Liễu Y Y những năm gần đây kinh doanh trong kinh thành khá thuận lợi, nhờ có người tốt giúp đỡ.
Dựa vào những mối quen biết trước đây, dù giờ đã có tuổi nhưng bà vẫn đứng vững trong môi trường kinh doanh phức tạp này. Điều này không chỉ nhờ vào bản lĩnh mà còn nhờ sự ủng hộ của những khách quen lâu năm.
Theo lẽ thường, những chuyện tế nhị như thế này Liễu Y Y luôn giữ kín. Nơi đây vốn là chốn tụ tập đủ loại tin đồn, nhưng quy tắc của bà là: khách nói gì kệ khách, khi họ bước ra khỏi cửa, mọi chuyện phải quên sạch để tránh họa vào thân.
Thẩm Giang Lâm là một trường hợp đặc biệt. Khi gặp anh lần đầu, anh còn là một thiếu niên. Lúc đó danh tiếng Liễu Y Y đang lên, là hoa khôi nổi tiếng khắp kinh thành. Dù cách biệt tuổi tác, hai người sau này vẫn có đôi lần giao tình.
Khi bà tiếp quản "Túy Nguyệt Lâu", nơi này đang trên đà suy tàn. Những kỹ nữ sáng giá đều đã theo người giàu có làm thiếp. Trong nghề này, tuổi trẻ là vốn quý. Các bà chủ thường không muốn buông tha những cô gái trẻ đẹp. Muốn chuộc thân? Phải trả cả ngàn lạng bạc trắng.
Đàn ông dù say mê nhưng trước tiền bạc vẫn tính toán kỹ. Họ sẵn sàng bao nuôi vài năm, đợi khi các cô qua độ xuân sắc, nếu còn tình nghĩa thì chuộc về làm thiếp, không thì mặc kệ.
Làm thiếp cũng coi như may mắn. Số phận sau này hoàn toàn phụ thuộc vào chủ nhà. Kém may hơn, những cô không có khách cố định sẽ thành "món chung" cho nhiều người, cuối cùng mắc bệ/nh tật mà ch*t trong đ/au đớn.
Liễu Y Y nhờ tài năng đặc biệt mà tồn tại được trong chốn bùn lầy này. Nhưng chứng kiến bao đồng nghiệp chìm trong biển khổ, năm nào cũng thấy những gương mặt trẻ hơn bị đẩy vào lò lửa, lòng bà quặn đ/au.
Đó là nỗi đ/au chung của nghề, cũng là điều bất lực. Nếu không vì ông chủ trước của "Túy Nguyệt Lâu" phá sản, bà đã không tiếp quản nơi này.
Muốn tạo chỗ dung thân cho các cô gái, chỉ b/án nghệ không b/án thân - việc tưởng dễ mà khó. Ranh giới mỏng manh, kẻ quyền thế thường lạm dụng. Bao năm qua, bà chứng kiến quá nhiều.
Đặc biệt khi "Túy Nguyệt Lâu" sắp đóng cửa, Liễu Y Y đã dốc hết vốn liếng tích cóp cả đời. Nếu không c/ứu vãn, tất cả sẽ cùng đường.
May mắn thay, khi đọc "Cầu Tiên Ký", bà nảy ra ý định chuyển thể thành kịch để biểu diễn tại đây. Tác phẩm đồ sộ này cần được tác giả tự chuyển thể mới trọn vẹn.
Nhờ quen biết với nhà in họ Thẩm, Liễu Y Y tìm được Thẩm Giang Lâm. Lúc đầu bà e ngại vì anh giờ đã là quan lại bận rộn, không còn thời gian viết lách.
Không ngờ Thẩm Giang Lâm không những nhận lời giúp đỡ mà còn khen ngợi ý tưởng của bà. Anh hứa sẽ tự tay chuyển thể kịch bản mà không lấy một đồng. "Liễu cư sĩ muốn giúp những cô gái không nơi nương tựa, tôi chỉ góp chút sức mọn" - câu nói đó bà còn nhớ mãi.
Khi nhận kịch bản dày cộm, bà bất ngờ thấy kèm theo mười tờ ngân phiếu 100 lạng. Liễu Y Y ban đầu lo lắng không biết anh có ý gì khác, vì trong nghề bà đã chứng kiến quá nhiều toan tính.
Nhưng mấy năm qua, "Túy Nguyệt Lâu" nhờ ơn Thẩm Giang Lâm đã thay da đổi thịt, trở thành nơi biểu diễn nghệ thuật đàng hoàng, nuôi sống nhiều người mà không còn bị ứ/c hi*p. Kỳ lạ là ân nhân năm xưa chẳng màng đền đáp, thậm chí không xuất hiện thêm lần nào.
Chính sự vô tư đó khiến Liễu Y Y day dứt. Cuối cùng, bà quyết định viết thư gửi tới phủ Vinh Sao Hầu trong đêm.
Dù biết mình chẳng đáng mặt nào với họ, nhưng làm người không thể vô ơn.
Lúc này, Thẩm Giang Lâm và Tạ Tĩnh Th/ù vừa dùng bữa tối xong, đang dạo bộ trong vườn. Tháng chín hoa quế nồng nàn, hai cây quế trồng trước sân "Thanh Phong Viện" hai năm trước đang độ nở rộ, hương thơm theo gió đêm lan tỏa.
"Đại ca và đại tẩu dự định giữa tháng này về. Em đã nhắn người ra bến đón vào ngày mồng 7 âm lịch, chắc sẽ gặp được." Tạ Tĩnh Th/ù tính toán thời gian.
Thẩm Giang Lâm thở phào: "Chuyến đi hai tháng thật nguy hiểm, may mà anh chị bình an."
Tạ Tĩnh Th/ù từng nghe kể về hiểm nguy ở Hà Nam, những ngày qua luôn thấp thỏm. Nàng chỉ mong cả nhà sớm đoàn tụ, bình yên là trên hết. Nàng ngày càng coi phủ Vinh Sao Hầu là nhà, xem Thẩm Giang Vân và Chung Đỡ Lê như ruột thịt.
Tạ Tĩnh Th/ù có hai người anh chồng và hai chị dâu, nhưng khi cùng ngồi chung một bàn ăn, họ chẳng nói với nhau quá ba câu. Các chị dâu chỉ bàn về quần áo, trang sức hay giày dép, khiến Tạ Tĩnh Th/ù chẳng thể hòa nhập, chỉ biết lặng lẽ ăn cơm.
Dĩ nhiên, họ cũng chẳng bao giờ muốn tiếp nhận thiện ý của nàng.
Trầm Giang Mây và Chuông Đỡ Lê hoàn toàn khác biệt.
Khi Trầm Giang Mây xử lý thuế ruộng đất ở Chiết Giang, anh vẫn gọi nàng đến giúp đỡ. Anh còn nhiều lần khen nàng thông minh lanh lợi, tính toán nhanh hơn cả mình, khiến nàng vô cùng cảm kích.
Điều khiến Tạ Tĩnh Th/ù áy náy hơn cả là cuốn sổ tay Trầm Giang Mây soạn sau cùng không được dùng đến. Anh còn đặc biệt xin lỗi nàng vì để nàng uổng công sức. Việc này khiến Tạ Tĩnh Th/ù kinh hãi thất sắc, liên tục nói "không dám".
Nàng đã vui mừng khôn xiết khi anh cả thấy nàng hữu dụng. Những ngày nhàn rỗi của nàng giờ đây được dùng để học hỏi từ công việc thực tế, quả là niềm vui lớn.
Nhưng chính ở chỗ Trầm Giang Mây, Tạ Tĩnh Th/ù mới cảm nhận được sự tôn trọng thực sự.
Còn Chuông Đỡ Lê đối với nàng đã trở thành một tồn tại không thể thay thế.
Khi đàn ông trong nhà lên nha môn làm việc, người Tạ Tĩnh Th/ù tiếp xúc nhiều nhất chính là Chuông Đỡ Lê.
Ban đầu, Tạ Tĩnh Th/ù không quen giao tiếp. Sau khi phát hiện thư phòng của Trầm Giang Lâm, nàng chỉ biết mỗi ngày đến thăm hỏi bố mẹ chồng. Họ đối xử với nàng nhạt nhẽo - không khó khăn cũng chẳng thân thiết - khiến nàng thở phào nhẹ nhõm, suốt ngày đắm chìm trong sách vở.
Về sau, do cần sắp xếp đồ thêu cưới và đăng ký lại gia nhân, nàng khó tránh phải tiếp xúc với Chuông Đỡ Lê.
Ban đầu, Tạ Tĩnh Th/ù tưởng Chuông Đỡ Lê giống hai chị dâu kia - quý nữ kinh thành xinh đẹp, thông minh, hiểu lễ nghĩa. Nhưng khi thực sự tiếp xúc, nàng mới nhận ra suy nghĩ của mình hẹp hòi biết bao.
Mỗi người mỗi tính, Chuông Đỡ Lê có tính cách và cử chỉ hoàn toàn khác biệt với bất kỳ ai Tạ Tĩnh Th/ù từng gặp.
Chuông Đỡ Lê làm việc gì cũng dứt khoát nhanh chóng. Trong phủ không ai không phục cách quản gia của nàng. Chuyện nô tài lấn lướt chủ nhà? Ở chỗ Chuông Đỡ Lê hoàn toàn không tồn tại.
Tạ Tĩnh Th/ù luôn cảm thấy mình như kẻ lạc loài. Trong thế giới nữ giới nàng tiếp xúc, toàn là những quý nữ gia giáo như mẹ chồng và chị dâu. Đó là lý do nàng sẵn lòng nghe Tạ Quỳnh tâm sự, dù đôi khi thấy những suy nghĩ ấy ngây ngô đến buồn cười. Nhưng ít ra, sự phản kháng của Tạ Quỳnh đôi lúc khiến nàng cảm nhận được chút chân thành.
Nếu nói nàng chỉ khác biệt về tư tưởng, thì Chuông Đỡ Lê chính là người dẫn đường triệt để. Nàng chẳng bận tâm ánh mắt người đời, sống theo ý mình. Có lần đi dự hội quan phu nhân, kẻ kh/inh bỉ cử chỉ Chuông Đỡ Lê đều bị nàng m/ắng cho tơi bời.
Trên đường về, Chuông Đỡ Lê nói với Tạ Tĩnh Th/ù: "Khi người ta chà đạp ta, những kẻ bảo 'đưa má bên kia cho họ t/át' chỉ là nói suông! Phải giải quyết ngay tại chỗ, không được thì ngày nào đó cũng phải tính sổ!"
Tạ Tĩnh Th/ù biết rõ xuất xứ câu nói này - một câu kệ Phật được sùng bái thời bấy giờ: "Nhẫn hắn, để hắn, mặc hắn, vài năm sau nhìn lại." Nhưng Chuông Đỡ Lê lại có thái độ phản đối rõ ràng.
Hơn thế, Chuông Đỡ Lê vô cùng c/ăm gh/ét "Nữ Tứ Thư". Nàng bảo đó là sách rác rưởi nhất đời, tốt nhất đ/ốt sạch cho xong!
Tạ Tĩnh Th/ù từng thấy Chuông Đỡ Lê biểu diễn võ nghệ ngoài sân nhỏ: quyền cước, cưỡi ngựa b/ắn cung, đ/ao thương côn gậy đều tinh thông. Đáng nể hơn là sức lực của nàng. Có lần Tạ Tĩnh Th/ù suýt ngã vì vấp bàn, Chuông Đỡ Lê dễ dàng nhấc bổng nàng đặt xuống chỗ an toàn.
Càng hiểu Chuông Đỡ Lê, Tạ Tĩnh Th/ù càng khâm phục vị chị dâu này. Nếu Trầm Giang Lâm khiến nàng rung động về học thức, thì Chuông Đỡ Lê làm nàng chấn động về tư tưởng và hành động.
Nghĩ tới đó, Tạ Tĩnh Th/ù hào hứng nói: "Giá mà chị dâu về ngay bây giờ, em có thể đưa sách mình viết cho chị xem."
Trầm Giang Lâm lắc đầu bất đắc dĩ. Từ khi Tạ Tĩnh Th/ù chuyên tâm sáng tác, ban đầu nàng viết không thuận, mấy lần nhờ anh nhận xét rồi sửa chữa. Đọc sách đã khó, viết sách còn khó hơn.
May mà Trầm Giang Lâm đủ kiên nhẫn. Cứ nàng muốn học, anh đều cầm tay chỉ dạy: cách tự sự, dựng cảnh, xây dựng tình tiết... từng chút một. Tạ Tĩnh Th/ù cực kỳ thông minh, chỉ nghe một lần đã suy ra ba. Từ bút pháp non nớt ban đầu đến khả năng làm chủ toàn cục, chỉ hơn một tháng sau đã thành thục.
Nhưng Trầm Giang Lâm càng khâm phục sự chăm chỉ của nàng. Người ta tay không rời sách, nàng tay không rời bút. Từ khi quyết định viết sách, anh chưa thấy nàng ngừng bút.
Mấy hôm trước trời nóng gắt, nàng không dám dùng nhiều băng, đành ra lương đình viết. Có lần nghỉ trưa, tóc mai nàng ướt đẫm mồ hôi cũng chẳng lau, mải miết viết. Về sau ngón tay chai sần, nàng chỉ cười bảo Vương mụ đ/ốt chai rồi bôi th/uốc, xong lại tiếp tục.
Vương mụ thì thầm với Trầm Giang Lâm: "Nhị thiếu nãi nãi viết chữ hăng say hơn cả nhị thiếu gia lúc thi Trạng Nguyên!"
Trầm Giang Lâm thầm nghĩ: Đúng thế!
Ban đầu anh còn được xem, nhưng về sau nàng không cho nữa. Nàng bảo nhân vật nữ chính lấy hình mẫu từ chị dâu, phải để chị ấy xem trước. Nếu chị dâu đồng ý, mới cho người ngoài đọc.
Khi bản thảo đầu hoàn thành, sơ bộ đã tới hai mươi vạn chữ. Trầm Giang Lâm kinh ngạc - từ lúc bắt đầu học đến khi viết thực thụ chỉ một tháng. Hai mươi vạn chữ trong một tháng, dùng bút lông viết tay mỗi ngày quả là kỳ tích. Thế mà Tạ Tĩnh Th/ù chẳng thấy mệt, trái lại vui như hội.
Bề ngoài trầm lặng, nhưng nội tâm nàng như có ngàn suối tư tưởng tuôn trào. Trang giấy trắng gánh vác tư tưởng mạnh mẽ và tình cảm mãnh liệt của nàng.
Hai người đang trò chuyện thì người nhà đưa vào một phong thư, nói không rõ ai gửi, chỉ biết gửi cho nhị thiếu gia.
Trầm Giang Lâm nhận thư, trên bì thư đề "Trầm Giang Lâm thân khải" bằng chữ viết mềm mại như của nữ nhi. Chữ có vẻ quen nhưng anh chưa nhớ ra ngay.
Mở thư xem, Trầm Giang Lâm chợt nắm ch/ặt tờ giấy:
"Dương Thủ phụ cùng Nghị Vương mưu kế, có thể gây hại cho nhị thiếu gia, ngàn lần cẩn trọng."
Cuối thư vẽ một chiếc lá liễu.