【Dù Minh triều thi hành chính sách hải cấm, gần như từ bỏ biển cả, nhưng hạm đội cùng hỏa lực trên biển của họ thực chất không hề kém cỏi.】

【Luận về hạm đội, chiến thuyền của Trịnh Hòa thời ấy là tiên tiến nhất thế giới. Khi đó phương Tây căn bản không thể đóng được thuyền lớn như vậy.】

【Luận về hỏa lực thủy chiến, Minh triều sở hữu thứ "thủy lôi" sớm nhất thế giới.】

Thủy lôi sơ khai nhất thế giới chính là phát minh của người Hoa Hạ. Năm 1558, Đường Thuận Chi đời Minh biên soạn trong sách Võ Biên có ghi chép tỉ mỉ về kết cấu và phương pháp bố trí "Thủy Để Lôi", dùng để chống lại giặc Oa quấy nhiễu vùng duyên hải Đông Nam.

Đây chính là loại thủy lôi neo móc sớm nhất do con người điều khiển, kích n/ổ bằng cơ giới. Màn trời hiển hiện hình ảnh Thủy Để Lôi: vũ khí trông khá thô sơ, vỏ không phải kim loại mà dùng hộp gỗ kín khí làm thân. Bên trong chứa đầy hỏa dược đen, có một sợi dây dẫn từ ngòi n/ổ lưu ra ngoài. Khi cần sử dụng, chỉ cần gi/ật mạnh sợi dây này là có thể kích n/ổ.

Là thủy lôi nên phải chìm xuống độ sâu nhất định, được kh/ống ch/ế bởi ba mỏ neo sắt gắn dưới hộp gỗ.

"Nghe thì đơn giản, chỉ là hộp gỗ chứa hỏa dược, lưu thêm sợi dây. Nhưng vì sao gi/ật dây lại có thể phát n/ổ?" Lư Sinh - chuyên gia nghiên c/ứu th/uốc n/ổ từng là phương sĩ thời Tần - nhíu mày khó hiểu. Hắn đã chế ra hỏa dược đen, nhưng khi ứng dụng vào vũ khí vẫn gặp khó khăn trong việc kiểm soát chính x/á/c.

Dù màn trời phô bày hình ảnh chi tiết cùng kết cấu nội bộ của Thủy Để Lôi, Lư Sinh vẫn cảm thấy thiếu mất điều gì then chốt. "Không đúng, khi luyện đan ta đâu có chuyên lưu sợi dây? Hỏa dược đâu dễ n/ổ như thế?"

【Khác với thủy lôi hiện đại đặt ở độ sâu cố định, n/ổ khi tàu thuyền vô tình đụng phải, Thủy Để Lôi đời Minh giống như lôi nguyên thủy thời kháng Nhật - ch/ôn dưới đất, cần binh sĩ từ xa canh giữ. Khi thấy địch tới gần, họ phải chủ động gi/ật kíp n/ổ.】

【Kíp n/ổ này kh/ống ch/ế một thanh kim loại trong lôi, khiến nó va đ/ập cơ học tạo tia lửa, từ đó châm n/ổ th/uốc trong không gian kín, gây ra vụ n/ổ k/inh h/oàng.】

Kinh Cô cố ý chiếu cảnh tái hiện thời kháng chiến: binh sĩ áo xanh xám nhanh tay đào hố, ch/ôn xuống những quả địa lôi cỡ nắm tay người lớn. Họ cẩn thận kéo dây dài sang hai bên đường.

Thời kháng Nhật, trang bị quân sự Hoa Hạ thua kém phương Tây. Phần lớn lôi phải chế tạo thủ công trong xưởng nhỏ nên vẫn dùng cơ chế va đ/ập nguyên thủy, chứ không phải loại kích n/ổ tự động. Lôi cùng kíp n/ổ được ngụy trang bằng bùn đất, binh sĩ phải nấp hai bên đường, tay ghì ch/ặt dây n/ổ, lặng lẽ chờ đợi.

Khi đoàn xe quân sự địch xuất hiện - những chiếc xe bọc thép chở đầy lính Nhật vũ trang tận răng - quân ta hai bên đường chỉ có vài người, vũ khí cũng thô sơ hơn nhiều.

Khán giả dưới màn trời đều thấp thỏm lo âu, đồng thời vô cùng tò mò về thứ xe bốn bánh chở được nhiều người kia. Chờ đến khi xe lọt vào trận địa phục kích, binh sĩ bắt đầu đếm ngược: "3, 2, 1!"

Cả đoàn xe tiến sâu vào bãi mìn!

"Gi/ật!"

Tay nắm kíp n/ổ gi/ật mạnh, hàng loạt địa lôi đồng loạt phát n/ổ: "Ầm ầm ầm——!"

Xe bọc thép bị lật nhào, lính địch ngã gục ngổn ngang, dù không tiêu diệt hết nhưng đã đủ gây hỗn lo/ạn.

Lúc này, quân mai phục bất ngờ xuất hiện. Hỏa lôi nối tiếp nhau bay về phía xe quân địch, thừa thắng xông lên khiến kẻ th/ù tan tác.

"Hỏa lôi này quả thực lợi hại!" Các võ tướng hiếu chiến nhà Đường vô cùng hưng phấn.

"Bất luận trên cạn hay dưới nước đều có thể sử dụng!"

"Kích thước nhỏ gọn, tiện mang theo người!"

"Còn chống nước không sợ ẩm ướt, bảo quản dễ dàng!"

Lý Thế Dân tuy hứng thú với các loại hỏa lôi, nhưng nghĩ đến việc vạn dân đều có thể nhìn thấy thiên màn liền thêm phần thận trọng: "Vũ khí này nguy hiểm vô cùng, cần phải cẩn trọng!"

Ngoài ra, hắn còn bị thu hút bởi những chiến xa có thể kéo hàng chục binh sĩ, những khẩu sú/ng máy b/ắn ra vô số đạn dược cùng thương nhọn sắc bén phun lửa. Tất cả đều khiến hắn khao khát!

Đến giờ phút này, Lý Thế Dân đã thấy rõ sự chênh lệch giữa vũ khí nóng và vũ khí lạnh, cũng nhận ra thời đại sắp thay đổi vì thiên màn. Dẫu nguy hiểm, hắn sao có thể bỏ lỡ?

【Th/uốc n/ổ vốn cực kỳ nh.ạy cả.m và bất ổn. Chỉ cần tia lửa nhỏ từ va chạm kim loại cũng có thể gây n/ổ tung.】

【Nghe nói một trong những nguyên nhân vụ n/ổ Thiên Khải thời Minh là do th/uốc n/ổ trong kho bị ẩm mốc. Khi công nhân dùng cuốc sắt đ/ập vào khối th/uốc n/ổ đã đông cứng, tia lửa b/ắn ra lập tức khiến cả kho bốc ch/áy!】

Chu Nguyên Chương nghe đến đây bỗng căng thẳng. Hắn vừa xây nhà máy sản xuất th/uốc sú/ng, tuyển dụng dân chúng vào làm việc. Liệu những dân thường ấy có dốt nát đến mức đó chăng?

"An toàn quả nhiên không thể xem thường!" Chu Nguyên Chương vội phái người triệu tập quản lý các xưởng th/uốc sú/ng, căn dặn cặn kẽ.

Nhưng chưa cần đợi hắn ra tay, Gai Cô đã bắt đầu giáo dục an toàn:

【Không chỉ th/uốc n/ổ, ngay cả bột mì gặp lửa cũng có thể gây n/ổ bụi. Mọi người khi dùng lửa phải hết sức cẩn thận.】

Lo sợ thiếu niên hiếu kỳ bắt chước, Gai Cô đặc biệt thêm dòng chữ: "Thiếu niên tuyệt đối không được làm theo!"

Đoạn phim minh họa cảnh nhân viên c/ứu hỏa thử nghiệm n/ổ bụi khiến người giả bỏng nặng được chiếu rõ. Thứ gây n/ổ chỉ là bột mì thông thường chứ không hề chứa th/uốc n/ổ.

Cuối thời Đông Hán, các chư hầu cát cứ bỗng nảy sinh ý niệm:

"Hóa ra bột mì cũng có thể chế tạo th/uốc n/ổ!"

Trong kho lương thực của họ chẳng thiếu bột mì. Nhưng cũng có người lắc đầu bác bỏ:

"Quá lãng phí lương thực!"

Gia Cát Lượng thẳng thắn: "Chi bằng dùng th/uốc n/ổ truyền thống. Diêm tiêu, lưu huỳnh và than củi vẫn rẻ hơn nhiều."

"Đúng vậy!" Trương Phi gật gù: "Đem bột mì ấy làm lương thảo khao quân còn hơn! Binh sĩ nhất định sẽ phấn chấn!"

Hắn vẫn còn nhớ những món ăn từ thiên màn, gần đây còn học cách chế biến bánh bột mì đa dạng hơn. Sao nỡ đem thứ ngon lành ấy thành th/uốc n/ổ?

Ngoài dân gian, người ta lại quan tâm hơn đến an toàn. Các gia đình bắt đầu dặn dò nhau:

"Từ nay phải cẩn thận khi dùng bột mì gần bếp lửa!"

Người vợ khẽ cười an ủi chồng: "Chàng đừng lo quá, nhà ta đâu có nhiều bột trắng tinh đến thế!"

Ông lão trong nhà cũng cười nói với con trai: “Con chẳng cần lo lắng làm gì, cũng không có thứ thần khí nào vặn một cái là bốc ch/áy đâu.” Trên bầu trời, lò lửa thiên mạc thường xuyên phun ra những ngọn lửa nhỏ khiến lão nhân vô cùng xúc động.

Người đàn ông ngượng ngùng cười: “Khụ khụ, dù sao trong bếp cũng phải cẩn thận lửa.”

“Phải đấy, nghe lời chồng con đi.” Lão nhân cùng con dâu nhìn nhau cười, cho con trai lối thoát trong chuyện không thông gia.

Dù người xưa không hiểu đạo lý nguy hiểm tiềm ẩn, nhưng qua sinh hoạt thường nhật đã dần hình thành vài tập tục.

Ví như không được dùng ấm nước bốc khói hướng về khách, thoạt nhìn là bất lịch sự, kỳ thực là sợ hơi nóng làm bỏng khách. Không được dùng đầu nhọn kéo hướng về khách, khi trao đồ cho người khác phải đổi tay cầm, cũng là đề phòng vật sắc nhọn gây thương tích.

Nhiều tập tục đều có nguyên do, dĩ nhiên cũng không thiếu những thứ thuần túy m/ê t/ín phong kiến, hoặc chỉ hợp thời cổ đại chứ không phù hợp với hoàn cảnh hiện đại.

Như thủy lôi Đại Minh, ở thời cổ là vũ khí tối tân, nhưng đặt thời hiện đại đã thành lạc hậu.

【Năm 1592-1598, trong “Kháng Nhật viện triều” thời Vạn Lịch tam đại chinh ph/ạt.

Phần lớn chiến tranh giữa Đại Minh và Nhật Bản diễn ra trên biển, điều này thúc đẩy quân Minh phát minh các loại vũ khí thủy chiến tựa ngư lôi.】

Năm 1590, Đại Minh chế tạo thủy lôi sơ khai nhất – “Thủy Để Long Vương Pháo” dùng nhang ch/áy làm ngòi n/ổ định thời.

Năm 1599, Vương Minh Hạc sáng chế “Thủy Để Minh Lôi” dựa trên nguyên lý ngòi n/ổ va chạm, đây là loại thủy lôi chìm dưới đáy biển.

Loại thủy lôi này được đặt trong nồi đồng kín gió, chìm dưới đáy nước, phía trên có dây thừng nằm ngang cách mặt nước nửa mét, nối liền với bộ phận phát hỏa bên trong. Khi tàu địch chạm vào dây, thủy lôi sẽ kích n/ổ phá hủy tàu địch.

Theo lý thuyết, thời Đại Minh, Hoa Hạ đã có thủy lôi thô sơ chế tác thủ công, bao gồm thủy lôi nổi và thủy lôi chìm, đều được ứng dụng trong thủy chiến.

Ngoài ra, cổ nhân còn chế tạo treo lôi, hải pháo... nhiều loại thủy lôi khác.

Không chỉ dưới nước, cả trên không, hỏa khí cũng dần được cải tiến.

Ở đây “trên không” không phải nhảy dù, mà là dùng hỏa tiễn đẩy để tăng tầm b/ắn.

Như loại “Hỏa Ngư Lôi” trang bị hỏa tiễn hai tầng, khi đuôi hỏa tiễn ch/áy sẽ phụt lửa đẩy về phía trước, dùng động lực tên lửa tăng tầm b/ắn. Khi trúng tàu địch sẽ phát n/ổ đ/ốt ch/áy, dễ dàng đ/á/nh chìm tàu.

Lại có “Thần Hỏa Phi Ô”, hình dáng như con quạ mang theo th/uốc n/ổ, có thể bay xa, cả quá trình bay và n/ổ đều dựa vào th/uốc n/ổ.

Sau khi binh sĩ châm ngòi đuôi, th/uốc n/ổ trong hỏa tiễn đuôi ch/áy tạo lực phản lực đẩy nó bay lên trời hướng về trận địa địch. Khi th/uốc n/ổ đuôi ch/áy hết sẽ tiếp tục đ/ốt ch/áy th/uốc n/ổ phía trước gây n/ổ, sát thương quân địch.

Những hỏa khí này đóng vai trò quan trọng trong các trận hải chiến cổ đại, trong khi Âu Mỹ mãi đến thế kỷ 18 mới bắt đầu dùng thủy lôi trong chiến tranh.

.

“Hỏa khí Đại Minh này dường như còn hơn cả Đại Tống.”

Triệu Trinh nhìn các loại thủy lôi trên thiên mạc, thấm thía cảm nhận sự thiếu hụt của Đại Tống.

“Không trách Đại Minh toàn thắng các cuộc chiến đối ngoại.”

Hắn cảm thấy chua xót. Rõ ràng nhớ kỹ thiên mạc từng nói Vạn Lịch Hoàng Đế mấy chục năm không thiết triều, thế mà vẫn thắng cả “Vạn Lịch tam đại chinh ph/ạt” đối ngoại.

Hoàng đế nhà Tống cẩn thận đối phó với các nước Liêu, Kim, Tây Hạ nhỏ bé nhưng hầu như không thể thắng nổi, lại còn phải bồi thường nhiều tiền đến thế. Nhìn lại quả thực quá thiệt thòi.

Nếu dùng số bạc ấy để nghiên c/ứu sú/ng ống, liệu có thể xây dựng quân đội hùng mạnh như nhà Minh?

Triệu Trinh đã biết rõ sú/ng thần công đời Tống không hề tệ. Nay được thấy định hướng nghiên c/ứu sú/ng đạn và xe doanh đời sau, trong lòng bỗng tràn đầy tự tin.

Chỉ cần cải tiến những phương diện này, tin rằng Đại Tống sẽ không mãi yếu thế.

【Luận về danh tướng mới - Thích Kế Quang kháng Oa cùng Thích gia quân!】

【Trong sử sách, chỉ có hai đội quân kỷ luật nghiêm minh được lấy họ tộc đặt tên: Nhạc gia quân và Thích gia quân.】

Thích gia quân hay Chiết quân, là đội nghĩa binh do Thích Kế Quang thành lập ở Chiết Giang vào giữa niên hiệu Gia Tĩnh nhà Minh. Quân số tổng cộng bốn nghìn người, chủ yếu gồm nông dân nghĩa ô và thợ mỏ.

Đội quân này mang tên chủ soái Thích Kế Quang. Danh tiếng lẫy lừng nhờ kỷ luật thép, huấn luyện chuyên nghiệp, thành tích bách chiến bách thắng cùng số giặc ch/ém đầu lên tới hơn mười vạn. Đây là đội quân thường thắng nổi tiếng bậc nhất nhà Minh.

Kỳ lạ ở chỗ, bản thân Thích Kế Quang là người Sơn Đông, sao lại chọn tuyển quân ở nghĩa ô? Hơn nữa, chiến trường của ông cũng chẳng dính dáng đến vùng này.

Ấy là bởi tình hình nhà Minh giữa niên hiệu Gia Tĩnh quá hỗn lo/ạn.

Khi Thích Kế Quang mới đến Sơn Đông chuẩn bị chống giặc Oa, phát hiện quân Minh kiêu binh lười nhác, kỷ luật lỏng lẻo, binh sĩ không tập trận. So với giặc Oa thiện chiến, giỏi dùng ki/ếm Nhật và cung nặng, sức chiến đấu quá chênh lệch.

Nếu chỉ kỷ luật kém còn có thể huấn luyện, đ/áng s/ợ hơn là thói quen đã ăn sâu.

Đạo quân thứ nhất là m/ộ binh, giống lính đ/á/nh thuê. Muốn ra trận phải trả tiền trước.

Thích Kế Quang đ/á/nh trống lệnh xuất kích, binh sĩ xông lên thương lượng:

- Tướng quân, tiền đâu?

Thích Kế Quang: - Gì cơ?

Binh sĩ: - Trả tiền đi! Không có tiền ai đ/á/nh trận cho ngài?

Thích Kế Quang: "......"

Đạo quân thứ hai là thế binh - cha truyền con nối, toàn lão làng.

Thích Kế Quang hỏi: - Các ngươi thế nào?

Lão làng cười hề hề: - Bọn họ là m/ộ binh, chúng tôi là thế binh, khác nhau xa lắm!

Thích Kế Quang thở phào: - Thế thì tốt.

Nhưng chẳng bao lâu, ông nhận ra mình yên tâm quá sớm.

Ra trận, ông hô xung phong: - Gi*t!

Khí thế hừng hực, quân Minh xông lên như vũ bão. Lũ lão làng cũng hò reo theo: - Xông lên!

Nhưng khi giặc Oa phản công mãnh liệt, có kẻ hô lừa: - Thích Kế Quang ch*t rồi!

Binh sĩ không phân biệt thật giả, lập tức tự ý: - Rút lui! Mau rút!

Thích Kế Quang gi/ận tím mặt gào: - Lão tử còn sống! Đứng lại hết!

Quân sĩ đã rút ào ào, trận thế hỗn lo/ạn. Giặc Oa thừa cơ chiếm ưu thế, quay sang truy kích.

Thấy vậy, quân Minh càng rút nhanh hơn: - Rút mau! Rút mau!

Thích Kế Quang: - #¥%%@......

Đây là loại quân gì thế này!

Sau trận đ/á/nh, Thích Kế Quang tức gi/ận bầm gan. Không được, phải tự tay tuyển chọn một đội quân tinh nhuệ!

Ông cải trang đi khắp các vùng tìm ng/uồn m/ộ binh, cuối cùng tới nghĩa ô.

Trong thôn nhỏ nghĩa ô, Thích Kế Quang mệt lả, có tiểu nam hài đến hỏi: - Khách nhân, uống nước không ạ?

- Uống. - Thích Kế Quang nhìn cậu bé g/ầy gò ăn mặc tuy cũ rá/ch nhưng sạch sẽ, sinh lòng hảo cảm - Cho một bát.

Tiểu nam hài không phải lái buôn, chỉ dựng lều trước cửa b/án nước cho khách qua đường.

Thích Kế Quang vừa m/ua nước xong, tiểu nam hài đã ân cần rót cho hắn một chén nước đầy.

Hắn lặng lẽ quan sát cảnh nhà này. Tuy chỉ vỏn vẹn bốn bức tường đất, hiển nhiên chẳng dư dả gì, nhưng mọi thứ đều ngăn nắp sạch sẽ, rõ ràng chủ nhà là người cẩn trọng.

Uống cạn chén nước, hắn đưa tiền rồi hỏi thêm: "Có đồ ăn không? Làm ít thức gì đó lên đây."

"Dạ!" Tiểu nam hài vội cầm tiền chạy gọi mẫu thân: "Mẹ ơi, khách muốn dùng cơm!"

Người phụ nữ đang làm vườn bên cạnh vội dắt theo đứa con gái lớn hơn, vác giỏ rau trở về. Bà e lệ cười với Thích Kế Quang, hỏi dăm ba câu về món ăn rồi nhanh chóng vào bếp khi nghe hắn bảo "tùy ý".

Lúc này, Thích Kế Quang vẫn nghĩ thôn dân thuần phác, nữ tử thật thà dễ thẹn. Nhớ tới lễ giáo nam nữ hữu biệt, hắn không vào nhà mà ngồi chờ trước hiên, nơi có chiếc bàn gỗ duy nhất dưới mái lều.

Hắn buồn bực ngán ngẩm quan sát thôn này, phát hiện chỉ còn người già và trẻ nhỏ. Kỳ lạ thay, sao không thấy bóng dáng nam đinh đâu cả?

Giặc Oa dù hung hãn, nhưng gần đây đâu có bắt lính gấp thế? Đang suy nghĩ, bỗng một phụ nhân thân hình vạm vỡ hầm hầm xông tới. Thích Kế Quang tưởng bà ta đến gây sự với chủ nhà, nào ngờ phụ nhân kia đứng ngoài cổng gào to:

"Làng ta sắp hết người rồi!"

"Chờ tôi chút!" Người phụ nữ trong bếp cầm d/ao phay chạy ra.

Thích Kế Quang: ???

Cô gái lớn bước ra, cười an ủi khách: "Khách quan yên tâm, tiểu nữ biết nấu cơm."

"Ừ."

Thích Kế Quang định hỏi mục đích của đám phụ nữ đang hùng hổ kia, nhưng cô gái đã nhanh chân trở vào bếp. Chẳng mấy chốc, đồ ăn được dọn lên. Hắn vừa mở miệng: "Nhà ngươi..."

Bỗng một phụ nhân khác hớt hải chạy tới: "Mẹ mày bị thương rồi!"

"Chờ con!" Cô gái vội lau tay, xách d/ao theo bà ta đi ngay.

Thích Kế Quang: ???

Hắn ngơ ngác nhìn cảnh tượng: từ khắp các nhà trong thôn, lũ trẻ cầm vũ khí hăng m/áu xông ra. Cuối cùng, hắn quay sang hỏi tiểu nam hài đang co ro trong nhà:

"Các người đây là..."

Tiểu nam hài phụng phịu: "Đâu phải lỗi bọn cháu! Làng bên đến cư/ớp nước của chúng cháu!"

Thích Kế Quang chợt hiểu, vui vẻ thưởng thêm ít tiền. Tiểu nam hài hào hứng kể hết ngọn ng/uồn: cả làng đ/á/nh nhau suốt mấy tháng chỉ vì tranh giành ng/uồn nước.

Vừa kinh ngạc vừa thầm phấn khích, Thích Kế Quang như tìm thấy thứ mình hằng mong đợi. Hắn quyết định ở lại, bỏ tiền thuê chỗ rồi đứng quan sát tỉ mỉ.

Thế là mỗi sáng sớm, hắn thấy cả nhà này hùng hục làm nông, xong việc lại xách vũ khí ra trận. Đánh xong về băng bó, ngủ một giấc rồi hôm sau tiếp tục.

"Có thể chiến đấu như thế này, chẳng phải chính là binh hùng tướng mạnh mà ta hằng mong ước sao?"

Thích Kế Quang nhìn dân nghĩa Ô hiếu chiến, không những không sợ mà còn vui như bắt được vàng. Hắn tìm gặp nam chủ nhân đang bôi th/uốc:

"Các ngươi muốn đi lính không?"

Người đàn ông chẳng ngẩng mặt: "Lính khố rá/ch áo ôm, đi lính ki/ếm được mấy đồng?"

"Nhiều lắm." Thích Kế Quang nói con số khiến đối phương khựng tay, lại thêm: "Bao ăn ở, phát quần áo, ch*t có tiền tuất."

Đãi ngộ hậu hĩnh quá mức tưởng tượng, nam chủ nhân gật ngay: "Làm!"

Thế là Thích Kế Quang chiêu m/ộ được đạo quân đầu tiên từ nghĩa Ô và Kim Hoa - ba ngàn nông dân rắn rỏi.

Những nông dân ấy trông chẳng khác gì kẻ chưa từng đối mặt giặc Oa, nhưng lại có thể chịu đựng gian khổ vô cùng, tính cách vô cùng bạo liệt.

Khi giặc Oa đột kích, Thích Kế Quang ra lệnh cho đầu bếp quân đội nấu cơm thật thơm, hương vị quyến rũ khiến binh sĩ xôn xao chạy tới. Thấy mâm cao cỗ đầy trước mặt, họ vui mừng đến chảy nước miếng.

“Có thịt đen thui kia kìa!”

“Cả cơm trắng lẫn thịt mỡ ngập mâm!”

“Lại còn có rư/ợu nữa! Tuyệt!”

Đúng lúc lòng dạ binh sĩ đang tràn ngập mong chờ ấy, Thích Kế Quang áy náy nhìn họ: “Đánh xong giặc mới được ăn.”

Lũ nghĩa binh đói mờ mắt ấy, nhưng đối mặt với phụ mẫu áo cơm và thượng quan, chẳng tiện bộc phát. Thế là họ trút hết cơn gi/ận lên đầu lũ giặc Oa.

“Lũ Nhật Bản không làm người! Dám khiến lão tử không yên bữa cơm!”

“Xông lên hạ gục chúng! Xong việc về ăn cơm!”

“Ăn thịt chúng nó!”

Có tên nghĩa binh đói đến đi/ên cuồ/ng, khi binh khí bị giặc Oa ch/ặt đ/ứt, liền trực tiếp lao vào cắn x/é. Hắn cắn một miếng thịt giặc Oa, khiến đối phương thét lên thảm thiết:

“A——!”

Tiếng thét ấy vang vọng khắp không trung, khiến các tướng quân gi/ật mình.

“Quả nhiên là binh hùng tướng mạnh.” Uất Trì Kính Đức tấm tắc kỳ lạ, “Nguyên lai dân phong bạo liệt còn có thể vận dụng như thế.”

Lý Tĩnh khẽ thở dài: “Nhân tài khắp chốn, chỉ là ta chưa biết cách dùng mà thôi.”

【Thích Kế Quang trấn thủ duyên hải đông nam hơn mười năm chống giặc Oa, tiêu diệt mối họa nhiều năm quấy nhiễu vùng biển, bảo vệ sinh mệnh cùng tài sản nhân dân;】

【Không chỉ giỏi kháng Oa, sau này ông còn được điều động lên phương bắc đối phó tộc du mục Mông Cổ;】

【Nơi phương nam, ông sáng tạo "Uyên Ương Trận"; đến phương bắc lại lập xe doanh, quả thực thiên tài quân sự hiếm có.】

Bởi vùng Chiết Mân nhiều núi non đầm lầy, đường xá gập ghềnh, đại quân khó bày binh bố trận. Trong khi giặc Oa lại giỏi mai phục và đ/á/nh giáp lá cà.

Thích Kế Quang căn cứ địa hình đặc th/ù, sáng tạo đội hình chiến đấu mới. Trận hình này tựa như đôi uyên ương sánh bước, nên được gọi là “Uyên Ương Trận”.

“Uyên Ương Trận” lấy mười hai người làm đơn vị cơ bản, kết hợp binh khí dài ngắn hỗ trợ nhau. Có thể tùy địa hình biến hóa thành Lăng Hình Trận, Tam Tài Trận, cực kỳ linh hoạt trong địa hình chật hẹp.

Khi trấn thủ Kế Môn phương bắc, ông lại căn cứ đặc điểm kỵ binh du mục, sáng tạo xây điện đài rỗng ruột trên trường thành - tiến có thể công, lui có thể thủ. Lại lập xe doanh khắc chế kỵ binh.

Xe doanh mỗi chiếc cần bốn người đẩy, bên trong bố trí nỏ cự mạnh cùng sú/ng đạn, dùng kết hợp hỏa lực áp chế kỵ binh du mục.

【Ông còn viết mười tám quyển 《Kỷ Hiệu Tân Thư》 cùng mười bốn quyển 《Luyện Binh Thực Kỷ》. Lại có 《Chỉ Huy Tập》 cùng các tấu chương dâng triều đình qua các thời kỳ. Những binh thư này thực dụng vô cùng, chi tiết toàn diện hơn sách lý thuyết thuần túy.】

【Đời sau xưng tụng ông không chỉ là danh tướng bách chiến bách thắng, mà còn được đặt ngang hàng Bạch Khởi, Hàn Tín, Vệ Thanh, Hoắc Khứ Bệ/nh cùng Lý Tĩnh trong Thập Đại Quân Thần.】

“Ngay cả tấu chương cũng được trọng dụng, hay lắm!” Trương Cư Chính vỗ tay khen ngợi, hưng phấn vì đã đề bạt võ tướng tài ba.

Nghĩ đến vị đại tướng được xếp cùng hàng với Bạch Khởi lại do chính mình phát hiện, Trương Cư Chính càng thêm đắc ý.

Hắn nhận mình là quyền thần, nhưng nào có phải kẻ vô dụng? Xem Thích Kế Quang đây - rõ ràng là nhân tài kiệt xuất!

Vạn Lịch Hoàng Đế khẽ cúi mắt, ánh nhìn chợt tối sầm.

Lão đầu kia thân thể suy yếu, ngày tháng chẳng còn nhiều.

Vốn định đợi Trương Cư Chính qu/a đ/ời rồi thanh toán bè đảng của hắn, tỉ như tên tâm phúc Thích Kế Quang.

Nhưng Thích Kế Quang dũng mãnh thiện chiến, hậu thế đ/á/nh giá cao, nếu gi*t hắn ắt tổn hại thanh danh của ta.

Thôi đành, bởi gần đây không vào triều nên bị Thái hậu cùng đám đại thần dèm pha, chẳng muốn nghe lời trách móc, lại càng không muốn thành vo/ng quốc chi quân. Cứ tạm dùng hắn vậy, chướng mắt thì tống lên biên ải chớ để trở về.

【Lại nói về nữ tướng Tần Lương Ngọc, khi phiên vương không chịu vào kinh cần vương, chính nàng từ ngàn dặm xa xôi phi ngựa tới thành Bắc Kinh giải vây cho Sùng Trinh Đế.】

【Chu Nguyên Chương há ngờ được, lúc hắn kh/inh rẻ nữ nhi, hạn chế nữ nhi, cuối cùng lại là một nữ tướng quân c/ứu mạng huyết mạch của mình. Nếu không kịp thời ứng c/ứu, Đại Minh đã sớm diệt vo/ng.】

【Xuyên suốt các triều đại, nữ danh nhân thường bị ghi vào Liệt Nữ Truyện, riêng Tần Lương Ngọc là nữ anh hùng duy nhất được chép riêng trong Chính Sử - Tướng Liệt Truyện, ban tước 'Trung Trinh Hầu'.】

Màn trời chuyển cảnh, kể từ khởi nguyên sự tích.

Ban đầu là chuyện một nam tử bị thái giám h/ãm h/ại, giam trong đại lao chịu cực hình.

Bên ngoài ngục môn, một nữ tử dân tộc thiểu số dẫn theo em trai, khí thế ngút trời xông tới.

- Ngươi định làm gì!

Ngục tốt ra sức ngăn cản, Tần Lương Ngọc trực tiếp rút binh khí nghênh chiến. Bọn họ hoảng hốt la lên:

- Có giặc cư/ớp ngục! Có giặc cư/ớp ngục!

Hai bên giao chiến kịch liệt. Khi Tần Lương Ngọc xông vào đại lao, đã muộn mất rồi.

Trượng phu nàng - Mã Thiên Thừa, đã bị thái giám hại ch*t trong ngục tối.

- Phu quân!

Nàng đ/au đớn ôm lấy th* th/ể, gi/ận dữ ngẩng đầu:

- Ta thề sẽ rửa oan cho phu quân!

...

Chứng kiến cảnh 'Ngàn dặm c/ứu phu', Chu Nguyên Chương nghi hoặc:

- Nữ nhân này c/ứu chồng mà được phong hầu? Chẳng lẽ nàng là hoàng đế?

Nhưng hoàng đế sao có thể bị giam trong đại lao?

...

Cảnh tượng chuyển tiếp.

- Oan khuất của trượng phu ngươi, bệ hạ đã minh xét. Kẻ chủ mưu đã bị bắt giam.

Lúc này Tần Lương Ngọc không chỉ giải oan thành công, còn gặp kỳ ngộ khác.

- Mã Thiên Thừa đã mất, con trai Mã Tường Lân còn thơ ấu. Nay cho ngươi thế chức Tuyên Úy Sứ Thạch Trụ, thay chồng trấn thủ biên cương!

Tần Lương Ngọc vốn tính cương nghị, từng dám mang quân cư/ớp ngục, há ngại nhận chức quan?

Nàng khảng khái quỳ tâu:

- Thần, tuân chỉ!

Từ đó, nàng chính thức nhậm chức Tuyên Úy Sứ Thạch Trụ - tục gọi Thổ Ty Thạch Trụ.

Về sau, Tần Lương Ngọc dẫn binh dẹp lo/ạn Tần Bang, đ/á/nh lui quân Thanh, dập tắt phản lo/ạn Sùng Minh, Trương Hiến Trung... lập nhiều chiến công, được phong Nhị Phẩm Cáo Mệnh Phu Nhân.

Năm Sùng Trinh thứ ba (1630), quân Thanh đại quân hãm Vĩnh Bình tứ thành, Hoàng Thái Cực vây khốn Bắc Kinh. Sùng Trinh Đế bị cô lập trong hoàng thành.

Binh sĩ kinh thành mê muội hút th/uốc, quân lệnh cấm chỉ của hoàng đế thành vô dụng. Quân tâm rệu rã, khí giới rá/ch nát. Quý tộc đại thần khóa ch/ặt cửa phủ, chẳng còn tấm lòng trung quân ái quốc như thời Vu Khiêm giữ thành.

Sùng Trinh Đế đi/ên cuồ/ng hạ lệnh:

- Phiên vương đâu? Gọi chúng vào kinh cần vương ngay!

Thái giám r/un r/ẩy tâu:

- Bệ hạ... các phiên vương không chịu đến...

Sùng Trinh đế Chu Do Kiểm lại một lần nữa hạ chiếu lệnh: "Hãy gấp rút thúc dục!"

Từng đạo chiếu chỉ thúc giục liên tiếp ban xuống, thế nhưng các nơi phiên vương đều tìm cớ thoái thác. Kẻ thì chần chừ do dự, người lại giả đi/ếc làm ngơ.

Bọn họ hoặc nuôi ý đồ trở thành Gia Tĩnh hoàng đế thứ hai, chờ đợi hoàng đế tự diệt vo/ng rồi mới hành động; hoặc mưu toan ngồi núi xem hổ đấu, đợi Hoàng Thái Cực cùng triều đình lưỡng bại câu thương rồi mới ra tay thu lợi.

Dù nguyên nhân thực sự là gì, Chu Do Kiểm dù có đoán già đoán non trong lúc bối rối cũng chẳng ích gì.

Rốt cuộc, tin vui cũng tới:

"Đến rồi! Đến rồi!"

Chu Do Kiểm xúc động tự mình leo lên thành lầu cao ngắm nhìn. Trong mắt vua hiện lên lá cờ hiệu mang chữ "Tần": "Tần? Chẳng lẽ là Tần Vương?"

Nhưng chẳng mấy chốc, khi đại quân áp sát, vị lão tướng bên cạnh đã nhận ra ngay: "Không! Đó là cán trắng quân!"

"Ti chức Tuyên úy sứ thạch trụ Tần Lương Ngọc, phụng chiếu cần vương!" Vị nữ tướng đã cao tuổi này dẫn theo con trai Tần Cánh Minh, đem toàn bộ gia sản sung làm quân lương.

"Tốt! Tốt! Tốt lắm!" Chu Do Kiểm nhìn vị nữ tướng dân tộc thiểu số, trong lòng tràn đầy hy vọng, liên tục tán thưởng: "Một nữ anh hùng hiếm có!"

Vua đặc biệt hạ chiếu khen thưởng, lại còn triệu kiến Tần Lương Ngọc tại bình đài, ban thưởng tiền bạc, súc vật, rư/ợu thịt. Ngự bút đề thơ tứ tuyệt ca ngợi công lao nữ tướng.

Sau khi Hoàng Thái Cực rút lui, Tần Lương Ngọc dẫn quân hồi hương, chỉ để Tần Cánh Minh đóng quân gần kinh thành.

Về sau, các tướng sĩ khác như Viên Sùng Hoán, Tổ Đại Thọ cũng lần lượt về kinh ứng chiếu.

Nhưng sau trận vây thành Bắc Kinh này, ba người lại rẽ ba số phận khác nhau.

Hoàng Thái Cực dùng kế ly gián, phao tin đồn Viên Sùng Hoán đã bí mật thông đồng với hắn. Chu Do Kiểm nổi gi/ận bắt giam Viên Sùng Hoán, xử lăng trì 3000 nhát, sau khi tra xét mới phát hiện nhà họ Viên thanh bần nhưng đã muộn. Thế nhưng thiên tử há dễ nhận sai? Chu Do Kiểm không những không sửa lỗi, lại còn lưu đày gia quyến Viên tướng quân ba ngàn dặm.

Tổ Đại Thọ bị hoàng đế bạc tình đến nỗi khiếp đảm bỏ trốn, sau này đầu hàng Mãn Thanh ngoài quan ải.

Chỉ riêng Tần Lương Ngọc vẫn một lòng trung thành với Đại Minh. Dù là khởi nghĩa nông dân hay Mãn Thanh xâm lược, bà chưa từng một lần khuất phục.

Khi thổ ty Tứ Xuyên Xa Xỉ Sùng Minh và thủ lĩnh nghĩa quân Trương Hiến Trung gây lo/ạn, quan quân nhà Minh phần lớn nhát gan không dám tiến, thậm chí nhận hối lộ mà án binh bất động. Chỉ có Tần Lương Ngọc dẫn "cán trắng binh" xông pha đi đầu, không những liên tiếp thắng trận mà còn khích lệ ba quân, khiến các cánh quân phối hợp đ/á/nh bại Xa Xỉ Sùng Minh.

Sau khi Minh triều diệt vo/ng, Tần Lương Ngọc vẫn kiên cường kháng Thanh. Bà từng dẫn quân Bắc ph/ạt Liêu Đông, sau trở về thủ vững thạch trữ, biến nơi đây thành chốn an cư cho lưu dân lánh nạn.

Nam Minh truy phong bà làm Thái Bảo kiêm Thái tử Thái Bảo, tước Trung Trinh Hầu. Vĩnh Lịch Đế Chu Do Lang gia phong Thái tử Thái phó, lĩnh chức Tứ Xuyên chiêu thảo sứ, kiêm Trấn Đông tướng quân đốc binh bình định Xuyên Trung.

Mãi đến năm Thuận Trị thứ năm khi quân Thanh nhập quan, nữ anh hùng 74 tuổi Tần Lương Ngọc mới an nhiên tạ thế.

"Quả là kỳ nữ hiếm có!" Trưởng Tôn hoàng hậu chứng kiến cuộc đời sóng gió của Tần Lương Ngọc, vừa lo lắng thay nàng, lại vừa cảm phục khôn xiết. Một nữ anh hùng như thế, nhất định phải được lưu danh sử sách, truyền lại muôn đời sau!

Lý Thế Dân vốn là bậc đế vương thực dụng, nay lại phát hiện thêm một khía cạnh thực dụng khác: "Nữ tử cũng có thể phong hầu bái tướng, lại càng thêm trung thành. Ân..."

Suy ngẫm kỹ, Tam muội của hắn - Công chúa Bình Dương cũng như thế. Chiến công hiển hách, chưa từng tham quyền, lại đối xử nhân hậu với gia tộc và thân tộc.

So với Thái tử Lý Kiến Thành trước kia, không biết hơn gấp mấy lần.

Hơn nữa, trong phủ tướng quân của hắn cũng không thiếu những thê tử văn võ song toàn, phóng khoáng hào sảng. Tuyển dụng hàn môn tử đệ sẽ bị thế gia phản đối, nhưng nếu chiêu m/ộ nữ tử xuất thân bần hàn thì sao?

Lý Thế Dân khát khao nhân tài, từ hôm nay sẽ mạnh dạn vượt qua rào cản giới tính.

Trong điện Võ Chiếu, ba nữ nhân nắm giữ quyền lực tối cao cùng nhau ánh mắt sáng rực.

"Không ngờ Đại Minh đối đãi nữ tử tệ hại như vậy, vẫn có thể phong hầu cho nữ nhân, phong làm Thái tử thái phó." Võ Chiếu khẽ mỉm cười, liếc nhìn Thượng Quan Uyển Nhi. "Ngày trước vì nữ quan không có phẩm cấp, chỉ có thể cho ngươi dùng phẩm trật hậu cung, thực đã ủy khuất ngươi. Xem ra trẫm vẫn chưa đủ dũng khí! Ai bảo nữ quan phải dùng phẩm cấp hậu cung? Ai bảo nữ tử không thể phong hầu lưu danh chính sử!"

Võ Chiếu hùng hổ bước lên đài cao, đứng nhìn non sông vạn dặm phía dưới, dang rộng hai tay: "Đại Minh làm được, Võ Chu sao lại không thể!"

Nước Võ Chu của nàng, nhất định sẽ có thêm nhiều nữ quan, nữ tướng quân, nữ công hầu được chính thức ghi danh chính sử!

【Luận về tình báo, Minh triều còn có chuyên gia gián điệp lợi hại.】

【Như kẻ đã lẻn vào Nhật Bản làm gián điệp.】

【Đầu tiên phải nhắc đến Hứa Nghi Hậu - vị đại phu một lòng hướng về quốc gia.】

Hứa Nghi Hậu, tên thật Hứa Tam Quan, vốn chỉ là thư sinh thi mãi không đỗ. Sau khi chuyển sang học y, thường hành nghề ở vùng duyên hải Nam Kinh - Quảng Châu.

Trong lúc hành y, hắn bị giặc Oa bắt làm tù binh, giải về nước Nhật tại phiên quốc Satsuma (T/át M/a). Nhờ y thuật cao minh, hắn được phiên chủ Shimazu Yoshihisa trọng dụng, lưu lại trong cung, còn lấy vợ sinh con.

Nhưng Hứa Nghi Hậu không bị phú quý làm mờ mắt. Trước tiên hắn thuyết phục Shimazu Yoshihisa gi*t ch*t Trần Hòa, Tiền Thiếu Phong cùng 10 tên giặc Oa từng gây họa cho vùng duyên hải Đại Minh, trừ hại cho dân chúng.

Sau đó, từ miệng Shimazu Yoshihisa, Hứa Nghi Hậu biết được Toyotomi Hideyoshi định mượn đường Triều Tiên đ/á/nh Đại Minh, lập tức lo sốt vó.

Vì thân phận gia thần phiên quốc Satsuma, hắn không thể rời Nhật Bản. Cuối cùng nhờ sự giúp đỡ của Chu Đô Vượng - người Lâm Xuyên, Phủ Châu, Giang Tây, vào ngày 16 tháng Giêng năm 1592, hắn theo thuyền buôn của thương nhân Chương Châu Lâm Thiệu Kỳ lén trốn về nước, thông qua Tổng đốc Phúc Kiến chuyển tin tức lên triều đình.

Tình báo này được triều đình Đại Minh đặc biệt coi trọng, lập tức phái đi một đội gián điệp tinh nhuệ.

【Đội gián điệp Lịch Thế Dụng hoàn thành nhiệm vụ xuất sắc.】

【Khi Toyotomi Hideyoshi đang giao chiến với quân Minh tại Triều Tiên, gián điệp Đại Minh đã đ/á/nh cắp hậu phương Nhật Bản của hắn.】

Lịch Thế Dụng quê Nam Kinh, xuất thân võ tiến sĩ. Hắn được huấn luyện chuyên nghiệp, tuy là Chỉ huy sứ Binh bộ chứ không phải Cẩm Y vệ như lời đồn.

Cùng với Quách Quốc An, Hứa Dự, Trương Nhất Học cùng vô số nhân vật vô danh khác, những gián điệp Đại Minh này đã mạo hiểm sinh tử tại đảo Nhật, thành công khuấy đục một vũng nước đang yên ả.

Lịch Thế Dụng đầu tiên cùng Quách Quốc An đ/ốt ch/áy doanh trại Nhật Bản, sau đó ly gián Toyotomi Hideyoshi với gia tộc Shimazu cùng các gia tộc bất mãn khác về việc phong thần.

Sau khi Toyotomi Hideyoshi vừa tạ thế, gia tộc Tokugawa lập tức đoạt quyền. Những gia tộc hùng mạnh nhất từng phò tá Toyotomi Hideyoshi bị chia c/ắt, hầu như không còn tăm tích. Nhật Bản rơi vào cảnh hỗn lo/ạn nội bộ, cũng không còn đủ lực lượng phát động chiến tranh xâm lược Đại Minh.

* * *

"Thiếu Khang hầu dùng nữ ngải làm gián điệp, quả nhiên có hiệu quả to lớn." Doanh Chính đọc đúng như ghi chép trong 《Tả truyện - Ai Công nguyên niên》.

Nữ ngải được xưng là gián điệp số một trong lịch sử. Thời Hạ triều từng xảy ra sự kiện chấn động "Thái Khang thất quốc". Hậu Nghệ cùng Hàn Trác lần lượt đoạt đại quyền, truy sát hậu duệ Hạ vương.

Thiếu Khang - di phúc của Thái Khang - được mẫu thân đưa về tộc của mẹ là hữu Nhậm thị. Khi trưởng thành, chàng nhiệt huyết tập hợp lực lượng phục quốc. Nhưng lúc này Trung Nguyên đã gần bốn mươi năm vô chủ, việc khôi phục vô cùng gian nan.

Đúng lúc Thiếu Khang đ/au đầu vì đại nghiệp phục quốc, nữ ngải xuất hiện trên vũ đài lịch sử. Nàng là nữ tướng Hạ triều, đột nhập lãnh địa Hàn Trác, thâu thập tin tức liên tục cung cấp cho Thiếu Khang. Nhờ đó Thiếu Khang nắm bắt thời cơ, nhất cử thành công hoàn thành "Thiếu Khang trung hưng" lưu danh sử sách.

Doanh Chính lẩm bẩm đ/á/nh giá các con mình: Con gái tuy đông nhưng ngoài Phù Tô rõ ràng là người kế thừa Đại Tần, Ân Mạn học pháp thuật, còn có đứa học y, học văn, học họa. Lại có những đứa lặng lẽ như bóng hình, không biết có hứng thú với loại chuyện này không?

Dĩ nhiên hắn không nỡ để con gái làm gián điệp, nhưng cơ quan tình báo này vẫn phải do hoàng thất quản lý. Doanh Chính nghĩ đến việc vừa bồi dưỡng nhi nữ, vừa đào tạo một đội thám tử ra ngoại quốc thâu thập tin tức.

* * *

"Đại Hán cũng có thể có." Lưu Triệt vuốt cằm nói, "Hay gọi là 'Tú Y Sứ Giả'."

Thời Hán vốn có chức quan "Đãi lại" chuyên quản hoạt động tình báo. Trong lịch sử, mãi đến khi Hán Vũ Đế già yếu, do nông dân khởi nghĩa, Lưu Triệt mới phái Phạm Côn, Trương Đức mặc tú y, cầm tiết phù đem quân trấn áp. Từ đó sinh ra "Tú Y Ngự Sử" hay "Tú Y Trực Chỉ" lừng danh sử sách.

Nhờ màn trời dẫn dắt, "Tú Y Ngự Sử" đã sớm ra đời.

* * *

Quần thần Đường triều đồng loạt thở phào nhẹ nhõm. May thay, Đại Đường khai quốc chưa từng thiết lập cơ quan đặc vụ.

Đường triều có quan chức "Bất Lương" hoặc "Người X/ấu" chuyên trách bắt giữ tội phạm, người đứng đầu gọi "Bất Lương Soái". Nhưng bọn họ chỉ quản việc hình ngục, gần với chức năng của Bộ Hình hơn.

* * *

Dưới triều Tống Thái Tông, các đại thần liếc mắt nhìn nhau, im lặng như tượng gỗ.

Triệu Quang Nghĩa cải tổ Võ Đức Ti thành Hoàng Thành Ti, phụ trách cấm vệ và điều tra tình báo. Phạm vi điều tra bao trùm cả văn võ bá quan, khiến sĩ phu e dè.

Hậu duệ họ Triệu tiếp tục duy trì Hoàng Thành Ti. Do chiến tranh liên miên, việc sử dụng gián điệp ngày càng phổ biến. Thân phận gián điệp trở nên cực kỳ phức tạp, len lỏi khắp các ngành nghề: tiểu thương, tăng đạo, thậm chí tướng lĩnh địch quốc, thê thiếp, hay cả sứ thần ngoại giao đều có thể là gián điệp.

* * *

"Cao Tổ có Cẩm Y Vệ, Thành Tổ có Đông Xưởng, Hiến Tông Hoàng Đế có Tây Hán. Trẫm có Nội Hành Xưởng cũng chẳng có gì lạ." Chính Đức Hoàng Đế trong bảo phòng vừa chơi đùa với tiểu thái giám, vừa nghe tâm phúc Lưu Cẩn báo cáo tin tức từ Nội Hành Xưởng.

Chu Nguyên Chương thiết lập Cẩm Y vệ, ban đầu chỉ là đội nghi trượng thân vệ. Về sau được ban đặc quyền, dần biến thành cơ quan tình báo. Thế nhưng đến thời Chu Lệ lập ra Đông Xưởng, tổ chức này lại đứng trên Cẩm Y vệ, nắm quyền giám sát bá quan văn võ.

Minh Hiến Tông Chu Kiến Thâm lại giao cho thái giám Uông Trực lập ra Tây Hán, thế lực càng lợi hại hơn khi giám sát cả Cẩm Y vệ lẫn Đông Xưởng.

Đến thời Chính Đức hoàng đế Chu Hậu Chiếu, Tây Hán thế lực quá lớn mất kiểm soát. Vua bèn sai thái giám Lưu Cẩn thiết lập Nội Hành Xưởng để giám sát Cẩm Y vệ, Đông Xưởng và Tây Hán. Tuy nhiên do Chính Đức đế yểu mệnh, Nội Hành Xưởng cũng sớm suy tàn, trong sử sách không nổi danh bằng Đông-Tây Xưởng, dù lúc đương thời tiếng x/ấu còn vang hơn cả hai.

Huyền Diệp khảng khái tuyên bố: "Chư vị yên tâm, triều ta không có Đông Xưởng Tây Hán."

Quần thần đồng loạt tán thưởng, nhưng quan sát kỹ sẽ thấy chỉ có quan viên phương Bắc hưởng ứng nhiệt liệt. Những vị quan phương Nam đều mang vẻ mặt không tự nhiên.

Phương Nam vốn là căn cứ địa lớn nhất của lực lượng phản Thanh phục Minh. Để củng cố thống trị, Khang Hi từng thiết lập "Tam Chức Tạo Thự" ở Giang Nam. Bề ngoài là quản lý dệt lụa cung đình, thực chất chính là mạng lưới gián điệp hoàng gia - bởi từ thời Tiên Tần đã có tiền lệ dùng thương nhân do thám. Tổ phụ Tào Dần của Tào Tuyết Cần khi nhậm chức Giang Ninh Chức Tạo đã cung cấp vô số tin tức mật cho Khang Hi.

Huyền Diệp từng dặn dò Tào Dần: "Về sau phát hiện việc nhỏ nhặt gì, nhất định phải mật tấu." Nghĩ đến chuyện này, quan phương Nam nào dám thả lỏng thần sắc?

*Lịch Sử Thế Dụng từng làm gián điệp ở Nhật Bản một năm rưỡi, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trước khi trở về Đại Minh. Trên đường hồi hương, đoàn người gặp bão lớn, trôi dạt đến đảo T/át M/a của Nhật. Chín phần ch*t mười, chỉ còn hai người sống sót.*

*Sau đó may mắn gặp sứ giả Lưu Cầu quốc - xin nhấn mạnh rằng thời Minh triều, Lưu Cầu là phiên thuộc của Đại Minh, Điếu Ngư Đảo cũng thuộc Đại Minh!*

*Sứ giả Lưu Cầu chủ động đưa Lịch Sử Thế Dụng về đảo, coi như trạm trung chuyển để hồi triều. Tại đây, Lịch Sử Thế Dụng nhận ra vị trí chiến lược của hòn đảo: Nhật Bản muốn bành trướng Châu Á, tất phải chiếm Lưu Cầu làm bàn đạp xâm lược. Quả nhiên về sau Nhật chiếm đảo, lập tỉnh Okinawa, rồi dùng nơi này làm căn cứ đ/á/nh Đài Loan.*

Sau khi về nước, Lịch Sử Thế Dụng tập hợp tất cả tình báo viết thành "Uy Tình Chuẩn Bị Lãm", trở thành tài liệu vô giá trong chiến tranh. Ngay cả quân Triều Tiên cũng coi đây như bảo vật, hết lời tán dương.

Nhưng than ôi, sức một người sao c/ứu nổi vận nước suy vo/ng? Trăm năm sau khi họ Tokugawa vẫn tồn tại, Đại Minh đã diệt vo/ng, thay bằng triều Thanh.

*Mỗi lần đọc sử cuối các vương triều, ta lại thấy nhân tài như rồng cuộn hổ ngồi, hào kiệt khắp nơi. Rõ ràng Hoa Hạ chẳng thiếu người tài. Nhưng như cổ nhân nói: thiên lý mã thường có, Bá Nhạc chẳng thường gặp.*

*Kẻ tiểu nhân vật dùng sinh mệnh tranh thủ cơ hội sống cho quốc gia, nhưng không địch nổi những quyết định ng/u xuẩn từ trên cao.*

Văn nhân chỉ cần mở miệng, đủ phủ nhận mọi nỗ lực. Gián điệp Đại Minh ở Nhật Bản chịu đựng gian khổ, nhảy múa trên lưỡi d/ao, thế mà quan Đại Minh khi đàm phán ở Triều Tiên lại cùng sứ Nhật diễn kịch l/ừa đ/ảo hai đầu, dẫn đến chiến tranh Triều Tiên lần hai.

Danh tướng Đại Minh suýt tiêu diệt giặc Oa ngoài biển Đông Nam, lại vì chính trường thanh trừng mà bị biếm chức, cuối cùng lặng lẽ gục ngã sau màn nhung. Vị tướng cuối cùng có thể xoay chuyển cục diện phương Bắc đ/á/nh bại kỵ binh Nữ Chân hùng mạnh, lại bị kế phản gián cùng lời đồn thất thiết h/ãm h/ại, ch*t thảm trong ngục tối.

Kỳ thực khi tra c/ứu tư liệu lịch sử trước đó, ta từng có chút trìu mến với Sùng Trinh Đế - vị hoàng đế cuối cùng của Đại Minh. Trong lòng cảm thán hắn gặp phải cha và huynh trưởng ng/u muội, bản thân chỉ là kẻ vô năng bình thường, chưa đến mức t/àn b/ạo đi/ên cuồ/ng.

Nhưng khi nhìn thấy những nỗ lực của tiểu nhân vật tầng dưới, chứng kiến bách tính lầm than phấn đấu, ta chợt nhận ra mình chẳng thể thông cảm cho bất kỳ đế vương nào.

Bình thường chính là nguyên tội! Vô năng tầm thường lại còn đa nghi - đó mới là đại kỵ!

Giờ đây, ta chẳng còn thiết tha bất kỳ hoàng đế nào. Khổ cực thay cho bách tính, phải dùng sinh mệnh đổi lấy hành động c/ứu vãn cho phế vật đế vương.

Gai Cô đăm chiêu ngắm nhìn danh thần danh tướng trong sử sách, lòng dâng trào nhiệt huyết, thật sự khâm phục trí tuệ cùng phẩm cách của tiền nhân.

Nhưng khi thấy những đế vương ng/u muội, cơn phẫn nộ trong lòng khiến nàng chỉ muốn xuyên qua sử sách để hành thích.

Chỉ qua những so sánh sâu sắc, nàng mới càng thấm thía ý nghĩa của việc có một đế vương ng/u muội trong thời đại phong kiến đế chế.

Một lần tùy hứng của hắn có thể phủ nhận mọi nỗ lực. Một cơn đi/ên cuồ/ng có thể xóa sổ hy vọng của hàng chục triệu sinh linh. Sự ng/u muội của một người có thể khiến cả giai cấp thống trị trở nên mục nát.

Thượng bất chính thì hạ tắc lo/ạn. Trong thời đại đế chế phong kiến, việc lấy lòng một hoàng đế thực sự có thể thực hiện giai tầng đột phá - điều này càng hiển nhiên hơn bao giờ hết.

Về Thanh triều, xuất phát từ nguyên nhân mọi người đều rõ, ta chỉ xin giản lược đôi lời.

Người yếu tim chớ xem, kẻo bị tức nghẹn mà ch*t.

Trước tiên, nói qua về quy chế Mãn Thanh bát kỳ.

Thanh triều tiền kỳ thiết lập Quân Cơ xử ở trung ương, chưởng quản đại quyền quân chính, mọi việc đều tuân theo chỉ dụ hoàng đế.

Quân đội gồm binh lính Mãn Châu và lục doanh binh.

Bát kỳ quân phân thành tám loại cờ hiệu: Chính Hoàng, Tương Hoàng, Chính Bạch, Tương Bạch, Chính Hồng, Tương Hồng, Chính Lam, Tương Lam.

Mỗi kỳ đều có kỳ chủ thế tập, vốn là tổ chức xã hội kiểu 'binh dân hợp nhất' của tộc Mãn. Về sau bổ sung thêm Mông Cổ bát kỳ và Hán quân bát kỳ.

Sau khi thống nhất thiên hạ, bát kỳ trở thành tổ chức quân chính hoàn toàn không tham gia sản xuất, trực thuộc quốc gia, lại phân làm kinh doanh bát kỳ và trú phòng bát kỳ.

Dù quy chế đẹp đẽ là thế, nhưng đến hậu kỳ Thanh triều, bát kỳ tử đệ chỉ còn biết cầm chim dạo phố, trở thành đại từ chỉ lũ công tử ăn chơi.

Ngược lại, lục doanh binh được tuyển m/ộ từ người Hán theo quy chế tham khảo Minh triều vệ sở, dần trở thành lực lượng chủ chốt.

Nguyên bản, Mãn Châu bát kỳ thiện xạ kỵ, dũng mãnh vô song trên chiến trường bình nguyên.

Hán quân bát kỳ lại tinh thông hỏa khí, lập nhiều kỳ công trong công thành chiến và thủy chiến.

Thế nhưng, do hoàng thất Mãn Thanh ưu đãi bát kỳ thái quá - kỳ nhân không được tham gia nông tang hay công thương nghiệp, mỗi tháng nhận 'quân lương' do triều đình cung cấp, mỹ danh 'phong điều vũ thuận' 'quả thực đáng tin'.

Nếu nhập ngũ, triều đình phát lương thực. Nhưng số không trúng tuyển chỉ có thể lang thang vô sự.

Kỳ nhân có trường học riêng, được tham gia khoa cử. Lại có cơ quan hình ph/ạt riêng, khi phạm tội cũng được xử nhẹ hơn người Hán.

Dưới muôn vàn ưu đãi, tinh thần chiến đấu của binh lính Mãn Châu dần suy thoái. Từ thời Khang Hi bình định Tam Phiên, bát kỳ ngày càng ỷ lại vào lục doanh binh, địa vị chủ lực quân dần bị thay thế.

Đến thời Càn Long về sau, bát kỳ hủ hóa càng thêm trầm trọng. Quan lại trong quân tham nhũng, tướng lĩnh bịa chiến công để lĩnh thưởng, binh sĩ tàn sát dân thường mạo nhận công trạng. Trên dưới đồng lõa, hỗn lo/ạn không thể tả.

Huyền diệp vốn tưởng thời Thanh mạt cách mình rất xa, chuyện sa đọa của binh lính Mãn Châu là vấn đề của con cháu. Không ngờ lại bắt đầu từ chính lúc này!

Huyền diệp bỗng thấy nóng lòng. Nguyên bản đã thiếu người tráng kiện, binh lính Mãn Châu giờ đây lại sa sút tinh thần, như thế sao được!

Đáng nói nhất là Gai Cô còn công khai phát tán những bức ảnh đen trắng lưu lại của bát kỳ tử đệ lịch sử. Vì là ảnh chụp thời Thanh mạt, từng người trông xanh xao vàng vọt, đâu giống bát kỳ "Dũng sĩ"?

Kẻ nằm trên giường hút th/uốc phiện, kẻ chìm đắm trong thanh lâu mùi hương nồng nặc - ai nhận ra đó là hậu duệ dân tộc kỵ xạ thảo nguyên?

Huyền diệp mặt xám như tro: "Chỉnh đốn quân chế! Tất phải chỉnh đốn quân chế!"

【Không biết mọi người có nhận ra không: Nuôi heo bằng ưu đãi cuối cùng cũng chẳng thể thành công cụ hữu dụng, dù là tôn thất hay binh lính.】

【Kỳ thực từ thời Tiên Tần, Mạnh Tử đã nói: "Sinh ư ưu hoạn, tử ư an lạc". Lẽ nào cổ nhân không học sao? Không phải, những quý tộc và quân quý tộc này ngày ngày đều đọc sách thánh hiền mà?】

Nhóm Đế Vương đồng loạt đỏ mặt. Cảm giác như bị ch/ửi thẳng vào mặt.

Sách thánh hiền đúng là đọc, nhưng đạo lý ai chẳng hiểu? Thực hành quá khó!

Chu Nguyên Chương lẩm bẩm: "Tổ tông ta đ/á/nh thiên hạ chẳng phải để hậu thế khỏi khổ sao? Bằng không ta chịu khổ cực thế này làm chi?"

Hắn trừng mắt lũ hoàng tử: Hắn không tệ, chỉ tại tử tôn vô dụng! Tử tôn vô năng làm ô danh tổ tông!

————————

Hôm qua viết xong thời Minh mới phát hiện chưa viết về Thích Kế Quang, Tần Lương Ngọc Đô. Hôm nay lại thấy vẫn còn nhiều chuyện thời Minh.

Sú/ng đạn thời Tống - Minh đều có đặc sắc riêng, chiếm dung lượng khá lớn. Quân sự nhà Thanh thì chẳng có gì đáng nói - sú/ng ống đã viết phía trước, chiến tranh đối nội đối ngoại cũng đã đề cập, toàn những chuyện khiến người uất h/ận.

Giả truyền tin thắng trận để lừa ban thưởng là Phúc Khang An, mà không chỉ mỗi hắn.

Quân đội nhà Thanh mục nát sớm hơn tưởng tượng, nếu viết thêm về nội lo/ạn ngoại xâm thì sẽ sang lịch sử cận đại. Cảm tạ đ/ộc giả đã ủng hộ từ 2023-10-11 23:57:50~2023-10-12 23:56:48!

Đặc biệt cảm ơn:

- Đào Đào: 30 bình

- Ina nóng, Mộng D/ao: 10 bình

- Thương sơ liễu, đát làm thịt u, zxm000: 5 bình

- Minh trạch ưu: 4 bình

- Hạ trúc, công tử bột, nhặt quang, đi đến thủy nghèo chỗ, ngồi xem vân khởi, 36678109, tiêu Tương thủy đ/á/nh g/ãy, tôn tôn đút cho ông ngoại hạch đào bánh ngọt: 1 bình

Vô cùng cảm tạ sự ủng hộ của mọi người, ta sẽ tiếp tục nỗ lực!

Danh sách chương

Có thể bạn quan tâm

Bình luận

Đọc tiếp

Bảng xếp hạng

Mới cập nhật

Xem thêm
Hoàn

Xuân tháng ba

Chương 20
Năm Hồng Đức thứ bảy, ngự sử liên tiếp dâng lên mấy đạo tấu chương chỉ trích Nữ Đế. Lý do là hậu cung trống vắng, ngôi Thái tử vẫn chưa có người kế vị, Nữ Đế đây là muốn cắt đứt giang sơn Đại Ôn. Chưa đầu nửa tháng, ta đã dẫn hai vạn thiết kỵ vây kín Yên Đô. Bách tính đều đồn ta đến đây để làm hậu thuẫn cho Nữ Đế. Rốt cuộc ta là nhân tình của Nữ Đế, lại nắm trong tay mười vạn binh mã Đại Dã. Ta kiêu hãnh đứng giữa điện Minh Đường, nhân tình của ta đội lưu miện ngồi yên trên ngai rồng. Mười hai chuỗi minh châu che khuất đôi mắt tình tứ nàng nhìn về phía ta. Ta gặp nàng năm mười một tuổi, lúc ấy còn chẳng biết nàng là ai, cũng chẳng rõ nàng muốn đi đâu, đã dám vác đao theo nàng bôn ba khắp chốn. Nàng là mảnh thịt trên tim ta, là giọt mật trên đầu ngón tay. Nàng là sương lạnh giá trên cỏ non, là tuyết lóa mắt giữa rừng mai. Nàng là anh hùng trong lòng ta, cũng là tri kỷ đời ta.
Cổ trang
0