Lúc này đã gần cuối giờ Dậu, trời tối đen như mực, gió đêm mang theo hơi lạnh. Trên bếp, cơm canh hâm nóng lại lần nữa. Nghe tin phu nhân và thiếu gia đã về, người nhà bắt đầu dọn cơm.
Hiện nay trong huyện nha chỉ có hai vị chủ tử là Thẩm Giang Lâm và Tạ Tĩnh Th/ù. Trước đó Tạ Tĩnh Th/ù đã bàn bạc với Thẩm Giang Lâm: cơm nước chỉ cần ba món mặn, một món canh cùng ít điểm tâm là đủ, quan trọng là món ăn phải tinh tế và đủ dinh dưỡng, nhiều quá chỉ thêm lãng phí.
Thẩm Giang Lâm vốn không phải kẻ xa xỉ, chỉ gật đầu để vợ tự lo liệu.
Hai người rửa tay xong, cầm bát lên ăn. Cả ngày vất vả, bữa trưa chỉ ăn tạm ít điểm tâm, giờ được ngồi thong thả dùng bữa tối, cả hai chẳng buồn nói chuyện. Thẩm Giang Lâm thấy vợ đói, gắp thức ăn bỏ đầy bát cho nàng.
Bữa cơm vừa xong, người hầu dọn dẹp rồi dâng trà lên. Tạ Tĩnh Th/ù nhấp ngụm trà, bảo chồng đợi lát rồi vào thư phòng lấy ra một cuộn bản đồ cùng hai quyển sổ.
- Quan phu quân, thiếp đã dẫn người đi suốt hơn tháng, đối chiếu sổ sách trong huyện chí với thực tế từng hộ dân Hà Dương. Đây là bản đồ thôn xóm thiếp tự vẽ.
Nàng từ từ mở cuộn giấy. Thẩm Giang Lâm vội cất chén trà, lấy khăn lau sạch bàn sợ làm bẩn bản đồ.
Bản đồ hiện ra khiến Thẩm Giang Lâm kinh ngạc. Chi tiết ghi chép tỉ mỉ đến từng công trình: Văn Miếu, phủ nha, nhà lao, cổng thành... đều ghi rõ số phòng, nhân khẩu và kích thước. Đây không chỉ là bản đồ thôn xóm mà chính là toàn cảnh Hà Dương huyện.
Tạ Tĩnh Th/ù chỉ tay lên mấy điểm: - Hiện dân cư tập trung ở hai phố Đông Nguyên Cầu, phố Đông Tây Rào và Chu Gia Phường thành Bắc - tổng cộng 11.423 hộ với 57.113 nhân khẩu. Trong đó có 3.620 người cô đ/ộc, chủ yếu là trẻ mồ côi. Ngoài ra ở khe núi thành Nam còn nhiều người dân tộc sống biệt lập, không tiếp người Hán. Nếu phu quân muốn điều tra thêm, cần phái người tới.
Thẩm Giang Lâm lập tức phát hiện điều bất thường: - Sổ sách huyện ghi dân số hơn tám vạn. Dù cộng thêm người khe núi - nhiều nhất năm ngàn - cũng chỉ hơn sáu vạn hai. Sao ba năm lại hao hụt hai vạn người?
Thời buổi đông con nhiều cháu này, chỉ cần có đất là dân sinh sôi. Con số tám vạn đã là ba năm trước, lẽ ra phải tăng chứ?
Tạ Tĩnh Th/ù thở dài: - Phu quân mải tiếp đãi hào phú và chỉnh đốn nha môn, chưa xuống thôn xem. Dân tình khốn khó lắm! Nhiều người bỏ đi nơi khác ki/ếm ăn nên dân số ngày một giảm.
Nàng kể lại những cảnh tượng đ/au lòng, nước mắt lã chã rơi.
Thì ra khi Thái Tổ đ/á/nh chiếm Vân Nam, đã di dân Hán tới đây và cho quý tộc bản địa làm thổ ty. Ban đầu thuế nhẹ dân yên, ruộng đất mở mang. Dù không bằng Giang Nam nhưng cần cù vẫn đủ sống.
Nhưng thuế má ngày càng nặng, quan lại cấu kết với hào phú. Ruộng ít sản lượng thấp mà sưu cao thuế nặng. Hễ nhà có người đ/au ốm là gia đình lụn bại.
- Ở thành Bắc còn vô số trẻ mồ côi như Thạch Đầu. Chúng ăn nhờ ở đậu, b/án thân hoặc đi ăn mày. Thiếp gặp một nhà hoang vắng. Hàng xóm kể vợ chồng ấy có ba trai hai gái. Mất ruộng phải làm tá điền. Mất mùa không nộp tô, n/ợ chồng chất. Cùng đường phải b/án con. Không còn gì để b/án, hai vợ chồng thắt cổ trên xà nhà...
Tạ Tĩnh Th/ù nghẹn lời, nước mắt chảy dài, phải hít sâu mới nén được lòng.
Thẩm Giang Lâm nghe xong lòng nặng trĩu. Mấy ngày qua tiếp xúc với hào phú, dù Hà Dương nghèo nhưng giới quyền quý vẫn sống xa hoa: lụa Giang Nam, châu báu An Nam... Kẻ giàu vẫn phè phỡn giữa cảnh dân đen khốn khổ.
Nhưng từ chính Tạ Tĩnh Th/ù cho đến mọi chi tiết cô chứng kiến trên đường hôm ấy đều khiến cô thấm thía sự nghèo khó và lạc hậu nơi này, khác xa với nhận định của người dân kinh thành.
Tạ Tĩnh Th/ù lau nước mắt, lấy lại bình tĩnh rồi mới bàn với Thẩm Giang Lâm về kế hoạch của mình: “Vừa rồi phu quân nói chuyện xưởng xà bông thơm đã quyết định xong, thật tốt quá. Việc này sẽ tạo công ăn việc làm cho dân nghèo Hà Dương. Nhưng với những người không đủ sức lao động, thiếp nghĩ vẫn phải dựng lên ‘Từ Ấu Đường’. Trẻ nhỏ cần được dạy chữ, người lớn tuổi cũng có thể làm việc vặt như giặt giũ, nấu nướng. Ta sẽ lo chỗ ở cho họ. Tính sơ bộ cần khoảng 3000 lượng bạc ban đầu. Phần lớn trong đám họ là trẻ mồ côi hoặc bị bỏ rơi. Khi chúng lớn lên, có thể bảo chúng đóng góp trở lại cho ‘Từ Ấu Đường’, như thế mới duy trì lâu dài được.”
Quan phủ không muốn quản, nhưng Tạ Tĩnh Th/ù quyết làm trong khả năng. Cô cùng Thẩm Giang Lâm bàn cải tạo Văn Miếu ở phía tây thành. Văn Miếu vốn là nơi thờ Khổng Tử, được triều đình xây dựng để truyền bá Nho giáo đến vùng xa xôi.
Đây là đề xuất của một văn thần với Mục Tông – vị vua thích xây đền miếu và hào phóng. Nhưng Văn Miếu hoàn thành thì ít người lui tới. Nho giáo chưa thấm sâu, dân trí thấp, ai rảnh đi bái Khổng Tử? Nơi này dần thành hoang phế. Sau vài lần khảo sát, Tạ Tĩnh Th/ù thấy nơi đây rất phù hợp: khu thờ tự có thể làm lớp học, sân sau rộng xây được nhà ở, vừa không phí công xây dựng trước kia.
Tạ Tĩnh Th/ù còn lấy sổ sách ra, cùng Thẩm Giang Lâm tính chi tiết 3000 lượng bạc sẽ dùng vào đâu: xây bao nhiêu phòng, m/ua dụng cụ, vải vóc, thuê thầy giáo, người giúp việc... Cô ước lượng cả chi phí hàng năm, độ tuổi trẻ có thể đi làm, công việc phù hợp và cách hoàn vốn sau này. Cô ghi chép cẩn thận từng khoản, hết sức tâm huyết.
Dưới mắt Thẩm Giang Lâm, đây là bản kế hoạch hoàn chỉnh. Đây là bản thảo đã bị anh gửi trả ba lần, được cô chỉnh sửa kỹ lưỡng. Khi đưa lại, Tạ Tĩnh Th/ù vẫn lo lắng, sợ còn thiếu sót.
Cô nhanh trí thêm vào lý lẽ: “Phu quân vừa nói xưởng xà bông sắp khởi động, nhiều đứa trẻ này có thể trở thành nhân công tương lai. Chúng ta... cần người mà!”
Tạ Tĩnh Th/ù nhấn mạnh ba chữ “cần người” rồi gật đầu dứt khoát.
Thẩm Giang Lâm xem qua bản kế hoạch nhanh chóng – phần lớn nội dung anh đã biết và góp ý. Nghe vợ trình bày, anh ngẩng lên ra hiệu để cô tiếp tục.
“Ở ‘Thẩm Thị tộc học’ trong kinh thành, phu quân cũng dùng cách này đào tạo học trò. Người giỏi khoa cử thì làm quan, không đỗ đạt thì vào cửa hiệu làm quản lý, kế toán. Dạy họ an phận thủ thường. Tới đây, dù bọn trẻ không thân thuộc, nhưng phu quân là quan phụ mẫu, cũng như cha mẹ chúng. Ta có thể áp dụng cách tộc học: đào tạo nhân tài, tuyển chọn người giỏi. Biết đâu có đứa theo nghiệp học hành, hoặc giỏi tính toán, khéo tay chân. Như phu quân thường nói, ai cũng có sở trường riêng, chỉ cần cho cơ hội để họ nhận ra. Huống chi Hà Dương đang cần hồi sinh, xưởng xà bông cần huy động toàn huyện. Khi sản xuất rồi, cần vận chuyển, cần mở cửa hàng khắp nơi... Những việc này đều cần nhân lực. Mà có gì tốt hơn đám trẻ ngây thơ, dễ uốn nắn thành người hữu dụng?”
Tạ Tĩnh Th/ù vừa dứt lời, Thẩm Giang Lâm đã vỗ tay khen. Anh gập bản kế hoạch, không giấu lòng ngợi khen: “Xa nhau ba ngày, phải trố mắt nhìn! Tĩnh Th/ù nghĩ sao mà hợp ý ta thế! Dân Hà Dương dù bỏ đi nhiều, sức lao động không thiếu – tiền ở đâu, người tới đó. Nhưng đào tạo nhân tài không phải chuyện ngày một ngày hai. Trẻ con chính là hy vọng tương lai. Kế hoạch của nàng đã hoàn hảo, cứ thử nghiệm đi!”
Tạ Tĩnh Th/ù nắm ch/ặt chiếc khăn ẩm trong tay, nghe chồng tán thành mà ngỡ ngàng. Cô nín thở giây lát rồi bật đứng dậy, chắp tay nghiêm trang: “Tất không phụ lòng đại nhân!”
Thẩm Giang Lâm tròn mắt trước kiểu hành lễ khác thường của vợ. Vợ chồng nhìn nhau, bật cười.