Nếu không phải Giang thị chủ động nhắc đến, Tạ Thức Huyền suýt quên mình còn có đứa con gái tên Tạ Tĩnh Th/ù.
Tạ Tĩnh Th/ù là kết quả ngoài ý muốn giữa ông và Giang thị. Khi cha Tạ Thức Huyền làm quan ở Nam Kinh - kinh đô thứ hai, hai nhà Tạ - Giang sống cạnh nhau. Tạ Thức Huyền và Giang thị là đôi bạn thanh mai trúc mã, hai nhà sớm đính ước hôn thân. Ông từng hứa với Giang thị sẽ chung thủy một đời, lại chuyên tâm khoa cử. Sau khi thành hôn, hai người hòa thuận kẻ lo việc ngoài người quán xuyến nội trợ.
Chẳng ngờ một lần Tạ Thức Huyền s/ay rư/ợu trở về, Giang thị gh/ét mùi rư/ợu nên bảo nữ tỳ chăm sóc chồng nghỉ tại phòng tây. Đêm đó, ông lầm tưởng nữ tỳ là vợ mình, hai người qua đêm với nhau.
Tạ Thức Huyền nhận lỗi với vợ, vì trách nhiệm đã nhận nữ tỳ làm thiếp. Lúc ấy hai vợ chồng mới sinh hai con trai, hôn nhân đang mặn nồng. Việc này khiến họ xa cách. Nữ tỳ vốn nhút nhát, dung mạo bình thường, từng là người Giang thị mang từ nhà mẹ đẻ sang. Bà muốn tìm chứng cớ nữ tỳ câu dẫn chồng nhưng không được, đành b/án nàng đi xa.
Hai tháng sau, nữ tỳ có th/ai. Mười tháng sau sinh con gái rồi qu/a đ/ời vì băng huyết. Đứa bé ấy chính là Tạ Tĩnh Th/ù.
Giang thị đối xử với Tạ Tĩnh Th/ù không tệ, cho học hành đầy đủ như tiểu thư trong kinh. Nhưng bà chỉ xem đó là việc phải làm, chẳng mảy may quan tâm. Tạ Tĩnh Th/ù đúng như tên gọi, tính tình trầm lặng. Từ nhỏ nàng sống một mình trong viện nhỏ, không bước chân ra ngoài, ngoài khéo léo thêu thùa chỉ biết may áo mừng lễ tết cha mẹ. Trong phủ Tạ, nàng như bóng m/a vô hình.
"Th/ù nương hình như lớn hơn Thẩm Giang Lâm hai tuổi?" Tạ Thức Huyền nhắc đến con gái trong niềm bối rối.
Giang thị khẽ nhếch môi: "Ông muốn tìm rể quý thì gả đứa con gái nào cũng được. Chỉ đừng đụng đến Quỳnh Nương! Ông đã hứa với tôi, hôn sự của nó phải do tôi quyết định!"
Lời ngoài ý của vợ khiến Tạ Thức Huyền ngượng mặt. Bà ta ngụ ý ông sẵn sàng b/án đứng con gái để nịnh hót người khác? Ông nén gi/ận đáp: "Bà đừng hối h/ận là được!"
Giang thị cười lạnh: "Ông yên tâm, không đời nào!"
Một đứa con thứ tiền đồ mờ mịt, bà hối h/ận cái gì? Thiên hạ này trai tài nhiều vô kể. Nếu muốn tìm chồng tốt cho Quỳnh Nương, chờ nàng mười bảy mười tám tuổi chọn tân khoa tiến sĩ nào chẳng được. Nhà mẹ đẻ bà tuy làm thương nhân nhưng giàu có nhiều đời. Nhà chồng có ba đời nhất phẩm đại thần, chồng bà làm quan tam phẩm Thuận Thiên phủ doãn. Hai con trai mười sáu và mười bốn đều đỗ Lẫm sinh. Với gia thế ấy, chẳng lẽ không lo nổi hạnh phúc cho con gái ruột? Đem ngọc quý gả cho con thứ nhà người khác mới thật nực cười!
Hai vợ chồng im lặng chia rẽ. Tạ Thức Huyền vẫn muốn kết thân với Vinh Sáo Hầu phủ, bèn tự mình mời Thẩm Duệ gặp mặt.
Thẩm Duệ đang buồn vì mất bạn hiền, nhận thiếp mời của Thuận Thiên phủ doãn thì sửng sốt. Hai người vốn không quen biết, trước giờ Thẩm Duệ vẫn tránh mặt Tạ Thức Huyền vì ông ta tài cao khó gần. Thoạt đầu Thẩm Duệ tưởng có chuyện chẳng lành.
Thế mà sau một bữa rư/ợu, hai người suýt bái kiến huynh đệ. Thẩm Duệ tâng bốc con gái Tạ gia khiến Tạ Thức Huyền kinh ngạc trước tài ăn nói của hắn.
Thẩm Duệ mừng rỡ khôn xiết. Đây là Tạ gia - danh môn đại tộc có đế sư, có phi tần trong cung! Dù chỉ là con thứ Tạ Thức Huyền nhìn trúng con trai hắn, Thẩm Duệ sẵn sàng gả con ngay tối hôm ấy.
Thế là Trầm Giang Lâm và Tạ Tĩnh Th/ù chưa biết mặt nhau đã được định hôn. Tạ Thức Huyền dặn Thẩm Duệ giữ kín, đợi hai trẻ lớn sẽ làm lễ. Ông vừa lo lắng vừa muốn chu toàn cho con gái thứ.
Thẩm Duệ vâng dạ không dám trái lời. Vinh Sáo Hầu phủ bám được Tạ gia thì lo gì không vững bền trăm năm? Tạ Thức Huyền hài lòng với Thẩm Duệ. Dù hắn làm quan vô tích sự nhưng biết nghe lời, thế là đủ.
Về nhà, Thẩm Duệ chẳng báo với Ngụy thị. Vụ Đàm Tín đã xử xong, Trầm Giang Vân và Trầm Giang Lâm được bồi thường năm trăm lượng bạc. Đàm Tín bị đ/á/nh trăm trượng, tội đ/á/nh người cố ý và trốn tránh xét xử, ph/ạt tù ba năm. Bọn thuê đ/á/nh cũng chịu tội theo.
Khi làm tạ thức huyền ký ra lệnh, Đàm Tín vẫn không tin nổi. Đến lúc thực sự bị đặt nằm trên ghế dài chịu trận đò/n, hắn lập tức kêu la thảm thiết, nước mắt giàn giụa.
Ban đầu Đàm Tín còn cao giọng van xin, nhưng đ/á/nh đến sau cùng thì ngất lịm đi. Khe mông thậm chí loang lổ vết m/áu.
Trầm Giang Mây bị trận đò/n này dọa cho hãi hùng, cúi xuống ghé tai Trầm Giang Lâm thì thào: "Không ch*t chứ?"
Trầm Giang Lâm nhíu mày lắc đầu: "Chắc không đâu. Còn phải ở tù ba năm, người thi hành án biết rõ mức độ nặng nhẹ."
Đánh xong, Đàm Tín bị lôi xuống. Cha hắn khóc lóc vật vã trên đất: "Gia môn bất hạnh a!"
Trầm Giang Mây lòng dạ không yên, lén theo chân hình danh thư lại mấy bước, rút mấy lạng bạc đưa: "Xin hỏi Tống thư lại, người kia không sao chứ?"
Tống thư lại nhận lén bạc, biết vị thiếu gia Thẩm phủ bị dọa, vội an ủi: "Không sao. Nhìn dữ dội vậy thôi, đ/á/nh lúc còn giữ lại đồ lót cho hắn, chỉ là giữ thể diện. Không dám đ/á/nh thật đâu."
Trầm Giang Mây thở phào.
Dù Đàm Tín x/ấu xa, nhưng nếu ch*t vì trận đò/n này, hắn sẽ áy náy khôn ng/uôi.
Tống thư lại cân bạc trên tay, ý tứ nói: "Thẩm tướng công hào phóng thật. Người nhà ngài lúc ấy... giá mà không đợi đến hôm nay mới xử. Thôi, chúc mừng tướng công."
Trầm Giang Mây mặt lạnh, thấy hắn không muốn nói thêm liền cáo từ.
Trên đường về, Trầm Giang Mây gi/ận dữ nói với Trầm Giang Lâm: "Không ngờ Trịnh nãi công là loại người này, uổng ta tin hắn!"
Trịnh Toàn Phúc thân thiết với Trầm Giang Mây - vợ hắn từng là nhũ mẫu của hắn. Năm chín tuổi, bà ch*t vì sợ lây bệ/nh phong, khiến Trầm Giang Mây đ/au khổ. Vì tình nghĩa ấy, hắn luôn đối đãi Trịnh Toàn Phúc tử tế, nhờ vậy hắn leo lên chức quản sự ở Vinh Sao hầu phủ.
Trầm Giang Lâm trầm ngâm: "Tống thư lại hẳn bất mãn với Trịnh quản sự nên mới ly gián. Nhưng ngươi cho hắn tới hai mươi lạng bạc mà dám lén nói thế, chắc thường làm chuyện mờ ám."
"Mẹ đang chỉnh đốn gia phong. Nếu anh quyết, hãy báo mẹ để răn đe."
Trầm Giang Mây do dự lâu rồi gật đầu: "Gia phong bất chính thì sao giữ nhà? Ta sẽ báo mẹ, không thể dung túng nữa!"
Tính hắn vốn nhu nhược, nhưng hơn năm nay trải sự đời đã khiến hắn cứng rắn hơn. Trách nhiệm trưởng nam như gông xiềng, giờ đây thoát khỏi, hắn thấy trời đất rộng lớn, có mục tiêu để vươn lên.
Gần đây, Ngụy thị đuổi mấy môn khách vô dụng, tiết kiệm được khoản lớn. Dù Thẩm Duệ phàn nàn, nhưng bị mẹ chồng quở trách nên im hơi. Bà lần đầu thấy có mẹ chồng che chở thật tốt. Tuy Thẩm Duệ chẳng đến phòng bà nữa, nhưng giờ bà bận cải tổ phủ đệ, lại có Trầm Giang Lâm giúp sức, lòng đầy nhiệt huyết.
Con trai đỗ sinh viên, chín chắn hơn, Ngụy thị càng hăng hái vì con. Đúng lúc Trầm Giang Mây báo việc Trịnh Toàn Phúc, bà liền cho người theo dõi, phát hiện hắn m/ua nhà bí mật, bèn thẳng tay trừng trị.
Giờ Mão hôm sau, trời còn mờ sáng, Ngụy thị tập hợp gia nhân trước hiên, ph/ạt Trịnh Toàn Phúc đ/á/nh trượng rồi đày đi làm khổ dịch ở trang viên. Mọi người run sợ, tưởng sẽ bị thanh trừng. Ai ngờ bà công bố quy định mới "Lương thưởng - Ph/ạt rõ ràng".
Nghe xong, tôi tớ xôn xao:
"Vậy ta cứ làm tốt, lương như cũ, cuối năm còn thêm hai tháng?"
"Phu nhân đã phán, sao dám giả?"
"Trời ơi, tốt hơn trước! Ta tưởng bị ph/ạt chứ!"
"Phải cẩn thận kẻo bị quản sự bắt lỗi."
Quy định mới thực thi suôn sẻ. Tin đến tai Vệ lão phu nhân, bà lần chuỗi niệm Phật - con dâu ngốc này chẳng lẽ khai sáng rồi?
Thấm thoắt hai tháng. Mạnh Chiêu nhậm chức tri huyện hưng Hóa, Dương Châu - vùng đất giàu có. Biết có người giúp, hắn chỉ nghĩ đến Trầm Giang Lâm.
Hai người lại tiễn nhau ở bến tàu. Lần này biệt ly nhiều năm, không rõ ngày tái ngộ. Họ ôm nhau rơi lệ, rồi vẫy tay chia xa.
Một buổi sáng sớm, Trầm Giang Lâm ra bến tàu tiễn Mạnh Chiêu. Hai người trò chuyện thật lâu bên bến nước, đợi đến khi thuyền rời bến. Trầm Giang Lâm đứng nhìn theo bóng bạn xa dần, chợt hiểu vì sao người xưa viết: “Cánh buồm lẻ loi khuất sau trời xanh thẳm, chỉ thấy dòng sông tiếp nối với trời cao”. Câu thơ truyền tải nỗi niềm tiễn biệt thật đúng cảnh đúng tình!
Khi Trầm Giang Lâm về đến Đường phủ đã trưa. Vừa bước qua cổng, chàng liền hướng thẳng phòng khách. Giờ đây chàng ở Đường phủ như nhà mình, ra vào tự nhiên. Tuổi trẻ dễ đói, sáng sớm dậy sớm, giờ bụng đã cồn cào.
Đường Công Mông đang ngồi đọc sách dưới gốc hạnh già trước phòng khách. Lá xanh um tạo bóng mát, từng phiến lá hạnh bạc ánh lên trong nắng, trong suốt như những chiếc quạt nhỏ điểm xuyết trên mái tóc thầy.
Nghe tiếng động, Đường Công Mông không ngẩng mặt, đặt sách xuống vươn vai nói: “Ra sau giếng rửa tay rồi dùng cơm đi.”
Trầm Giang Lâm dạ ran, vội tự múc nước giếng sau vườn rửa tay. Ngẩng lên thấy Chung Thị bưng khay lớn vào phòng khách.
“Để con giúp sư nương!” Trầm Giang Lâm len đến bên bà. Chung Thị cười xua: “Bình tĩnh nào! Hôm nay nấu nồi canh đậu xanh để nước đ/á ướp lạnh, lát nữa hai thầy trò dùng chung bát nhé!”
Chung Thị rất mực yêu bếp. Dù nhà có đầu bếp riêng, bà vẫn thường tự tay nấu nướng. Từ thời trẻ thường ra chợ b/án quà vặt, bà có tay nghề nấu ăn khéo léo, đồ ăn làm ra ngon tuyệt.
Bàn tròn nhỏ bày bốn món một canh: cà chưng đường, cải trắng xào, cá trắm om, thịt viên sốt, cùng bát canh măng chua. Món chính là bánh cuốn - tay nghề đỉnh cao của Chung Thị. Mỗi chiếc bánh nướng giòn rụm bên ngoài, mềm xốp bên trong. Ăn kèm canh chua và thịt viên, Trầm Giang Lâm có thể xơi ba bốn cái to bằng bàn tay một lúc.
Chung Thị tíu tít gắp thức ăn cho chàng, giục ăn thêm. Thấy Trầm Giang Lâm hai tháng cao lớn hẳn, bà thấy thành tựu khôn tả.
Đường Công Mông tuổi cao, ăn nhiều dễ khó tiêu nên Chung Thị chẳng dám ép. Nuôi trẻ thú vị hơn nhiều - ăn vào là lớn.
Từ ngày nhà có thêm đứa trẻ, Chung Thị từ chỗ lạ lẫm giờ đã tìm thấy niềm vui nuôi dưỡng. Ngày trước sinh hai con trai, Đường Công Mông còn là tú tài nghèo, bà vừa lo việc ngoài chợ vừa chăm nhà, đâu rảnh chăm con cầu kỳ?
Sau này dư dả hơn khi chồng làm quan, nhưng các con lại bận đèn sách, thi cử rồi nhậm chức xa nhà. Đến mấy đứa cháu nội ngoại bà cũng chẳng gặp mấy lần.
Giờ có Trầm Giang Lâm - đứa trẻ thông minh lanh lợi như con mình, lại biết chiều lòng người. Hôm trước bà than mắt mờ không khâu được, không ngờ chàng ki/ếm đâu ra cặp kính tròng. Đeo vào thấy rõ hết, vui quá bà reo “Tốt quá!”.
Mắt sáng lại, lúc rảnh bà lại cầm kim chỉ giải khuây. Chiếc áo khoác mới trên người Trầm Giang Lâm chính tay bà may.
Đường Công Mông uống từng ngụm canh đậu xanh, dùng khăn lau miệng rồi bảo: “Ăn xong nghỉ trưa chốc lát, chiều theo thầy ra ngoài.”
Trầm Giang Lâm vừa dùng bữa xong, tò mò: “Thầy ơi, mình đi đâu ạ?”
Hàng ngày chàng chỉ quanh quẩn Đường phủ đọc sách viết văn, chưa theo thầy đi đâu xa.
Đường Công Mông trừng mắt: “Tại cái bút chữ của ngươi! Viết chẳng có khí phách gì. Chẳng thế thầy đâu phải hạ mình đi cầu hắn?”
Trầm Giang Lâm tập viết chữ quán cổ - thể chữ đòi hỏi nét bút đồng nhất, kích cỡ đều tăm tắp. Vốn tính kiên nhẫn, chàng viết được thứ chữ như in. Với khoa cử, thế là đủ.
Nhưng Đường Công Mông kỳ vọng cao hơn. Thầy không muốn học trò chỉ biết mỗi lối chữ cứng nhắc. Giới nho gia giao thiệp, xem chữ biết người. Thi cử dùng chữ quán cổ thì được, nhưng muốn nổi bật phải khổ luyện thư pháp.
Hơn nữa, sau này làm quan, giao du với đồng liêu, người ta phóng bút hành thư lệ thư, mình chẳng biết viết gì sao?
Đường Công Mông từng tự mày mò, thời trẻ khổ luyện chữ nghĩa vất vả. Đến khi đỗ cử nhân mới tìm thầy giỏi học hỏi, tốn bao tiền m/ua tự thiếp danh gia, ngày ngày dậy sớm tập viết đến tối mịt, tay r/un r/ẩy mới thôi.
Khi ấy, mỗi tối Chung Thị lại dùng nước ấm ngâm tay cho thầy, xoa dầu th/uốc giảm mỏi. Ngồi lâu đến nỗi mông chai sần, giờ vẫn thâm đen - chuyện chỉ vợ thầy biết.
Từng trải gian khó nên giờ thầy muốn Trầm Giang Lâm khổ luyện sớm. Chữ viết phải rèn từ nhỏ, để sau khỏi uốn nắn vất vả. Đáng lẽ phải bắt đầu sớm hơn.
Mãi đến hôm qua Đường Công Mông mới thuyết phục được vị danh sư kia. Giả vẻ thản nhiên, thầy dẫn học trò lên xe ngựa ra ngoại ô kinh thành. Ai ngờ suýt bị từ chối, khiến thầy suýt mất mặt!