Đợi tiếng chiêng trống ngừng hẳn, giọng nói trong trẻo của Trần Diễm vang lên trong ngõ hẻm:
"Chắc hẳn trước khi lên bờ, các quan trong huyện đã nói rõ với mọi người. Tôi xin nhắc lại đôi điều. Từ nay các vị đến Trần gia ngõ hẻm, sẽ là thành viên nơi đây. Cụ lớn mong mọi người dùng sức lao động đổi lấy chỗ ở và cơm ăn, không phải chịu đói rét như trước. Ra đồng làm việc, về nhà nhóm bếp, dệt vải may áo, đệm bông khâu giày. Con cái các vị cũng sẽ được no cơm ấm áo, có mái nhà che đầu như mọi trẻ nhỏ Trần gia."
Đám dân tị nạn im lặng hồi lâu. Họ vừa thoát khỏi lũ lụt k/inh h/oàng, bị quan quân xua đuổi lên thuyền chở đến đây. Những điều Trần Diễm nói nghe xa vời khó tin.
"Tuy nhiên, đến Trần gia ngõ hẻm phải tuân thủ vài quy tắc." Trần Diễm tiếp tục: "Thứ nhất, không được phóng uế bừa bãi; Thứ hai, không ăn đồ sống, uống nước lã, thức ăn mốc hay đồ chuột bọ đụng vào; Thứ ba, nếu sốt, tiêu chảy, đi ngoài ra m/áu phải báo ngay..."
Chờ dân tị nạn gật đầu đồng ý, cô nói tiếp: "Mọi người sẽ theo tổ trưởng vào nhà thờ tổ. Mỗi hộ nhận hai đấu gạo, bốn lạng thịt, thêm gạo mì c/ứu trợ của triều đình đủ dùng vài bữa. Quần áo chăn chiếu phát theo đầu người, phòng ở chia ngẫu nhiên không được đổi. Vào tắm rửa trước, đồ cũ gom đ/ốt ở bãi đất đầu cầu. Chúng ta cùng chung số phận, mong mọi người hòa thuận."
Đám dân nhìn cô gái trẻ nói năng mạch lạc, sắp xếp chu toàn, không hạ thấp phẩm giá họ, khiến họ tin tưởng hơn cả lời quan trên bến.
Chẳng mấy chốc, hơn bốn trăm người xếp hàng theo từng nhóm vào nhà thờ nhận chìa khóa, vật dụng dưới sự hướng dẫn của lũ trẻ.
Trần Diễm luôn dặn dò: Dân tị nạn đến đây không tranh giành cơm áo với ta, mà giúp huyện sửa cầu mở đường khai hoang, lấy sức lao đổi miếng ăn. Không ai được kh/inh rẻ hay b/ắt n/ạt con cái họ.
Với Trần Bình hay b/ắt n/ạt kẻ yếu, cô riêng gặp khuyên bảo đến khi cậu ta khóc lóc hứa sửa đổi. B/ắt n/ạt là bản tính muông thú, nhưng con người biết giáo dục và ràng buộc. Một lần không hiểu thì nói mười lần, đến khi thấu tình đạt lý.
Dân tị nạn nhận gạo thịt, gia vị, theo trẻ đeo băng tay đỏ về phòng sáng sủa sạch sẽ đủ giường bàn ghế. Trên tường dán tranh hướng dẫn đun nước, rửa tay. Mỗi người được phát bình giấm trắng để xông khử trùng phòng.
Bình An cùng Trần Bình lập đội "Diệt bốn hại" tập hợp trẻ lớn bắt ruồi muỗi chuột gián, đổi x/á/c ch*t lấy kẹo ở trường. Trần Kính nhăn mặt khi nhà mình thành điểm tập kết x/á/c côn trùng, nhưng không nỡ dập tắt nhiệt tình của trẻ.
Sau cả ngày bận rộn, người lớn xem xong náo nhiệt, lũ trẻ mệt lả:
"Mẹ bảo trẻ con không có lưng, sao tôi đ/au ê ẩm thế này?" Trần Bình than.
Đan tỷ giải thích: "Nói thế để trẻ đừng uốn éo nhiều, chứ ai chẳng có lưng."
Dân tị nạn cảm động khi được đối xử tử tế khác hẳn nơi khác. Họ cử đại diện đến cảm tạ Trần lão gia. Ông vội né tránh: "Giảm thọ giảm thọ! Tôi có làm gì đâu mà nhận lễ này!"
Chiều tà, ngõ đ/ốt lưu huỳnh với ngải c/ứu. Bình An phủi phủi chạy về nhà, người đầy mùi khói. Triệu thị vừa m/ắng con vừa kéo cậu đi tắm: "Bắt trẻ làm việc quần quật, ốm đ/au thì khóc ai! Trần Bình An, rửa tay mau!"
...
Bốn vạn dân tị nạn không phải ai cũng khỏe mạnh. Người già, trẻ mồ côi, bệ/nh nhân được đưa vào viện dưỡng lão, trại trẻ mồ côi, nhà thương. Người ch*t được ch/ôn cất cẩn thận.
Bốn vạn người đổ về khiến các cơ quan c/ứu tế quá tải. Huyện thiếu thầy th/uốc phải mời lang y nông thôn. Tôn Tri huyện lệnh nghiêm cấm để dị/ch bệ/nh lan truyền hay ai ch*t đói, khiến quan lại vừa làm vừa kêu trời.
Sáng sớm ngày thứ ba, đàn ông đã ra đồng sửa cầu đắp đường. Phụ nữ ở nhà đan giỏ, giặt giũ trông con. Trẻ nhỏ bị gọi về lớp học khi Trần Kính lành chân.
Bình An tưởng sẽ có bạn mới, nhưng trẻ tị nạn không được đi học. Chúng phải phụ việc nhà hoặc trông em, coi như nửa lao động trong gia đình.
Những đứa trẻ nhà họ Trần cũng cảm nhận rõ ràng may mắn khi được sinh ra trong gia đình giàu có ở Giang Nam.
Trần Kính giảng giải cho chúng rằng theo đạo trời, hao tổn nhiều mà bù đắp chẳng đủ. Còn đạo người thì ngược lại, tổn ít mà phụng dưỡng nhiều. Thế đạo vốn chẳng công bằng, nên muốn tiến bộ thì cách tốt nhất là "học giỏi thì làm quan", vừa thỏa chí tang bồng vừa tạo phúc cho con cháu.
Bình An ngây thơ hỏi: "Nhưng Khổng Tử dạy quân tử chẳng tranh danh đoạt lợi, không để mình thành quân cờ cho kẻ khác?"
Trần Kính bật cười: "Đọc kinh thư là để viết văn hay. Xuân Thu tranh bá, chư tử trăm nhà du thuyết khắp nơi - chẳng lẽ chỉ để tiêu khiển?"
Lũ trẻ cười rộ lên, Bình An cũng h/ồn nhiên cười theo.
"Phật vàng trong điện lớn còn tranh nén nhang huống chi người thường." Trần Kính ôn tồn nói tiếp: "Các cháu thấy không cần tranh vì tổ tiên đã tranh thay. Nhưng nếu tổ tiên ngày trước không tranh đấu, cháu chắt giờ đã khốn khổ rồi. Thế nên thế đạo tuy bất công, kỳ thực lại rất công bằng."
Bình An ngẩng mặt nhỏ suy tư.
Trần Kính không biết cậu bé đang nghĩ gì mà nghiêm túc thế. Có lẽ những đứa trẻ được bảo bọc quá kỹ đều cần trải qua quá trình va chạm với đời thực.
Thực ra Bình An đang nghĩ: Quyền lực quan trọng thế, hắn có thể nới lỏng yêu cầu để cha làm quan vừa phải. Vừa dùng hết tài học, vừa làm rạng danh tổ tiên, lại ban ơn cho con cháu. Quan trọng nhất, chưa từng nghe đại gian thần nào chỉ tứ phẩm ngũ phẩm...
Đáng mừng là nam giới họ Trần đang dần thay đổi. Làm việc chăm chỉ, học hành tử tế. Những thói ăn không ngồi rồi dần biến mất. Chỉ mong sau này họ không ỷ thế hiếp đáp đồng hương.
......
Ba tháng sau, tình hình c/ứu tế khắp nơi được báo cáo. Đô Sát viện và Án Sát ty phái người xuống thanh tra.
Từ khi đặt chân lên bến Thịnh Sao, khắp nơi ruộng lúa xanh tươi, nông dân cần mẫn, thuyền bè tấp nập trên sông. Ngư dân hát ca, chim hải âu đậu đầu thuyền phơi nắng, cảnh thái bình thịnh trị.
Ba vị quan đứng ngắm hồi lâu mới gi/ật mình: "Nạn dân đâu? Bốn vạn người đều ở trong thành sao?"
Mang đầy nghi hoặc, họ lên kiệu vào thành, thấy Tôn Tri huyện cùng thuộc hạ đang đứng chờ nơi cổng.
Theo quy chế, quan khảo sát không được tiếp đón xa hoa. Nhưng Tôn Tri huyện quá thực tế - các nơi khác tiếp đón từ bến tàu, ông ta chỉ đợi ở cổng thành. Vì thật sự quá bận, bốn vạn người ăn ở không phải chuyện đùa.
Dẫn các thượng quan vào thành, con đường rộng lát đ/á xanh dọc sông Y Thịnh hiện ra. Nhà cửa san sát, phố xá nhộn nhịp như xưa. Dân chúng áo quần chỉnh tề, không có cảnh ăn xin lam lũ.
Một vị quan không nhịn được: "Tôn Tri huyện đuổi nạn dân đi đâu?"
Tôn Tri huyện mồ hôi nhễ nhại: "Hạ quan phân tán họ vào dân chúng trong thành. Thoạt nhìn khó phân biệt đâu là dân địa phương, đâu là nạn dân."
"Đúng rồi!" Viên quan Án Sát ti gật đầu: "Phương án chẩn tế của Thịnh Sao viết rõ - dùng công thay viện trợ, đổi tiền thuê lấy lương. Nhiều người chê nhưng chú ý niết đài phê chuẩn nên không ai dám dị nghị."
Lòng Tôn Tri huyện càng kính phục chú ý niết đài.
Viên quan vỗ vai ông ta: "Không ngờ thực thi hiệu quả thế. Tôn Tri huyện, quan dám làm như ngươi hiếm lắm."
Tôn Tri huyện cười khiêm tốn: "Hạ quan chẳng cầu công, chỉ mong vô tội mà thôi."
......
Triều đình mới cải nguyên, thiên hạ mừng vui. Lệ thường có thêm Ân Khoa, năm nay lại đúng khoa thi nên thành hai kỳ liên tiếp.
Tin tức khiến giới sĩ tử sôi sục. Hai khoa thi liên tiếp, người trượt không phải đợi ba năm, lại không phải cạnh tranh với cử nhân mới - cơ hội ngàn năm một thuở. Ai nấy đều quyết tâm tranh thủ khoa thi xuân sang năm.
Trần Diễm cũng không ngoại lệ.
Thấm thoắt đã tháng tư, liễu xanh rủ, hoa gấm giăng.
Bình An thay áo mỏng rồi áo xuân, chạy nhảy khắp sân. Trần lão gia tưởng cháu thành công tử đa tài, nào ngờ cậu chẳng màng cầm kỳ. Khi không học, cậu dùng hết tinh lực: trèo cây trả tổ chim khiến chim mẹ hoảng hốt, thả nòng nọc vào hồ khiến cả nhà b/ắt c/óc ba ngày.
Trần lão gia gượng giải thích cóc tượng trưng cho bảng vàng đề danh, là điềm làng, mới c/ứu được cái mông Bình An.
Trần Kính thấy vậy, đặc biệt làm cho cậu bé cây cung nhỏ. Ngày nghỉ lại dẫn đi săn b/ắn, để cậu giải phóng năng lượng, tránh gây họa ở nhà cho người cha đang vùi đầu vào sách vở - kỳ vọng duy nhất của cả họ.