Lưu Triệt biến sắc, chuyện hắn lo lắng nhất vẫn là việc Lưu gia đ/á/nh mất cơ nghiệp, rốt cuộc đã trở thành tài sản của kẻ ngoại tộc.

Hắn vốn tưởng chỉ là biến thành Đông Tây nhị triều, nào ngờ...

【Hoàng đế nhà Hán qu/a đ/ời ở tuổi 21 mà không có con nối dõi. Vương gia một lần nữa nắm quyền, vị tiêu biểu đạo đức Vương Mãng được mọi người suy tôn lên làm Đại Tư Mã, ghi chép việc Thượng thư, kiêm quản quân sự lệnh và cấm quân.

Nắm trong tay quyền lực tối thượng, Vương Mãng đưa Hán Bình Đế nhỏ tuổi lên ngôi. Nhưng vị hoàng đế chín tuổi này không được may mắn như Chiêu Tuyên nhị đế. Hắn không có được bề tôi trung thành như Hoắc Quang, lại gặp phải quyền thần Vương Mãng - kẻ không nỡ buông bỏ quyền lực.

Một hoàng đế không thực quyền cùng quyền thần nắm quyền không buông - đó hẳn là bi kịch khó tránh. Đến năm 14 tuổi, Hán Bình Đế băng hà mà vẫn không con nối dõi. Ngai vàng bỏ trống, còn chờ gì nữa? Cứ thế mà lên thôi!

Thế là Vương Mãng thật sự lên ngôi.】

Lưu Triệt bất đắc dĩ: "Ngai vàng mà nói lên là lên được sao? Nếu đơn giản thế thì còn đâu chuyện của Lưu gia ta?"

Hắn hiểu rõ mọi chuyện không đơn giản. Tư tưởng bài xích hoàng tộc họ Lưu mới là nhân tố then chốt. Như đã nói, tính chính thống của hoàng tộc họ Lưu đã bị nghi ngờ.

【Sử gia có câu 'Mãng chi soán thí, Nguyên Hậu thực ủ thành chi'. Nhưng đổ lỗi cho Vương Chính Quân - Hoàng hậu của Hán Nguyên Đế - có hợp lý? Không thể. Bà chỉ là Thái hậu mất nước, nào có quyền chi phối? Đâu thể khiến hoàng đế không sinh con? Đâu thể khiến hoàng đế ng/u muội? Khi Nguyên Đế muốn phế truất thái tử, bà chỉ biết ôm con r/un r/ẩy - bà làm được gì?

Ngoại thích họ Đinh, họ Phó lộng quyền, không dựa vào người nhà thì dựa vào ai? Đâu phải lỗi của Vương Chính Quân. Giả sử Phó Chiêu Nghi sống lâu, người cuối cùng nắm quyền cũng sẽ là họ Phó.

Từ sau Hiếu Nguyên Hoàng hậu, không có sự kiêu ngạo của Phó Thái hậu, cũng không có d/âm lo/ạn của Triệu thị tỷ muội, bà xứng danh hiền mẫu. Bà như người phụ nữ bị gia đình tẩy n/ão, chỉ biết vun vén cho họ ngoại, tham lam chút lợi nhỏ. Bà hiểu đại nghĩa quốc gia nhưng không biết rằng: 'Sủng ái Vương Mãng khiến hắn thao túng triều chính', cũng chẳng hay 'Mãng biết Nguyên Hậu dễ lung lay, nên dùng trăm phương ngàn kế kh/ống ch/ế'.

Đến khi Đạo Trí Nguyên thành buồn bã bốn hướng, Vương gia 'Đệ tử nắm quyền, kh/ống ch/ế triều chính, ngũ tướng mười hầu tạo thành tân đô', Vương Chính Quân mới tỉnh ngộ. Bà muốn tìm hiếu tử hiền tôn cho họ Lưu, 'nắm ch/ặt ngọc tỷ không buông', thà đ/ập nát truyền quốc ngọc tỷ cũng không trao cho Vương Mãng.

Một mẫu mực giáo dục từ hiền thê lương mẫu, sao phải gánh tội diệt quốc?

Hoang đường.

Bản chất việc Tây Hán bị soán ngôi vẫn là do tính chính thống của họ Lưu bị nghi ngờ, và bốn đời vua kế tiếp đều yếu kém.】

【Việc hoàng tộc họ Lưu mất tính chính thống không phải chuyện nhỏ. Khi Đại Tư Mã Vương Mãng bị miễn chức, thần dân nhà Hán không vui mừng vì kẻ 'tiêu biểu đạo đức' bị hạ bệ, mà mong đợi hắn trở lại.

Hán Ai Đế nhiều lần trấn an Vương gia thay vì trừ khử, bởi dưới trời họ Lưu, kẻ soán ngôi lại biết dùng lòng người hơn.】

【Vì sao tính chính thống họ Lưu bị nghi ngờ?】

【Bởi dân chúng nhà Hán quá khổ cực.

Hồng thủy, hạn hán, châu chấu, mưa đ/á, dị/ch bệ/nh, động đất... thiên tai liên miên. Thủy tai 32 lần, hạn hán 38 lần, động đất 35 lần, châu chấu 20 lần, bão 19 lần, sương giá 5 lần, mưa đ/á 10 lần, dị/ch bệ/nh 13 lần, mất mùa 13 lần.

Những con số này phản ánh Tây Hán là triều đại chịu thiên tai dồn dập thứ hai trong lịch sử Hoa Hạ.

Với trình độ sản xuất lương thực và c/ứu trợ thời đó, tổ tiên nhà Hán làm sao chống chọi nổi? Thời kỳ Tiểu Băng Hà là thảm họa vượt sức loài người. Nhà Minh cách đó cả ngàn năm còn diệt vo/ng vì nó, huống chi nhà Hán?

Mong mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an? Chỉ là ảo vọng. Sông tràn đồng bằng, ngũ cốc mất mùa, dân đói lả, lầm than, ăn thịt lẫn nhau mới là thực tế.

Nhưng thời Hán Vũ Đế cũng thiên tai dồn dập, dân ăn thịt nhau, ch*t cóng, ch*t khát, lại thêm chiến tranh với Hung Nô triền miên. Khi ấy 'quận lớn không đủ lương', 'mười bảy kho trống rỗng', sao chính quyền vẫn vững vàng?】

Lưu Triệt đọc đến đây đã thấu tỏ đáp án: bởi Lưu Triệt cùng văn võ bá quan thực sự một lòng vì nước, tận tụy hết mình.

Dù vẫn có lo/ạn lạc cục bộ, ít nhất quốc gia vẫn an định.

【Thực ra từ thời Hán Vũ Đế đến Hán Tuyên Đế, dân chúng phản kháng chưa bao giờ dứt. Nhưng đa phần vẫn công nhận tính chính thống của hoàng tộc họ Lưu, vẫn ôm hi vọng vào họ.

Bởi Hán Vũ Đế đã nỗ lực hết mình.

Giữ vững ngai vàng giữa cảnh 'thiên hạ phế tích, dân đói ăn' quả là khó khăn. Mọi hành động của Hán Vũ Đế tựa như lời dạy của quân thần: 'Thần' giáng thế c/ứu độ, mang lại hy vọng cho bách tính.

Hán Vũ Đế dùng hành động nói với dân chúng: Trời đất bất nhân xem vạn vật như rơm rác, nhưng hoàng tộc họ Lưu sẽ c/ứu các ngươi.

Khuyến khích dân khai hoang, tăng khả năng chống chọi thiên tai. Dân không đất? Hào cường chiếm nhiều ruộng? Thì đ/á/nh hào cường, bình quân của cải. Phòng ngừa từ khi chưa xảy ra.

Năng suất kém? Thì nâng cao kỹ thuật. Mời chuyên gia hạt giống, dùng 'đại điền pháp' cùng cày bừa, máy gieo hạt 'ít công nhiều lợi', khiến vùng khô hạn vẫn thu hoạch được. Quan Trung phì nhiêu thì dùng Vị Hà vận lương đi khắp nơi. Xây dựng hệ thống thủy lợi đồ sộ.

C/ứu tế thiên tai, Hán Vũ Đế chưa từng lơ là. Năm Thọ Xuân, Sơn Đông lụt, dân đói rét, hạ lệnh mở kho phát chẩn, miễn thuế lao dịch. Phát tiền, lương, hàng hóa miễn phí thời thiên tai, thậm chí cấp đất.

'Ch*t đói ngàn người' thì 'mở rừng núi sông hồ cho dân cùng dùng'. Sợ phát chẩn chậm thì mở hết sơn lâm trạch trạch của triều đình. Châu chấu hoành hành, dân chúng vẫn an tâm vì hoàng đế 'ngưng việc ngự uyển để giúp dân nghèo', nhường nông trường nuôi ngựa cho dân khỏi ch*t đói.】

Triều đình thiếu lương nhưng Hán Vũ Đế chẳng bao giờ bỏ rơi bách tính. Khi Hạ Quan Đông ch*t ngàn người, ngài lập tức ban chiếu chỉ: 'Giang Nam hỏa canh chi địa, một tấc cũng không, Thục quận túc Giang Lăng', lấy lương thực dồi dào từ Ba Thục c/ứu đói quan nội.

Trước thiên tai, quan phủ có nhiều biện pháp: kẻ cho dân mượn ruộng 'Giả dân khai khẩn', người đưa lưu dân mất đất đến biên cương 'Di dân khai hoang', triều đình còn xuống chiếu 'Quan huyện an cư' miễn thuế cấp đất, thậm chí cho v/ay giống lúa và nông cụ.

Trời gây họa khó đoán, nhân tai còn có thể tránh. Hán Vũ Đế đã dốc sức giảm thiểu tổn thương cho dân chúng.

Vậy nên mới hiểu vì sao ngài dám đề xướng tư tưởng 'Quân quyền thần giáo', vì sao vững như Thái Sơn trước bao núi thử thách: chủ nghĩa quân phiệt, quan lại lộng quyền, thiên tai dồn dập?

Bởi ngài khiến họ Lưu hoàng tộc thành thần trong lòng dân nhờ yêu dân ái quốc. Bởi ngài thật lòng 'dĩ dân vi bản', không bỏ rơi bách tính dù hoàn cảnh nào. Dù mất đất đai tài sản, chỉ cần dân chịu cố gắng, ngài sẽ giúp họ tái sinh.

Quân quyền thần giáo chính là khi dân lâm nguy, hoàng gia thay trời hành đạo, hóa thần c/ứu khổ. Thế mà Hán Nguyên Đế, Hán Thành Đế, Hán Ai Đế, Hán Bình Đế thì sao?

Thời Nguyên Đế cũng thiên tai liên miên, nhưng kết cục là lưu dân ly tán. Dân đen phải b/án rẻ ruộng vườn, b/án thân, b/án con cho hào cường, khiến xã hội phân hóa cùng cực. 'Dân chúng lầm than' còn là cách nói nhẹ nhàng.

Tại sao vậy?

Bởi vị hoàng đế sùng Nho giáo này chỉ biết dùng chính sách nhân từ mềm yếu - mỗi năm đại xá thiên hạ. Kẻ gi*t người đ/ốt nhà năm nay bị xử tử, sang năm được giảm tội, năm sau tha bổng, khiến tội phạm ngày càng lộng hành. Ngài còn giảm 34 tội t//ử h/ình, khiến gian tặc hoành hành, tỷ lệ phạm tội tăng vọt, nhân gian thành địa ngục trần gian.

'Thiên nhân hợp nhất', 'quân quyền thần giáo' vốn là tư tưởng chủ lưu Tây Hán, dùng để thần thánh hóa hoàng quyền và răn đe bậc cai trị - thiên tai chính là lời cảnh tỉnh của trời cao. Nhưng Nguyên Đế có hối cải? Không! Ngài chỉ biết tế lễ khóc than c/ầu x/in ân sủng, nào có ích gì? Chỉ chứng tỏ thiên tử đã bị trời bỏ rơi!

Sao chẳng học Vũ Đế dùng biện pháp thiết thực để chỉnh đốn, cải thiện cục diện?

Than ôi! 'Hiếu Nguyên chi vi quân, dịch lấn nhi nan ngộ dã.' (Làm vua như Hiếu Nguyên, dễ sa vào chỗ khó mà không tự giác).

Nhưng hành động tệ hại nhất của ngài là bãi bỏ 'lăng ấp chế' của thất đại minh quân tiền nhiệm. Nguyên nhân? Vì thấy hào cường di dời khổ sở? Họ khổ thật sao? Đương nhiên! Khổ đến mức con cháu Mậu Lăng giàu có khiến Trường An thành đô thị bậc nhất, khổ đến Vũ Đế còn m/ua rẻ ruộng đất tích lũy của họ.

Nhưng cái 'khổ' ấy trong mắt Vũ Đế chỉ như c/ắt rau hẹ. Ngài đâu quan tâm họ khổ hay không - vì dưới đáy xã hội, dân đen còn khốn đốn gấp vạn lần! Ấy là nhân gian địa ngục!

Thế mà Nguyên Đế chẳng hiểu.

Ngài không biết hào cường như cỏ dại cần định kỳ nhổ bỏ, không hiểu 'lăng ấp chế' là chính sách khoa học, không biết việc bãi bỏ ấy chính là mở đường cho phú hào bành trướng. Ngài không hiểu rằng bọn họ như hổ đói thoát chuồng, một khi về rừng sẽ không quay lại nữa.

Kẻ ng/u muội ấy đã phá hủy trong chốc lát di sản của tiên đế. Hào cường địa chủ trở thành khối u á/c tính của đế quốc.

Thảm họa này không chỉ đẩy Tây Hán đến diệt vo/ng, mà còn gieo mầm họa cho hậu thế. Vòng tuần hoàn 'trị - lo/ạn' 200 năm một lần của các triều đại Hoa Hạ bắt đầu từ đây!

'Hiếu Nguyên chi vi quân, dịch lấn nhi nan ngộ dã.'

Bốn đời vua cuối Hán chỉ lo tranh quyền, lấy đâu thời gian c/ứu tế? Nguyên, Thành, Ai, Bình - mấy đời quân chủ ấy đâu có kém cỏi? Chẳng qua không giải quyết được tệ nạn cũ, lại khiến chúng trầm trọng hơn: hoàng đế mê sắc, ngoại thích hoạn quan lộng hành, địa chủ thôn tính đất đai, dân chúng đói khổ không được c/ứu.

Tổ tiên để lại cơ nghiệp to lớn, nhưng kiến trúc lâu năm không tu sửa thì sao? Tất nhiên phải sửa chữa! Đằng này con cháu để mặc nó mục nát, lại còn mướn kẻ tr/ộm nhà dọn dẹp? Thật không thể chấp nhận!

Mỗi thế hệ có sứ mệnh riêng. Vũ Đế đã hoàn thành xuất sắc phần mình. Đáng tiếc hậu nhân bất tài: kẻ như Chiêu Tuyên nhị đế còn gắng gượng, kẻ như Nguyên Đế đào hố cho hậu thế, kẻ như Ai Đế, Thành Đế hoàn toàn thất bại.

Tệ nạn Tây Hán đã lộ rõ từ thời Tuyên Đế. Từ Nguyên Đế trở đi là suy thoái không phanh. Hoàng đế vốn như bao nghề khác - kẻ anh minh ít, kẻ ng/u muội không nhiều, phần lớn là kẻ bình thường không có năng lực sáng tạo.

Giữa bao biến lo/ạn thời mạt Hán, chẳng trách ngôi vị hoàng đế bị nghi ngờ tính hợp pháp. Bị phế truất cũng không ai tiếc thương!

Dong quân khó tránh, nhưng không thể không thở dài cho dân đen thời lo/ạn, cho bảy đời minh quân tiền bối.

Lưu Triệt thở dài: 'Hả...'

'Có gì lạ? Thành Đế chỉ biết hưởng lạc vô độ, Vương Chính Quân tham quyền không biết phải trái. Họ như kẻ nghèo chợt giàu, chẳng có tầm nhìn xa cũng không giữ được tiết tháo.'

Thân là Đế Vương, Lưu Triệt tự biết chỉ có một mình hắn là tôn quý.

“Một nhà đ/ộc quyền dù ở triều đại nào cũng là mầm họa. Cựu quý tộc bị kẻ mới chiếm chỗ như tu hú cư/ớp tổ chim khách; Chính khách tài ba bị cản trở khó tiến; Tiểu nhân vô lại lại vin vào thế Vương gia mà hoành hành ngang ngược.” Lưu Triệt thấu rõ, khi tuyết lở, chẳng có bông tuyết nào là vô tội.

Hắn cười khổ: “Khó trách thiên hạ nghi ngờ tính chính thống của hoàng tộc họ Lưu, khó trách người người đều tán dương khi Vương thị lên ngôi. Hóa ra là thế, hóa ra là thế!”

Tây Hán diệt vo/ng là lời cảnh cáo từ quý tộc đến bách tính dành cho hoàng tộc họ Lưu; Là hậu quả của bốn đời Nguyên, Thành, Ai, Bình liên tiếp buông lỏng quân quyền; Là sự bất mãn vì danh không chính, ngôn không thuận, nhân tâm khó an; Cũng là để hoàng tộc họ Lưu biết rằng phá rồi mới xây.

Lưu Triệt nghĩ đến Cao Tổ hoàng đế từng lập ‘Bạch mã chi minh’, từng nói: “Không phải người có quân công thì không được phong hầu.” Nhưng hậu thế của ngài đã làm gì? Thời đại “phi quân công bất hầu” đã qua, chỉ cần được hoàng đế sủng ái m/ù quá/ng là có thể phú quý, chỉ cần trở thành ngoại thích là có thể phong hầu bái tướng.

Cứ thế, triều đình đầy rẫy gian thần tiểu nhân ngang ngược, người người chỉ lo tính toán mưu đồ, tranh nhau vin vào ngoại thích. Kẻ vì quốc gia tận tụy, vì xã hội mưu phúc ngày càng hiếm.

Đây là sự phá vỡ nghiêm trọng quy tắc phân phối lợi ích, là sụp đổ của hệ giá trị quốc gia.

Thành Đế sai lầm đã đành, nhưng với Lưu Triệt, Hán Nguyên Đế còn nhiều vấn đề hơn.

“Trong thời lo/ạn, hắn tin theo Nho giáo nhưng lại hiểu sai ý chỉ. Chỉ biết nguyên lý sách vở mà không thấu thực tế, không rõ đại nhân đại nghĩa, không biết thức thời biến thông.”

Lưu Triệt cảm thấy Hán Nguyên Đế hẳn chưa từng được giáo dục đế vương chuẩn mực. Thậm chí hắn nghi ngờ trong nhận thức của Hán Nguyên Đế, chữ ‘Dân’ mà Nho gia nói không phải trăm họ, mà là bọn hào cường đầu đất. Hán Nguyên Đế chỉ thấy nỗi khổ trước mắt của hào cường, chẳng nhìn thấy sự cùng khổ của dân chúng nơi xa.

Lưu Triệt cho rằng ‘Nhu nhân hảo nho’ dành cho Hán Nguyên Đế không phải lời khen, bởi cái ‘nhân’ ấy chỉ là sự nhượng bộ vô nguyên tắc với thế lực gian á/c, là thứ ‘nhân’ giới hạn trong sĩ phu, quý tộc, địa chủ.

“Chỉ là mặt ngoài hào nhoáng.” Lưu Triệt bình phẩm, “Hán Nguyên Đế nếu thật sự ‘nhân’, thật sự lấy dân làm gốc, thật sự kết hợp Nho - Pháp thì có lẽ đã kéo dài được thịnh thế.”

Trong đầu hắn bất giác hiện lên một câu nói.

Từ khi nghe tiên môn nói tư tưởng quân quyền thần phụ bất lợi cho việc kiến quốc nhà Hán, hắn đã đi/ên cuồ/ng tra c/ứu bách gia điển tịch.

Trong đó có mấy lời khiến hắn ấn tượng sâu sắc:

Dân quý, xã tắc thứ hai, quân vi kh/inh.

‘Dân’ phải là bách tính, chứ không phải bọn quan lại hào cường.

Dân chúng lầm than, ắt quốc gia diệt vo/ng.

Quan lại không dễ sống, lại là điềm lành cho nước.

Bề tôi lấy thiên hạ làm trách nhiệm quá ít, kẻ không màng được mất cá nhân, vì nước quên mình càng hiếm như sao buổi sớm.

Lấy đức trị quốc với quan lại hào cường, kết cục là nhà Hán tham nhũng tràn lan, coi mạng người như cỏ rác. Muốn quan lại thanh liêm chỉ bằng đạo đức tự thân? Không thể nào! Thất tình lục dục vốn là bản năng con người.

Vì thế, hắn khiến bá quan run sợ, bởi quan lại cần biết kính sợ, cần lưỡi gươm treo trên cổ, cần khắc kỷ phục lễ.

Mấy đời hoàng đế sau Hán Tuyên Đế đã để quan lại sống quá dễ chịu: chỉ giáo hóa, không trấn áp, không quản dị tâm, cho chúng quyền phân phối mà không giám sát, khiến chúng thành sâu mọt của nước.

Lưu Triệt tự hỏi: Bọn quan lại bây giờ có đang sống quá thoải mái không? Có nên khiến chúng vất vả thêm chút?

May là đám quan chức không có mặt ở đây, nếu không nghe chủ tướng cảm thán chúng sống dễ chịu, chắc chúng sẽ gi/ật mình thon thót.

Bây giờ còn chưa đủ khổ sao? Thật hoang đường! Triều đại nào có quan lại vất vả như nhà Hán? Bệ hạ của chúng chính là Hán Vũ Đế m/áu lạnh vô tình! Là vị hoàng đế khiến bề tôi tuổi trung niên ba mươi lăm đã mang tâm trạng bị phế truất!

——————————

“Quan bất liêu sinh” và “Dân chúng lầm than” không cùng nghĩa. Quan lại có nghề ổn định, bổng lộc đủ đầy, phúc lợi đảm bảo. Vậy tại sao vẫn có người nói “Quan bất liêu sinh”? Suy cho cùng, dưới chính sách nghiêm minh, một số kẻ không thể tùy tiện lợi dụng quyền thế. Dân chúng kỳ vọng cao hơn, tiêu chuẩn tham chính nghiêm ngặt hơn, trọng trách nặng nề hơn, mỗi lời nói việc làm đều bị tổ chức và bách tính giám sát ch/ặt chẽ. (Ý tại ngôn ngoại vậy sao?)

Kẻ cho rằng Tây Hán diệt vo/ng do lỗi của Vương Chính Quân không nhiều, nhưng sai lầm lớn nhất vẫn thuộc về hoàng đế...

1.

Ái Tân Giác La · Hoằng Lịch: “Mãng soán ngôi, Nguyên Hậu chính là kẻ đã dung túng. Nguyên Hậu chỉ lo phòng bị Văn mẫu, không nghĩ đến họa khác, nên mới gặp họa. Việc giữ ấn tỉ khẩn thiết nhưng lại che giấu tai mắt thiên hạ, đúng là tâm đàn bà hẹp hòi, không trách bị lừa.”

Thái Đông Phiên: “Từ Hiếu Nguyên Hoàng về sau, không có Thái hậu kiêu ngạo buông thả như nhà Lữ, cũng không có Triệu thị tỷ muội d/âm lo/ạn, có thể gọi là hiền hậu. Chỉ tiếc quá sủng Vương Mãng, để hắn lộng quyền, đoạt chính quyền. Đó là sai lầm vì nhu nhược, chứ không phải kiêu d/âm. Mãng biết Nguyên Hậu dễ lừa, nên dùng trăm phương ngàn kế kh/ống ch/ế. Đến khi gi*t Bình Đế, Nguyên Hậu không can; Đón vua nhỏ, Nguyên Hậu không tranh; Xưng Nhiếp hoàng đế, giả truyền quốc tỉ, Nguyên Hậu không hỏi. Giấu tỉ truyền quốc mà không chống cự, ích gì? Đàn bà trị quốc, tạm thì nguy, lâu ắt vo/ng. Nguyên Hậu thọ hơn tám mươi, trải bốn đời Hán, không ch*t vì đ/ao binh, nhưng Hán vo/ng cũng vì bà.”

Ban Bưu: “Từ đời thứ ba ghi trong Xuân Thu, vương công quốc quân mất nước phần nhiều do nữ sắc. Nhà Hán dấy, hậu phi họ Lữ, Hoắc, Thượng Quan mấy lần suýt nguy quốc gia. Vương Mãng dấy lo/ạn cũng bắt ng/uồn từ Hiếu Nguyên Hoàng hậu - mẹ thiên hạ bốn đời, hưởng quốc hơn sáu mươi năm, để đệ tử nắm quyền, năm tướng mười hầu tạo nên Tân Đô. Thế lực Vương thị tràn ngập thiên hạ, thế mà Nguyên Hậu vẫn ôm ấn tỉ không buông, không dạy dỗ Mãng, buồn thay tâm đàn bà!”

2.

Cảm tạ đ/ộc giả đã ủng hộ:

Từ 2023-07-24 14:00:28 đến 2023-07-25 19:51:48, cảm ơn các đ/ộc giả đã gửi Bá Vương phiếu và dịch dinh dưỡng:

- Độc giả gửi lựu đạn: Ô mai thái ngọt 1 cái

- Độc giả gửi dịch dinh dưỡng: Tiểu Hắc 50 chai; 555 - 8 chai; Bibibi - 5 chai; 30027617, Hạt Dẻ - 1 chai

Vô cùng cảm tạ sự ủng hộ của mọi người, tôi sẽ tiếp tục cố gắng!

Danh sách chương

Có thể bạn quan tâm

Bình luận

Đọc tiếp

Bảng xếp hạng

Mới cập nhật

Xem thêm
Hoàn

Sau khi phu quân giả chết, ta đã chặt đứt đường lui của hắn. Phu quân giả chết ngay trước mắt ta. Đám tang hắn được cử hành long trọng, quan tài gỗ quý được khiêng vào phần mộ tổ tiên. Ta đứng đó, mặc tang phục trắng toát, tay nắm chặt bia linh vị khắc dòng chữ "Chồng ta - Tạ Thâm chi vị", lòng đau như dao cắt. Nhưng ta biết hắn vẫn sống. Đêm tang lễ ấy, khi mọi người đã về hết, ta một mình quỳ trước bài vị, ngọn nến lung linh chiếu bóng ta in lên tường như bóng ma. "Phu quân à," ta thì thầm, tay run run mở hộp tráp dưới chân bàn thờ, lấy ra bức thư hắn để lại - thứ mà chỉ ta biết sự tồn tại. "Vợ hiền, khi nàng đọc được thư này, ta đã theo Tam Hoàng tử lên biên ải. Việc giả tử này bất đắc dĩ, mong nàng thứ lỗi..." Mực chữ còn thơm mùi trầm, nét bút phóng khoáng quen thuộc. Ta cười khẽ, giọt nước mắt rơi xuống làm nhòe chữ "thứ lỗi". Trong đầu hiện rõ hình ảnh hôm qua, khi ta vờ tình cờ đi ngang thư phòng, nghe được đoạn đối thoại: "Công tử, sau khi giả chết, phu nhân nhất định sẽ buồn lắm..." "Nàng ấy yêu ta sâu đậm, khóc vài tháng rồi cũng nguôi. Còn ta," giọng hắn vang lên lạnh băng, "sẽ lấy thân phận mới giúp Tam điện hạ tranh đoạt ngôi vị, sau này ắt ban cho nàng danh phận cao quý hơn làm bù đắp." Gương mặt ta trong gương tối hôm ấy tái mét. Ngón tay bấu vào khung cửa đến bật máu. Hóa ra mười năm ân ái, trong mắt hắn chỉ là màn kịch! Bây giờ, ta thong thả thắp nén hương mới, đưa bức thư vào ngọn lửa. Giấy cuộn tròn trong lửa đỏ, tro tàn rơi xuống như đàn bướm đen. "Xin lỗi à?" Ta nhìn ngọn lửa bập bùng phản chiếu trong đôi mắt, "Không cần đâu." Sáng hôm sau, khi tia nắng đầu tiên chiếu vào sân, quan gia cử người đến đòi lại ấn tín gia tộc. Ta ung dung ngồi trong chính sảnh, tay phẩy nhẹ tách trà. "Bẩm phu nhân," viên quản sự lễ phép cúi đầu, "theo di chúc lão gia, nếu công tử không may qua đời, toàn bộ gia nghiệp sẽ giao cho người kế thừa hợp pháp..." "Ngươi muốn nói Tam phòng đích tử Tạ Dục?" Ta nhếch mép cười, từ từ đặt tách trà xuống, "Tiếc thay, hôm qua ta vừa nhận được tin, trên đường trốn đến Lương Châu, thuyền của vị tiểu thúc đệ ấy đã gặp nạn ở Thái Hồ." Viên quản sự sững sờ. Ta vẫy tay, thị nữ bưng lên một chiếc hộp sơn son. Bên trong là chiếc ngọc bội nhuốm máu - vật bất ly thân của Tạ Dục. "Còn ai khác nữa không?" Ta hỏi khẽ, giọng như dao cắt ngọc, "Hay muốn ta đích thân đến phủ Tam Hoàng tử hỏi thăm "người mới" của điện hạ?" Căn phòng chết lặng. Viên quản sự mặt cắt không còn hạt máu, vội vàng lui ra. Ta nhìn theo bóng hắn, khóe miệng nở nụ cười lạnh băng. Tạ Thâm, ngươi muốn đổi thân phận để mưu đồ đại sự? Được thôi. Nhưng trước khi đi, ta đã đốt sạch thông quan văn thư trong thư phòng, giết chết tất cả người kế thừa hợp pháp, cắt đứt mọi đường về của ngươi. Bây giờ, hãy xem ngươi - một kẻ "đã chết" - lấy tư cách gì để quay về giành lại những thứ thuộc về ngươi?

Chương 7
Khi nắm lấy bàn tay phải của phu quân trong quan tài, ta giật mình nhận ra người nằm đó chính là người em song sinh của hắn. Còn kẻ mặc áo nho sinh đứng cạnh, đang ôm vai đệ muội an ủi, lại chính là người chồng đáng lẽ đã chết của ta! Ta kinh ngạc trước việc hắn vì tình yêu mà sẵn sàng từ bỏ tước vị, nào ngờ âm mưu nham hiểm của hắn đã được tính toán kỹ càng - mượn cái chết giả để kế thừa song tông, một mình hưởng lợi cả đôi đường. Đáng tiếc, nhân tính khó địch được thiên ý. Hắn đâu biết rằng bụng ta đã mang thai hai tháng. Đã vậy, hắn không muốn giữ tước vị, thì cứ việc an phận làm kẻ bàng chi mà sống cho trọn đời đi!
Cổ trang
Cung Đấu
Nữ Cường
0
Tường Ngọc Chương 6
Tư Lương Chương 8
Sinh Sinh Chương 6
Kiếp Tái Sinh Chương 10