Lộ vương phủ.
Thấy ba đứa con trai về muộn, lại mang về một hạt châu lưu ly, Lộ vương nổi gi/ận, vừa định m/ắng chúng ham chơi mất cả chí khí, nghe nói là Trần Bình An cho, mặt liền dịu lại, bảo: “Làm xong bài tập thì đi ngủ sớm đi.”
Trên đường về phòng ngủ, Lý Hiến tự cầm đèn dẫn đường cho các em trai. Cậu có điều muốn nói riêng, bọn thái giám đành lẳng lặng theo sau từ xa.
“Anh cả, cha gần đây có vẻ lạ lắm.” Cậu em thứ hai nói.
“Tình trạng này đã lâu rồi.” Lý Hiến thở dài, thì thầm: “Nếu không được làm vua, tính ương ngạnh của ông ấy sẽ càng tăng.”
Cha cậu, bị người bên cạnh nịnh bợ quá cao, bị quyền lực làm mờ mắt, lại thiếu cái đầu lạnh. Ông ta nhát gan, khổ sở, sợ mất đi thế cục tốt đẹp, nhưng càng sợ lại càng dễ đ/á/nh mất tất cả.
“Nghĩa là sao hả anh?”
“Lớn lên chút sẽ hiểu.” Lý Hiến nói xong, trong lòng tự trách mình bất hiếu, nhưng vẫn dặn các em: “Nhớ kỹ, bất cứ việc gì cha bảo làm, đều phải báo với anh hoặc mẹ trước. Trước mặt ông nội phải cẩn trọng lời ăn tiếng nói, nhưng đừng giở trò láu cá, ông không thích đâu.”
Cậu còn quá trẻ, ngoài cách này, chẳng nghĩ ra được phương án nào khác để giữ an toàn cho phủ vương.
“Em nhớ rồi.”
......
A Man mang theo chút tiền mặt cùng hối phiếu, thu gọn hành lý, cưỡi “Hồng tướng quân” cùng Càng Thất lên đường đến Nhan Sơn. Càng Thất là lão bộc trung thành, khỏe mạnh, được Lâm Nguyệt chấp thuận cho đi theo để bảo vệ A Man dọc đường.
Những ngày sau đó, Bình An vẫn đều đặn đi học, làm bài, học cờ cá ngựa với Hồ Sư Phó, vừa chờ tin A Man vừa chờ mấy món thủy tinh của lão Lô. Không đứa trẻ nào ngoan ngoãn hơn cậu.
Hôm tan học, ông nội vắng nhà. Tiểu Phúc Lô báo Lư Sư Phó đang làm cây đèn. Bình An vứt cặp chạy đến xem.
Cậu chỉ định nhờ lão Lô nung mấy ống nghiệm và chậu nuôi cấy, nào ngờ ông nội khéo nịnh khiến lão ta nhất quyết khoe tài. Ai ngăn cản là lão cáu ngay.
Giữa tiết tháng mười một, lão Lô cùng ông nội đều cởi trần, mồ hôi nhễ nhại dưới sức nóng của lò nung.
Trong nồi nấu quặng nóng bỏng, thạch anh cứng đã hóa thành chất lỏng sánh như đường hổ phách. Lão Lô dùng ống sắt múc một ít chất lỏng, xoay tròn tạo hình, rồi vừa thổi vừa dùng kìm kéo, biến khối thủy tinh nóng chảy thành đóa sen. Sau đó dùng kìm nhỏ tạo từng cánh hoa, khắc họa đường vân.
Tiếp theo, lão thổi phần nhụy làm đĩa đèn, gắn vào giữa cánh hoa, rồi nâng mười tám cánh sen lên, gắn vào trụ đèn cao cùng chân đèn.
Bình An há hốc nhìn. Cả quy trình này đòi hỏi sức tay dẻo dai, hơi thở mạnh cùng kinh nghiệm tích lũy lâu năm.
Khi cây đèn hoàn thành, Lư Sư Phó dùng bàn chải nhỏ quét lớp trang trí rồi đưa vào lò hạ nhiệt để ng/uội ba ngày.
Ba ngày sau, Bình An mới được thấy thành phẩm: chén đèn hoa sen thủy tinh. Cánh hoa viền vàng như ánh mai rọi sớm, tinh xảo đến lạ thường.
Thắp đèn lên, ánh vàng nhạt xuyên qua cánh sen, tỏa bóng lấp lánh.
Trần lão gia mời lão Lô dùng cơm. Hai người nâng chén vui vẻ như huynh đệ lâu ngày gặp lại.
“Cây đèn này tặng cháu.” Lão Lô s/ay rư/ợu, vừa khóc vừa cười: “Giá con người đơn giản như thủy tinh thì tốt... Đời ta, có lỗi với bản thân, càng có lỗi với vợ con...”
Trần lão gia vội an ủi: “Thủy tinh cũng chẳng dễ đâu, như lão phu đây có nung nổi đâu.”
Tiếng xe ngựa ồn ào vang ngoài cổng, tiếp theo là bước chân hối hả.
“Anh An! Anh An!”
Chưa thấy người đã nghe tiếng A Man reo như chim én báo xuân: “Mau ra xem, em đưa hai mẹ con nhà họ Lư về rồi!”
......
A Man không chỉ đưa được mẹ con Lư A Lan về, còn thuê xe chở cả vợ lão Lô là bà Tôn về theo.
Lâm Nguyệt nhìn cô bé da dẻ sạm đen, môi tím tái vì gió lạnh, lắc đầu: “Đứa nhỏ này, mệt ch*t đi được.”
A Man gật đầu. Để tránh bọn c/ờ b/ạc trả th/ù, cô phóng ngựa ngày đêm, may mà “Hồng tướng quân” sức bền tốt, kéo xe cũng không quá nhanh, bằng không đã kiệt sức.
Lão Lô đoàn tụ với vợ con, cả nhà ôm nhau khóc. Mọi người cũng vui lây.
“À, đúng rồi!” A Man móc mấy tờ hối phiếu đưa Triệu thị: “Thưa bà, chỉ tốn hơn mười lạng, đây là tiền thừa.”
Triệu thị ngạc nhiên: “Sao lấy lại hết được? Kiện tụng không tốn tiền sao?”
A Man khoát tay, cổ khô không nói được, đỡ ly nước Tào Mụ Mụ đưa, uống ừng ực.
Càng Thất theo hầu giải thích: “Đừng nói đến, quan viên nơi ấy nổi tiếng, không thèm nhận vụ này, bao nhiêu tiền cũng chối.”
Bình An giờ mới hiểu. Luật pháp vốn khó với dân thường, quan lại không thèm xử, chuyện “tuyệt tình” chỉ là khẩu hiệu suông.
A Man đành tìm cách khác. Cô thuê hai bộ y phục sang trọng, mướn tay chân giả làm thương nhân, sai Càng Thất giả gia nhân, đến sò/ng b/ạc rình rập tên c/ờ b/ạc.
Khi hắn bị đuổi khỏi sòng, Càng Thất ôm vai kết thân, nói chủ nhân trông thấy vợ hắn trên đường, cảm mến nên muốn tặng mười lạng bạc để mời về Nhan Sơn phụng dưỡng mười ngày.
Tên c/ờ b/ạc ban đầu tức gi/ận, ch/ửi Càng Thất là đồ mối lái. Đúng lúc bạn bè rủ về sòng, nghe chuyện không chịu cho vợ thuê, lại chế giễu hắn.
“Mày đâu phải thư sinh. Mười ngày ki/ếm mười lạng, là tao thì tao tự đi!”
Tên c/ờ b/ạc hỏi: “Lỡ có con thì sao?”
Bạn cười nhạo: “Mười lạng m/ua bao nhiêu thang th/uốc được? Đánh cho rơi là xong.”
Dân c/ờ b/ạc nào cũng mơ gỡ gạc. Hắn không cưỡng nổi mười lạng bạc, liền ký hợp đồng cho thuê vợ với “thương nhân”, hai bên giữ một bản.
“Cầm giấy tờ này đến nhà mà đón người, tao đi đây.” Tên c/ờ b/ạc phủi đít, không nấn ná, quay lại sòng ngay.
A Man thành công đưa hai mẹ con Lư A Lan đi. Cô còn sai Càng Thất vào sòng báo tin: Lư A Lan không nỡ bỏ con sợ ch*t đói, nên đem theo cả hai.
M/a bài bạc lúc nào cũng quản giáo hài tử ch*t sống, khoát tay lại đem sự chú ý chuyển đến trên đầu chuông.
Người trong nhà nghe ngạc nhiên, Bình An hỏi: “Sau đó thì sao?”
“Tiếp đó, A Man tự viết đơn kiện, tự xưng là họ hàng xa của Lư A Lan, cáo trạng chồng A Lan điển vợ, lên công đường giúp hai mẹ con thắng kiện. Chẳng những lấy được cùng Ly Thư, còn khiến Càng Bảy bị phán tội ‘Điển Thê’, trừng ph/ạt tám mươi trượng, đ/á/nh đến gần ch*t.” Càng Bảy nói: “Tri huyện phái người đi khách sạn tìm ‘Điển Cố Nhân’, sớm đã không còn người, phòng trống. Điển vợ trên giấy trắng mực đen ký tên ‘Dương Quán’.”
Bình An cười gập cả người.
Lâm Nguyệt hỏi A Man: “Ngươi làm thế nào?”
“Ta cẩn thận tra xét pháp luật, ‘Đem thê thiếp chịu tài điển thuê cùng người vì thê thiếp giả, trượng tám mươi, đồng thời ly dị, phụ nữ không ngồi, lễ vật vào quan’. Ta dẫn điều luật cùng bản án cũ, thỉnh quan phán đoán.” A Man đắc ý nói: “Thái thái yên tâm, tuy việc điển cưới giả có tội, nhưng thực tế không truy c/ứu người m/ua. A Man không hối lộ, không vu khống, đường đường chính chính thắng kiện.”
Nàng từ trong tay áo lấy ra cùng Ly Thư, trịnh trọng giao cho Lư Tam Giang.
Lão Lô tay run run nhận lấy, quỳ xuống đất lạy tạ A Man, miệng nói lời cảm tạ ân nhân.
“Giảm thọ giảm thọ!”
A Man đỡ lão Lô dậy. Lâm Nguyệt vội vàng bảo Tào Mụ Mụ dẫn nàng đi nghỉ, căn dặn xem chân A Man vì cưỡi ngựa lâu chắc đã bị yên làm trầy da.
Lại gọi người mở kho tiền, lấy th/uốc trị nứt da cho Tào Mụ Mụ đưa đi. Cô gái nhỏ mặt mũi quan trọng, nếu thành s/ẹo hàng năm tái phát thì phiền phức.
Lại gọi người thu dọn tây tiểu viện cho mẹ con Tôn thị và Lư A Lan ở tạm. Nhà xưởng lão Lô đầy khói bụi, các nàng không thể ở được.
Một hồi bận rộn, khi mọi người trở về phòng ngủ thì đã qua nửa đêm.
Bình An lại hưng phấn đến mất ngủ, trải giấy vẽ bàn cờ cá ngựa cho sáu người, hôm sau giao người nhà mang đến tiệm đồ gỗ đặt làm.
Nữ nhi đã về nhà, Lư Sư Phó không định trở về Nhan Sơn. Sắp đến Tết, Lâm Nguyệt cũng nguyện ý giữ mẹ con Tôn thị và A Lan ở lại.
Để tỏ lòng cảm kích nhà họ Trần, Lư Sư Phó quyết định: Một là nung viên bi pha lê bao nhiêu tùy ý, thạch anh tây sơn vô tận; Hai là truyền nghề cho Trần Lão Gia, vì nung pha lê là tuyệt kỹ, chỉ còn kỹ nghệ này báo đáp.
Trần Lão Gia bị đuổi khắp ngõ, thở hổ/n h/ển chạy về. Nung pha lê cực khổ, ki/ếm tiền mồ hôi nước mắt, khác với sửa đồ chơi. Ông sợ mệt, nhưng Lư Sư Phó cương quyết dạy, ép ông không ra khỏi phòng ba ngày.
Bình An nhìn ông nội vội vã: “Khó có cơ hội, nhanh đi học!”
Bị cháu kéo đi học, Trần Lão Gia mặt mày đ/au khổ, dời ghế nhỏ ngồi trong viện Lư Tam Giang.
Lư Tam Giang mừng rỡ cởi trần định nhóm lò. Trần Lão Gia nói: “Không cần nhóm lửa, quá nóng; Không cần tro than, quá đen; Không cần thổi pha lê, quá mệt...”
Lư Sư Phó đứng ngẩn người: “Biết dạy thế nào?”
Trần Lão Gia lấy sổ nhỏ: “Ngài nói, tôi ghi lại. Cháu tôi sau này cần thì đưa nó xem.”
Lư Sư Phó: “......”
Bình An tan học về, xem bút ký ông nội bừng tỉnh. Hóa ra kinh nghiệm chỉ là một phần, kỹ thuật cốt lõi ba bước:
Đầu tiên hòa tro than vào nước, lọc bằng vải và phễu. Nước lọc đun trên lửa, vừa đun vừa khuấy đến khi khô, đáy chén có tinh thể hổ phách - trợ dung “Kíp n/ổ”.
Thứ hai đổ thạch anh vào chậu gỗ, thêm nam châm loại bỏ sắt, rửa sạch rồi nung.
Cuối cùng thêm natri sunfat ngậm nước, tốt nhất lấy từ Dự Châu để tăng độ trong.
Bình An lẩm bẩm: “Nung pha lê nhiều môn đạo thế.”
Cậu tính toán khi diện kiến thánh thượng sẽ bàn việc sản xuất thủy tinh: Cho dân làm hay lập xưởng mỹ nghệ đ/ộc quyền, liên quan an trí nhà họ Lư.
......
Hồ Học Sĩ mất khí tiết, buông thả mê cờ cá ngựa, đi khoe khắp nơi. Khi người ta bảo ông lấy cờ ra xem, ông không mang theo vì bàn cờ đầy hốc bất tiện, khiến mọi người tò mò.
Ông chẳng quan tâm, khi báo cáo việc học hoàng tử lại khoe trước mặt thánh thượng: “Cờ cá ngựa do Trần Bình An phát minh, bàn cờ gỗ có hốc, quân cờ thủy tinh óng ánh, đẹp mắt thú vị.”
Hoàng đế thích thú. Ai cũng biết Học Sĩ cờ dở, giờ lại nhiệt huyết khoe “cờ cá ngựa” - thứ ngài chưa nghe bao giờ.
Học Sĩ vốn giảng kinh, dễ sa đà, không để ý vẻ đùa của hoàng đế, cứ thẳng thắn: “Cờ này phải tính toán kỹ, tận dụng sai lầm đối phương. Tuy nhỏ nhưng hợp đạo.”
Hoàng đế cười: “Còn ý nghĩa sâu xa nữa!”
Học Sĩ vừa đi, hoàng đế xem tấu, hơi mệt nhắm mắt nghỉ. Ngô công công xoa bóp vai, huyệt Phong Trì, Thái Dương...
“Gọi Bình An đến.”
Bình An biết người thiếu gì lại khoe đó, kẻ cờ dở sẽ khoe mới học trước mặt vua. Nên cậu đã vẽ bàn cờ gỗ tốt, nhờ Lư Sư Phó nung sáu màu mỗi màu mười hạt, đựng hộp gỗ chia ô, chờ dịp dâng lên.
Ngô công công cười: “Đứa bé này khôn lắm!”