Cùng Nhạc Phi, vị này lớn lên ở phương bắc, lại vì chính trị vương triều mà ch/ôn xươ/ng Hàng Châu, hoàn toàn khác biệt. Chúng ta biết, triều Minh từ thời Vĩnh Lạc dời đô mãi đến khi Sùng Trinh tự tr/eo c/ổ trên núi Cảnh Sơn, trải qua hơn hai trăm năm. Dù còn nhiều tranh cãi, nhưng trung tâm chính trị vẫn luôn là Bắc Kinh.

Mà Vu Khiêm cuối cùng lại được an táng bên hồ cùng Nhạc Phi, cùng xưng là “Tây Hồ tam kiệt”. Kỳ thực, Hàng Châu là cố hương của Vu Khiêm. Sau một đời ba chìm bảy nổi, ông trở về nơi ch/ôn nhau c/ắt rốn.

Nhưng chuyện “h/ồn về cố thổ” này thật sự có chút oan khuất.

Đều là “thiên hạ đại oan”, họ đâu mong được an nghỉ mà không vướng chút oan tình?

Chỉ là...

Chỉ mong đừng quá đỗi nghiệt ngã.

Dù cùng là anh hùng dân tộc, nhưng m/ộ phần của Vu Khiêm nổi tiếng hơn hẳn so với Nhạc Nguyên soái. Chủ yếu là... nó cũng quá lạc lõng!

Không sao, ta tin vào công nghệ, tin vào thiếu bảo! Nhắm mắt lại mà đi, dù trước sau chẳng bóng người, nhưng ta tin thiếu bảo sẽ không để ta uổng công! Vững tin!

Vu Khiêm: ...

Thà rằng ngươi tin vào cái hộp nhỏ trong tay hơn! Lòng tin như thế khiến hắn chẳng dám đón nhận.

Nhà ai lại muốn đời sau dẫn đường đến m/ộ phần mình chứ?

Nhưng nhìn cảnh xanh tươi trên màn ảnh, con đường đ/á vắng lặng, Vu Khiêm thầm thở phào. Linh h/ồn được yên nghỉ nơi thanh tĩnh như thế, cũng hợp lòng ông.

Một mình đi đâu sợ tịch mịch? Vậy thì cùng trò chuyện vậy.

Đa số người biết đến Vu Khiêm qua bài thơ “Vôi Ngâm” trong sách tiểu học:

“Ngàn chùy vạn tạc ra thâm sơn,

Lửa ch/áy bừng bừng đ/ốt ch/áy như bình thường.

Phấn cốt tan thân nào có sợ,

Chỉ mong lưu lại thanh bạch giữa nhân gian.”

Hồi ấy, thầy giảng rằng đây là mượn vật tỏ chí, vừa tả quá trình nung vôi gian khổ, vừa bày tỏ lòng trung quân ái quốc, bất chấp hiểm nguy.

Về sau mới hiểu, mấy câu thơ viết lúc thiếu niên ấy đã khắc họa trọn đời Vu Khiêm.

Ở thiếu bảo, ông như Văn Thiên Tường – kiên trung đến ch*t, thành anh hùng dân tộc sáng ngời sử sách.

Nhưng ch*t dưới tay kẻ th/ù hay ch*t bởi đồng bào – vẫn khác nhau lắm.

X/ấu hổ thay, chẳng phải thiếu bảo của ta!

Vu Khiêm thản nhiên. Dù tương lai bất trắc, miễn lương tâm không hổ, ông vẫn an nhiên. Được xếp cùng Văn Công Tường vào hàng “anh hùng dân tộc”, còn gì hơn?

Tính lại, thiếu bảo đã chứng kiến bảy đời quân vương triều Minh!

Năm Hồng Vũ thứ 31, Vu Khiêm sinh tại Hàng Châu, huyện Tiền Đường – kịp chuyến xe cuối thời Hồng Vũ.

Năm Vĩnh Lạc 19, hai mươi ba tuổi đỗ Tiến sĩ, bước vào hoạn lộ.

Lần đầu tỏa sáng là khi làm Ngự sử hộ tống Tuyên Tông thân chinh dẹp lo/ạn Hán vương Chu Cao Hú. Ông liệt kê tội trạng khiến Hán vương quỳ rạp r/un r/ẩy.

Nhưng hoạn lộ chẳng bằng phẳng. Tuyên Tông đoản thọ, Vu Khiêm cương trực không a dua Vương Chấn – kẻ thân tín hơn cả phụ thân của Bảo Tông. Ông bị vu oan hạ ngục, may nhờ bách tính và bá quan thỉnh cầu mới được phục chức.

Nếu mọi chuyện bình thường, theo tính cách đ/ộc đoán của Chính Thống, Vu Khiêm chỉ là quan viên bình thường, rồi cáo quan về quê.

Nhưng “trí tuệ” của Bảo Tông vượt xa tưởng tượng!

Năm Chính Thống 14, nghe Vương Chấn xúi giục “lấy uy thiên tử dẹp giặc dễ như trở bàn tay”, hoàng đế ham công hám lớn – bất chấp lời can, không rõ chủ lực Ngõa Lạt ở đâu, vội tập 20 vạn quân “ngự giá thân chinh”. Lại mang theo Lại bộ Thượng thư, Hộ bộ Thượng thư cùng nội các Đại học sĩ... như đi du ngoạn, thẳng hướng tây.

Tóm lại, vội vàng hành động khiến lòng người tan rã, tổ chức rối lo/ạn, đội ngũ lếch thếch. Lại thêm trời không chiều lòng, gió táp mưa sa, cuối cùng lần thân chinh này kết thúc với cả đoàn người ngã ngựa đổ nghiêng, hỗn lo/ạn không sao kiểm soát nổi.

Đương nhiên, những lời khuyên can đều đã thành công cốc. Dù sao tằng tổ phụ của hắn dụng binh như thần, phụ thân cũng từng ngự giá thân chinh và giành thắng lợi, lẽ nào chính hắn lại không thể?

Bảo Tông rõ ràng không có bất kỳ khái niệm gì về việc huấn luyện quân sự cho bản thân và những tín đồ thân cận - những kẻ kém cỏi hơn nhiều cấp độ.

Các hoàng đế đầu triều Minh từng trải trăm trận, dù không tự mình ra chiến trường cũng chứng kiến không ít. Mấy vị lo việc hậu cần chiến sự nghe xong chỉ biết im lặng.

Bọn họ đã nghe thứ gì mà hoang đường đến thế?!

Biết người biết ta, trăm trận trăm thắng - chẳng lẽ còn phải dạy lại sao? Ngay cả chủ lực địch quân đóng ở góc nào cũng không rõ mà đã dám ngự giá thân chinh? Được đi, ngự giá thì ngự giá, nhưng hai ngày sau đã vội xuất quân? Kịp làm gì?

Hơn nữa...

Chu Nguyên Chương rúng động. Dù ông cũng chán gh/ét bọn văn quan ngày ngày lải nhải trên triều, nhưng sao lại mang Lại bộ Thượng thư cùng Hộ bộ Thượng thư theo quân? Điểm danh quân số hay tính sổ sách cho Ngõa Lạt? Huống chi, nếu đem hết trọng thần lục bộ đi rồi, ai lo việc hậu cần lương thảo?

Chu Nguyên Chương tê dại cả người. Chu Chiêm Cơ - phụ thân trong cuộc - càng thất thần. Ông muốn bóp ch*t đứa con ng/u ngốc này ngay lập tức. Sao mình lại sinh ra đứa nhi tử đần độn thế? Thật khó tin nổi!

Kết cục, đúng như dự liệu: "Không phụ lòng mong đợi của thiên hạ".

Dưới sự chỉ huy quân sự mạnh như hổ báo của Vương Chấn và đồng bọn, quân Minh chủ động xuất kích thất bại, vô cớ rút quân khải hoàn, giữa đường lại đổi lộ trình, cuối cùng bị Ngõa Lạt tập kích. Không thể nói là thảm bại, chỉ có thể miêu tả: hai mươi vạn đại quân tan tác như lá rụng.

Trận Thổ Mộc Bảo kết thúc trong m/áu lửa, sử xưng "Thổ Mộc Bảo chi biến". Quân Minh tinh nhuệ, bao gồm cả Thần Cơ doanh, tổn thất gần như toàn bộ. Năm mươi hai đại thần tử trận trong hỗn chiến.

Triều Minh suýt nữa diệt vo/ng sớm trăm năm. Dù không mất nước, từ đó cũng như mặt trời xế bóng. Trong đó, Bảo Tông lại một lần nữa "công lao hiển hách".

Dù đã nghe danh "Thổ Mộc Bảo chi biến", lại vừa chứng kiến những hành động trước trận khiến người ta tối mặt, các đế vương triều Minh đã lòng ng/uội lạnh. Họ đoán trước kết cục chiến sự. Loại trận này mà thắng, họ sẽ viết ngược tên mình!

Nhưng khi nghe thiên mục tường thuật diễn biến Thổ Mộc Bảo chi biến, các bậc quân vương triều Minh: huyết áp tăng vọt! Sao có thể hấp tấp thế?

Thiên mục nói "khải hoàn nửa chừng lại đổi đường" là sao? Đó là chuyện quân đội bình thường có thể làm ư?

Chu Chiêm Cơ hoa mắt. Bao nhiêu đại thần bỏ mạng ở Thổ Mộc Bảo? Năm mươi hai tên? Tốt lắm, vừa rồi còn tưởng thiên mục nói "cả triều văn võ" là khoa trương, hóa ra không ngoa chút nào.

Chu Chiêm Cơ không nhịn nổi, chống cột gầm lên: "Sao không gi*t ngay tên hại nước hại dân ng/u xuẩn kia?"

Không thể nhẫn nhịn thêm nữa!

Nhưng phải nói, Đại Minh vẫn còn chút khí vận. Bảo Tông tùy tay chỉ định Chu Kỳ Ngọc - Thành Vương giữ kinh thành. Vu Khiêm được lưu lại kinh đô phụ trách Binh bộ. Nhưng đó chỉ là hình thức. Những kẻ sống qua ngày còn lại chỉ biết hưởng lạc. Thành Vương cũng chỉ là bù nhìn, bởi phiên vương triều Minh nào có quyền tự chủ?

Thế rồi, khi cả triều đình mải mê mò mẫm trong hỗn lo/ạn, một trái bom từ Thổ Mộc Bảo n/ổ tung: tin quân báo khẩn cấp. Thế là đổ sông đổ bể.

Nói cho cùng, khi bậc đế vương dẫn đầu tinh nhuệ ra trận hùng hổ, ai ngờ họ ở kinh thành còn đang giăng đèn kết hoa? Sao bỗng nhiên thất bại thảm hại thế?

Kỳ thực, với bố trí lúc đó, bậc thức giả trong kinh đâu thể không biết trận chiến nguy hiểm? Nhưng quân Minh hùng mạnh, tướng lĩnh dày dạn, ai ngờ nhận tin bại trận? Dù có sụp đổ cũng là lẽ thường. Ít nhất nên giữ lại chút tinh binh chứ?

Vu Khiêm và Cảnh Thái đế Chu Kỳ Ngọc chính là nhận lãnh trọng trách giữa cơn sóng dữ, thật sự bước lên vũ đài chính trị. Đùa sao? Câu "ngăn cơn sóng dữ, đỡ lầu cao đổ" đâu phải hư ngôn? Đại Minh lúc ấy thật sự ở thế ngàn cân treo sợi tóc.

Có thể nói, trọng thần Cảnh Thái do Vu Khiêm đứng đầu thật sự là ân nhân kéo dài tuổi thọ cho vương triều Đại Minh, không một giọt nước pha.

Danh sách chương

Có thể bạn quan tâm

Bình luận

Đọc tiếp

Bảng xếp hạng

Mới cập nhật

Xem thêm
Hoàn

Vương Phi Lười Biếng: Dựa Bói Toán, Nằm Không Cũng Thắng Hậu Cung

Chương 6
Ngày đầu tiên nhập cung, ta tự bói cho mình một quẻ. Quẻ hiện lên: Chẳng cần làm gì, nằm yên cũng thắng. Tin ngay! Từ đó bắt đầu cuộc sống ăn no ngủ kỹ như cá ướp muối. Tuyển tú? Không đi. Vấn an Hoàng hậu? Giả bệnh. Hoàng thượng gọi thị tẩm? Lập tức hắt hơi sổ mũi dây chuyền. Hậu cung tranh đấu sống mái. Ta trong góc sân nhỏ cạnh lãnh cung ngủ say sưa chẳng thiết trời đất. Nỗi phiền muộn duy nhất là đồ ăn từ Ngự Thiện Phòng ngày càng qua loa. Rau xanh đậu hũ. Đậu hũ rau xanh. Mặt xanh lè vì ngán. Cho đến hôm ấy. Con mèo Ba Tư của Quý phi bỗng mất tích. Cả cung điện nháo nhào đi tìm. Ồn ào đến nỗi ta chẳng chợp mắt được giữa trưa. Vác bộ tóc rối bù, ta đẩy cánh cổng sân ọp ẹp kẽo kẹt. Nhặt đại cành cây khô. Vạch vài đường dưới đất. "Đến góc đông nam Ngự Hoa Viên, xem trong khe đá tầng thứ ba giả sơn ấy." Cung nữ thái giám đi ngang nhìn ta như xem thằng ngốc. Ta ngáp dài, rụt về sân tiếp tục ngủ. Nửa canh giờ sau. Quý phi ôm con mèo tưởng đã mất. Đứng trước cổnh viện ta. Mặt biến sắc như lọ sơn đổ. "Ngươi... làm sao biết được?" Ta dụi mắt lè nhè. "Bói đấy."
Cổ trang
Linh Dị
Nữ Cường
105