Cam Quân, hợp với 1 vạn tinh binh Mãn tộc Hổ Thần Doanh do Tái Dịch chiêu m/ộ năm 1899, cùng tiêu diệt người Tây Dương. Thời điểm này, Từ Hi còn hậu thuẫn các đoàn thể võ thuật dân gian, khích lệ mọi người đồng tâm chống Tây.
Tuy nhiên, khi Nghĩa Hòa Đoàn cùng quân triều đình huấn luyện, vấn đề nghiêm trọng đã phát sinh. Tái Dịch thống lĩnh Hổ Thần Doanh - lực lượng tinh nhuệ nhất trang bị vũ khí hiện đại, nhưng binh sĩ lại không quen sử dụng. Hắn bèn tìm Nghĩa Hòa Đoàn: "Chúng ta có số sú/ng ống vì lâu không dùng nên không rõ tầm b/ắn và uy lực, cần người thử..."
"Để ta!" Thành viên Nghĩa Hòa Đoàn đang truyền dạy võ nghệ vẫn mang tư tưởng sùng bái, tin tưởng tuyệt đối vào "đ/ao thương bất nhập", liền xung phong đứng trước họng pháo.
"Oanh!"
Một tiếng n/ổ kinh thiên, thịt nát xươ/ng tan. Tái Dịch b/ắn xong lập tức chạy mất, lát sau mới quay lại xem xét khẩu pháo: "May quá, không hỏng."
Vũ khí vẫn nguyên vẹn, nhưng người Nghĩa Hòa Đoàn đã ch*t không toàn thây. Thủ lĩnh thấy vậy tiếp tục tẩy n/ão đám đông: "Hắn tu luyện chưa tới! Mọi người khổ luyện nội công sẽ đạt cảnh giới đ/ao thương bất nhập!"
Khi chiến sự bùng n/ổ, cuộc tấn công đầu tiên nhắm vào các tòa đại sứ phương Tây.
“Hướng ——”
“Hướng ——”
“Gi*t ——”
Nghĩa Hòa Đoàn dù đ/ao thương bất nhập nhưng vẫn cầm binh khí lạnh xông lên phía trước.
Đáng tiếc, trong đại sứ quán đã trang bị hỏa khí.
“Rầm rầm rầm——”
“Đoàng đoàng đoàng——”
Quân đội phương Tây kéo đến, phản công dữ dội.
Khi Tái Yểm kinh h/ồn bạt vía chạy về triều, tin chiến bại đã truyền đến tai Từ Hi Thái hậu.
“Bệ hạ! Lão Phật gia! Thất trận rồi!”
Mặt Từ Hi tái mét, lại còn đón tin dữ hơn: “Liên quân tám nước đòi Đại Thanh phải có giải thích!”
Từ Hi hỏi lại: “Giải thích?”
Tái Yểm vương sợ bị liên lụy, vội hiến kế: “Đây là bọn Nghĩa Hòa Đoàn nghịch tặc gây họa, bọn phản nghịch làm lo/ạn, chẳng liên quan gì đến Đại Thanh.”
Từ Hi nhíu mày: “Ý của ngươi là?”
“Thái hậu, nên quyết đoán lúc này!” Tái Yểm ra hiệu ch/ém tay, “Ta phải liên hợp tám nước, cùng diệt lũ lo/ạn thần tặc tử này!”
Từ Hi phán ngay: “Chuẩn.”
Đêm ấy, khi thương binh Nghĩa Hòa Đoàn đang hồi sức, quan binh triều đình kéo đến.
“Vết thương thế nào? Chúng tôi đến thăm khám.”
Thương binh mở cửa, đón nhận ánh hàn quang:
“Xoẹt——”
M/áu tóe loang đỏ cửa giấy thành vệt t/ử vo/ng.
Bọn họ thay phiên gõ cửa.
“Ai đấy?”
“Thái y viện.”
Nghĩa Hòa Đoàn vừa hé cửa, thấy sát khí ngập trời liền hét: “C/ứu——”
Tiếng kêu nghẹn lại khi bị bịt miệng lôi đi.
“Xoẹt xoẹt——”
Quan binh tràn vào phòng, cuộc tàn sát bắt đầu.
Thương binh gắng hết sức bò ra cửa, gào thét: “Chạy đi——”
Tiếng hét vang c/ứu được vài người, cả bọn ôm vết thương tháo chạy.
Nhưng quân phục dịch vừa mới chiến đấu bên cạnh, giờ lại bị quan binh truy sát không ngừng.
Mấy ngàn nghĩa sĩ tìm đến triều đình cầu viện, cuối cùng lại bị chính triều đình gi*t ch*t.
Họ không ch*t dưới tay cường quốc, mà ch*t bởi tay đồng bào!
“Cẩu hoàng đế! Tặc thái hậu! Nghĩa Hòa Đoàn ta thề sống ch*t với các ngươi!”
Từ đó, Nghĩa Hòa Đoàn từ chống ngoại xâm biến thành phản Thanh phục Minh, nhanh chóng liên kết các lực lượng khởi nghĩa.
.
Truyền nhân Hoa Mai Quyền Triệu Tam Đa gầm lên: “Mãn Thanh bất tín! Sau này Nghĩa Hòa Đoàn tuyệt đối không hợp tác với triều đình!”
Vị truyền nhân đời thứ 14 vốn phải ch*t dưới tay quân Thanh, nay nhờ màn trời xuất hiện mà đoạn tuyệt tâm tư phò Thanh.
Huyền Diệp đ/ấm ng/ực kêu gào: “Tử tôn vô năng! Tử tôn vô năng!”
Chu Nguyên Chương lắc đầu: “Nghĩa Hòa Đoàn vốn là trung thần hiếu nghĩa, ngươi đối đãi trung thần như thế ư?”
Dù là hắn khi xưa khởi nghĩa cũng chẳng tìm về nương nhờ Nguyên triều - kẻ th/ù không đội trời chung.
“Đáng đời!” Lưu Triệt kh/inh bỉ nhìn triều đình Đại Thanh phản bội, “Có lực lượng xung phong không sợ ch*t như thế, chưa qua sông đã phá cầu! Cao Tổ còn chẳng tệ đến vậy!”
Cao Tổ ít nhất qua sông mới phế cầu. Loại hành vi đ/á/nh không lại địch liền gi*t đồng minh này, đúng như Tống triều xưa - vừa nghị hòa đã phế bỏ võ bị!
Ngoài Thiên Địa hội và Nghĩa Hòa Đoàn nổi danh nhất, còn có Bạch Liên giáo, Thiên Lý giáo, Bát Quái giáo, Hỗn Nguyên giáo các loại. Những kẻ phản lo/ạn không chỉ có người Hán cùng các dân tộc thiểu số, mà ngay cả chính bọn họ chật kín người cũng tham gia. Từ một góc độ nào đó mà nói, việc Mãn Thanh có thể khiến người ta gh/ét bỏ hơn cả Mông Nguyên quả thật không phải chuyện dễ dàng.
Sau khi nhập quan, Mãn Thanh tự xưng "Dùng võ lập quốc", nên không cho phép bỏ rơi kỵ xạ chi thuật. Bởi thế, bát kỳ tử đệ bị cấm làm nông, cũng không được phép kinh thương.
Tầng trên quý tộc bát kỳ có thể sống no đủ, nhưng tầng dưới binh lính bình thường không có chiến tranh lại không ki/ếm được kế sinh nhai, đành phải đi ăn xin. Dưới chân thiên tử, ăn xin ít ra còn không đến nỗi ch*t đói, nhưng quan ngoại chật kín người lại càng thảm thương hơn.
Phong quan không chỉ ngăn người Hán khai hoang, mà còn ch/ặt đ/ứt đường kinh thương của chật kín người, ép họ biến thành công cụ chiến tranh. Về phương diện kinh tế, nơi này còn thua kém cả thời Minh triều.
Đáng nói hơn, vùng đất phì nhiêu này bị Nga La Sư để mắt tới, nhiều lần quấy nhiễu gây chiến. Về sau Nhật Bản nhúng tay vào, khiến Đông Bắc trở thành bàn cờ cho Nga - Nhật tranh đoạt. Chúng vơ vét tài nguyên từ nông nghiệp đến khoáng sản, thực sự "phá hoại ba thước". Chính phủ Mãn Thanh không những bất lực ngăn cản, ngay cả tình hình địa phương cũng không nắm rõ.
Những năm cuối Thanh triều, dưới áp lực của 《Tân Sửu Điều Ước》, hoàng đế bất đắc dĩ mở cửa Đông Bắc, khởi phát phong trào "Đi Quan Đông". Từ đó, lượng lớn nhân khẩu mang theo kỹ thuật đổ về khai phá vùng đất hoang vu phương Bắc. Ai có thể ngờ, Mãn Thanh đối đãi với quê hương Đông Bắc của chính mình lại "yêu quý" đến thế?
【Lưu ý trọng yếu: Hiện đại có nhiều người gọi sai "Đông Bắc Mãn Châu". Thực chất thời Đại Thanh, Đông Bắc căn bản không có địa danh này. Mãn Châu vốn là tên tộc, mãi đến khi Đại Thanh diệt vo/ng, người Nhật Bản mới dựng lên Phổ Nghi lập nên "Ngụy Mãn Châu Quốc", âm mưu tách Đông Bắc khỏi Trung Nguyên.】
【Nỗ Nhĩ Cáp Xích xưa kia tuyên bố "Thất đại h/ận", tự xưng Mãn Châu mới hình thành danh xưng này. Trước đó, họ chỉ là Kiến Châu Nữ Chân. Nhưng Đông Bắc đâu chỉ có mỗi Nữ Chân?】
Ngoài Mãn Châu thuộc Kiến Châu Nữ Chân, Đông Bắc còn có Hải Tây Nữ Chân cùng Dã Nhân Nữ Chân. Đáng chê trách là Kiến Châu Nữ Chân đối đãi đồng hương vô cùng tà/n nh/ẫn - chính là dẫm lên xươ/ng m/áu đồng bào để dựng nghiệp.
【Nguyên triều khi chiếm Trung Nguyên, từng cư/ớp bóc của cải đưa về Mông Cổ. Về sau quân khởi nghĩa phát hiện Giang Nam tiêu điều như bị đào ba thước đất.】
【Nhưng Đông Bắc lại khác. Thời Mãn Thanh, nơi này còn thê thảm hơn cả thời Minh triều - bởi Minh từng thiết lập hỗ thị giao thương, trong khi Thanh triều phong tỏa nghiêm ngặt. Huống chi Dã Nhân Nữ Chân vốn dĩ thiện chiến, sao có thể bỏ phí lực lượng như vậy?】
【Dã Nhân Nữ Chân bị xem như "nô lệ binh" của Thanh đình, địa vị thấp kém nhưng bị trưng binh với số lượng khổng lồ. Từ thời Nỗ Nhĩ Cáp Xích đã chiêu m/ộ hơn 10 vạn Dã Nhân Nữ Chân, nhưng số trở về được mấy người? Đến khi hiện đại lập quốc, hậu duệ Dã Nhân Nữ Chân còn sót lại vẫn không hề có thiện cảm với Mãn Thanh.】
Không cho họ mặc vải vóc, chỉ được khoác da cá; cấm đoán buôn b/án làm ăn, bắt buộc phải cày ruộng đ/á/nh trận. Họ hoàn toàn trở thành cỗ máy biết đi, trở thành lực lượng quân sự lạc hậu. Dù cùng là Mãn Châu nhân, nhưng Mãn Châu bát kỳ tử đệ trong kinh thành sống nhàn hạ tự tại, trong khi quan ngoại chật kín người lại khổ sở thảm thiết.
Bởi thế, thậm chí có chật kín người còn ngấm ngầm liên kết với Nam Minh mưu phản.
【 Hoàng tộc Mãn Thanh luôn tự cho mình khác biệt với Hán tộc, nhưng chẳng biết bản thân đã quá kém cỏi, ngay cả đồng tộc cũng chất chứa h/ận th/ù. 】
【 Người Đông Bắc vô cùng c/ăm h/ận Nhật Bản, đối với chính quyền Mãn Châu Quốc do Nhật dựng nên càng không chút hảo cảm. Nếu Phổ Nghi trước kia cầu c/ứu đồng hương Đông Bắc, chỉ khiến cái ch*t đến nhanh hơn. 】
Hoằng Lịch sắc mặt tái nhợt như tro tàn.
Sao lại thế!
Sao lại thế!
Vì sao từng lớp người đều oán h/ận triều đình? Phải chăng Đại Thanh thật sự đã thối nát đến thế?!
【 Giờ hãy nói về võ thuật. 】
【 Thời Dân Quốc, Hoa Hạ võ thuật n/ổ ra “Thổ Dương chi tranh”, chuyện này còn liên quan đến thể dục cùng thể thao. 】
Thời kỳ Dân Quốc, các nhà thể dục phương Tây công kích võ thuật Hoa Hạ, chê bai đó chỉ là trò đấu với không khí, vừa thiếu giá trị giáo dục lại không phù hợp sinh lý.
Lúc bấy giờ, thể dục phương Tây đã phát triển theo chuẩn hiện đại. Ngoài các môn thể thao đa dạng, còn kết hợp giải phẫu sinh lý, y học vận động, tâm lý học... bước vào giai đoạn khoa học hóa.
Nội bộ Hoa Hạ phát động phong trào “Quốc thuật khoa học hóa”, lần đầu ứng dụng cơ học, sinh lý học vào nghiên c/ứu võ đạo. Các hội như “Tinh Võ Thể Thục Hội” ở Thượng Hải, “Trung Hoa Võ Sĩ Hội” ở Thiên Tân đều ra đời thời này.
Trong đó, nhân vật then chốt của “Tân Võ Thuật Vận Động” chính là Mã Lương.
【 Thể thao vốn do Ludwig Jahn người Đức sáng tạo, ban đầu không nhằm giáo dục học sinh mà để rèn luyện tinh thần binh sĩ, không khác gì luyện binh bằng võ thuật cổ truyền của Hoa Hạ. 】
【 Thời Dân Quốc, thể thao du nhập từ Nhật Bản vào Hoa Hạ, dẫn đến cuộc tranh luận “Trung Ngoại Thể Thao chi tranh”. 】
Năm ấy, Mã Lương người Hà Bắc Bảo Định đang dạy học tại Lục Quân Học Hiệu Sơn Tây, đã lập ra “Quyền Cước Khoa” và “Tỷ Lệ Sừng Khoa” để giảng dạy. Tuần phủ Sơn Tây Triệu Lần San đặt tên là “Mã Thị Thể Thao”.
Sau mấy năm thực tiễn, năm 1911, Mã Lương mời danh gia võ thuật hiệu chỉnh “Mã Thị Thể Thao”, biên soạn thành tài liệu chính thức mang tên 《Trung Hoa Tân Võ Thuật》, chia làm Tỷ Lệ Sừng Khoa, Quyền Cước Khoa, Côn Thuật Khoa, Ki/ếm Thuật Khoa...
“Tỷ Lệ Sừng” không đơn thuần là vật lộn. “Tỷ Lệ” chỉ sự tự do đối kháng, còn “Sừng” hàm nghĩa tranh tài thắng thua. Xem hình minh họa trong giáo trình, có cả luyện tập đơn lẫn song đấu, kể cả tán chiến.
Nhưng sách này cùng “Mã Thị Thể Thao” chẳng mấy truyền bá rộng.
Xuất thân quân ngũ, Mã Lương biên soạn “Tân Võ Thuật” theo yếu lĩnh binh pháp, kỹ thuật cứng nhắc khô khan. Phương pháp huấn luyện nặng về nghiêm lệnh, nghỉ ngơi, khai bộ... khiến người học ngày càng thưa thớt.
Năm 1923, Mã Lương khởi xướng “Toàn Quốc Võ Thuật Đại Hội” tổ chức tại Thượng Hải - kỳ hội võ thuật quy mô đầu tiên trong lịch sử thể thao Hoa Hạ. Dù chỉ giao lưu kỹ thuật chứ không tranh tài như hiện đại, nhưng đã đặt nền móng quan trọng cho võ thuật bước lên đài thi đấu.
Tiếc thay, bản thân Mã Lương đầu hàng Nhật trong chiến tranh, bị lịch sử vùi dập. 《Trung Hoa Tân Võ Thuật》 như đóa phù dung sớm nở tối tàn, chìm vào quên lãng.
【 Nhưng điều này không có nghĩa võ thuật suy tàn, càng không phải Hoa Hạ không có tinh hoa thể dục riêng. 】
【 Sau khi “Mã Thị Thể Thao” thất bại, một nữ tử tiếp nhận trọng trách. 】
Dương Liệt, nguyên danh Dương Thục Hoa, vốn là Hoa kiều ở vùng Càng Nam.
Dương Liệt từng theo học ngành Quản lý Thể dục và Thể thao chuyên nghiệp tại Đại học Waseda, Nhật Bản. Sau khi trở về Hoa Hạ, ông tham gia đoàn phỏng vấn Liên Xô, kết hợp tinh hoa thể dục nhịp điệu ngoại quốc cùng lối võ thuật truyền thống trong nước, từ đó nghiên c/ứu ra bộ thể dục nhịp điệu đầu tiên của Hoa Hạ.
Năm 1949, Tân Trung Quốc chính thức thành lập.
Thời điểm mới thành lập, tuổi thọ trung bình của người dân chỉ khoảng 35 tuổi. Trình độ y tế thấp kém cùng thể chất quốc dân yếu ớt khiến việc nâng cao thể lực toàn dân trở thành nhu cầu cấp thiết.
Để phổ biến thể dục nhịp điệu, Dương Liệt đưa ra khẩu hiệu: "Ai không tập thể dục nhịp điệu, người ấy chẳng yêu nước".
Từ đó, khắp các trường học đến nhà máy, từ học sinh đến công nhân, tất cả đều bắt đầu học tập bộ môn này. Đây chính là bộ thể dục nhịp điệu đầu tiên của Hoa Hạ.
Ngày 24 tháng 11 năm 1951, bộ thể dục nhịp điệu đầu tiên của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa chính thức được ban hành. Thời điểm này tròn vẹn một năm kể từ khi Dương Liệt lần đầu đề xuất sáng kiến này.
Các đài phát thanh và báo chí toàn quốc phối hợp tuyên truyền, đưa tin rộng rãi. Cuối cùng, cả dân tộc bước vào giai đoạn rèn luyện thể dục. Mỗi ngày, đài phát thanh sẽ phát nhạc đúng giờ để mọi người cùng tập theo nhịp.
【 Cho tới nay, chúng ta vẫn duy trì tập thể dục nhịp điệu, có cảm thấy như sống lại ký ức thời đại ấy không? 】
【 Mỗi thời đại đều mang dấu ấn riêng trong từng động tác. Nhìn bóng dáng võ thuật ẩn sau mỗi bài tập, há chẳng khiến buổi sáng tập thể dục thêm phần thân thuộc? 】
【 Không biết mọi người đang tập bộ nào? Ục ục... để tôi nói trước nhé (hơi lộ tuổi đấy): Tôi từng tập qua "Thời Đại Triệu Hoán", "Đại Bàng Non Cất Cánh", "Mặt Trời Mới Mọc". Không rõ thể dục nhịp điệu thời nay gọi là gì nhỉ? 】
————————
Gửi lời cảm tạ đến những đ/ộc giả đã ủng hộ Bá Vương Phiếu hoặc gửi quà từ ngày 04/10/2023 23:53:38 đến 05/10/2023 23:58:11:
Cảm tặng Tiểu Thiên Sứ Phát Lôi:
- Trụ Tốt Ngân, Lo/ạn Mã 1
Cảm tặng Tiểu Thiên Sứ Ủng Hộ Dinh Dưỡng:
- Ngơ Ngác Ngốc Tiểu An: 60 bình
- Gió Mát Quạ: 57 bình
- Đào Chi Yêu Yêu: 40 bình
- Ngoài Tường Người Đi Đường: 30 bình
- Ăn Tạp Hệ Ta Đây Không Sợ Hãi: 25 bình
- Mỗi Ngày Chỉ Muốn Ngủ, Ảnh Mộng Phù Sinh, Tiêm Mây, Lâm Vũ, Sói Trắng Nhỏ: 20 bình
- Mio Đỉnh, Án, Thần Nguyên, Kình Mộng Mèo: 10 bình
- zxjean: 9 bình
- Zoe: 8 bình
- Thật Tự Ta Tích Ngoan Bảo Hu Hu, Cô Đơn, Huyết Vực Bỉ Ngạn, Ta Đang Dùng Cơm, Hai Phần Pháp Go Công Nhân, Trời Nắng, Hạ Trúc: 5 bình
- Y: 3 bình
- Ngô Vương Luffy: 2 bình
- Diệp Muộn Sương M/ù, 4.29, Minh Họa, Người Lười, Thiên, Có Biết Không, Cùng Nhau Chỉ Ấn, Nhân Sinh Như Trà, Đi Xa Khách, Lầu Tâm Nguyệt, Đi Đến Thủy Nghèo Chỗ, Ngồi Xem Vân Khởi, Mai Hoa Tam Lộng, Nắng Sớm, Lang Hoàn, Ngoài Định Mức Dễ Nhìn, huihui, 69289630, Tiêu Tương Thủy Đánh G/ãy: 1 bình
Vô cùng cảm tạ sự ủng hộ của mọi người! Tôi sẽ tiếp tục nỗ lực!
Nền
Cỡ chữ
Giãn dòng
Kiểu chữ
Bạn đã đọc được 0% chương này. Bạn có muốn tiếp tục từ vị trí đang đọc?