Khu trường thi ở kinh thành rộng lớn với mặt tiền năm gian, cổng lớn đồ sộ. Thường ngày cổng đóng im ỉm, chỉ mở vào dịp thi Hương và thi Hội. Trên cổng treo tấm biển do chính Hoàng đế khai quốc nhà Đại Chu ngự bút, đủ thấy vẻ vang của nơi này.
Khu trường thi chiếm diện tích ba đầu phố, dân quanh vùng gọi là phố Đông Trường Thi, phố Tây Trường Thi và ngõ Trong Trường Thi. Cổng chính đặt ở phố Đông Trường Thi, giờ đây con phố này chật ních thí sinh đến dự thi Hương, chen chúc tìm người cùng nhóm bảo lãnh. Năm người một tổ, tìm đủ người mới yên vị.
Thẩm Giang Lâm và các bạn đã cử người đến trước dò xét, tìm được chỗ hẹn ước. Chẳng mấy chốc mọi người tụ tập đông đủ. Không chỉ sinh viên họ Thẩm, cả Dương Hồng, Ân Thiếu Dã cũng cùng hạ trường, vừa đủ mười người chia hai tổ.
Thi Hương kiểm tra rất nghiêm. Mọi người xếp hàng lần lượt cởi áo, tháo giày, cả búi tóc cũng phải xõa ra cho giám thị lục soát kỹ càng. Giỏ đồ bị lật đi lật lại, bánh ngọt bẻ vụn, trứng luộc bóc vỏ kiểm tra, đảm bảo không gian lận mới cho vào.
Từ tờ mờ sáng bắt đầu kiểm tra, đến khi mặt trời lên cao mới xong xuôi. May mắn không ai bị phát hiện gian lận, mọi việc khá suôn sẻ.
Thẩm Giang Lâm vội mặc lại quần áo, buộc tóc gọn gàng, xếp hàng theo quan sai tiến vào cổng lớn. Qua cổng thứ nhất còn có cổng thứ hai, rồi đến Long Môn. Người đời ví đỗ đạt như cá chép hóa rồng, từ đó khác thường.
Khi thí sinh vào hết Long Môn, lính gác đóng ch/ặt ba cổng. Trong suốt ba ngày thi, dù có chuyện gì cũng không mở cửa.
Qua Minh Viễn Lâu và Trí Công Đường, quan sai dừng lại. Thẩm Giang Lâm ngẩng nhìn, thở dài – cảnh tượng trước mắt thật hùng vĩ!
Tầm mắt trải dài vô số lều thi san sát, nghe nói kinh thành có hơn chín nghìn lều, sau này thi Hội sẽ đón thí sinh khắp nước. Lần này chỉ thi Hương, triều đình dành một khu vực riêng cho hơn ba nghìn thí sinh.
Mỗi người bốc thăm ghi số lều. Thẩm Giang Lâm mở xem, thấy chữ "Nguyệt" số hai mươi.
Mỗi dãy lều đ/á/nh số theo thiên tự văn: Thiên, Địa, Huyền, Hoàng... Thẩm tìm dãy "Nguyệt", đi vào thấy lều số hai mươi.
Vào lều, đặt giỏ đồ xuống, việc đầu tiên là kiểm tra kỹ lều. Trường thi xây từ thời Cao Tổ, hơn trăm năm qua sửa chữa vài lần, dạo gần đây triều đình túng thiếu nên nhiều chỗ xuống cấp. Nếu gặp lều dột hay có rắn rết, chuột kiến mà không dọn trước, gặp mưa hay bị cắn thì khốn đốn.
Thẩm Giang Lâm xem xét kỹ, thấy mình may mắn: lều không gần nhà xí, còn nguyên vẹn. Hai tấm ván kê viết chữ phẳng phiu, chỉ cần lót thêm giấy là dùng được.
Gật đầu hài lòng, anh thấy ngoài lều có thùng nước và bô có nắp – để giải quyết nhu cầu trong ba ngày thi, vì gần như không được ra ngoài.
Những nho sinh miệng đọc nhân nghĩa đạo đức, giờ đây phải ngồi giữa mùi xú uế, thật nực cười.
May mà Thẩm Giang Lâm đã quen cảnh này. Anh lấy nước thấm khăn, lau sạch ván ngồi, đợi khô rồi lấy bút nghiên ra.
Là người điềm tĩnh, dù có chút hồi hộp trước kỳ thi quan trọng, anh nhanh chóng lấy lại bình tĩnh, ngồi ngay ngắn chờ phát đề.
Mười hai giám thị trong ngoài lần lượt vào trường. Sáu giám thị trong trường tuần tra, sáu người đứng trên Minh Xa Lâu giám sát, ngăn thông đồng. Quan sai đóng ch/ặt các cổng. Ba lớp tường bao kín mít, biến trường thi thành nơi biệt lập. Tất cả người ở đây, kể cả giám thị, đều phải ở lại ba ngày hai đêm.
Chủ khảo kỳ này là Hàn lâm viện học sĩ Tần Chi Huống, anh họ Tần Miễn, vừa thăng chức năm ngoái nên mới được cử làm chủ khảo. Lần đầu đảm trách, ông cẩn thận từng chi tiết, sợ sai sót. Việc lớn này làm tốt thì lợi vô cùng, hỏng việc có thể mất chức.
Phát giấy thi xong, Thẩm Giang Lâm ghi quê quán, tên tuổi. Tiếng trống vang lên, trời đã giờ Tỵ. Quan sai giơ đề thi đi qua, thư lại đọc to đề bài.
Ba ngày thi gồm ba đề Tứ thư, mỗi bài viết trên 200 chữ theo lối bát cổ; bốn đề kinh nghĩa, mỗi bài trên 300 chữ. Tổng bảy bài, ít nhất 2000 chữ. Thời gian gấp, nhiệm vụ nặng, nhất là trận đầu quan trọng.
Thi Hương không kiểm tra thuộc lòng đơn giản mà đòi viết văn, kiểm tra hiểu biết, vận dụng và trau chuốt ngôn từ, khó hơn thi sinh viên.
Hai năm qua dưới sự dạy dỗ của Đường Công, Thẩm Giang Lâm viết vô số bài bát cổ. Gần như mọi điểm thi tiềm năng trong Tứ thư Ngũ kinh đều được Đường Công đưa ra phân tích. Dù chưa viết hết nhưng cách tư duy đã nhuần nhuyễn.
Hơn nữa, bản thân Đường Công từng hai lần làm chủ khảo, nên cách ông chọn đề có chỗ đặc biệt. Điều này thể hiện rõ khi Thẩm Giang Lâm thấy đề Tứ thư thứ nhất và thứ hai – đúng đề Đường Công từng nhắc. Đề thứ hai càng quen thuộc, Thẩm đã viết một bài được Đường Công sửa kỹ.
Nếu là người khác, có lẽ vì thời gian đã lâu nên quên đi, nhưng Trầm Giang Lâm là ai? Một người từng có khả năng đọc qua một lần là nhớ, có thể lập tức thuật lại toàn bộ bài văn đó.
Đề đầu tiên tuy hắn chưa từng làm qua, nhưng cách mở đề, góc độ viết, những điểm cần lưu ý đều đã bàn luận với sư phụ. Giờ viết ra, khung xươ/ng đã thành, chỉ cần thêm thịt da vào.
Trầm Giang Lâm xắn tay áo, cầm nghiên mực, đổ chút nước vào rồi chậm rãi mài. Cầm bút chấm mực, dừng lại chốc lát, chàng thiếu niên ngồi thẳng lưng, bắt đầu viết lưu loát.
Hắn chìm vào bài thi, quên hết xung quanh. Bài văn trong lòng đã thành hình, từng chữ tuôn ra đầu bút tự nhiên. Thêm nữa, chữ hắn viết rất đẹp. Dù cùng lối chữ khoa trương như hai năm trước, nhưng giờ mỗi nét đều hoàn hảo, mỗi câu đều có sức hút riêng. Chỉ nhìn chữ thôi cũng đủ khiến người ta thán phục.
Đúng là danh sư xuất cao đồ.
Khi giám khảo đi qua, thấy thiếu niên tuấn tú đang viết bài, chữ lại xuất sắc, đều gật đầu hài lòng, dừng lại xem. Nhưng Trầm Giang Lâm không để ý, càng khiến họ đ/á/nh giá cao tâm tính. Dù còn trẻ nhưng vững vàng hơn nhiều thí sinh ba bốn mươi tuổi đang r/un r/ẩy, mồ hôi lạnh đầm đìa.
Trầm Giang Lâm viết một mạch hai bài văn, kiểm tra kỹ trên giấy nháp, đảm bảo không có từ ngữ cần kiêng kỵ, dùng từ chuẩn x/á/c rồi mới đặt bút xuống, xoa cánh tay mỏi nhừ.
Ngửi thấy mùi cơm, ngẩng đầu thấy trời đã trưa. Không ngờ mình viết suốt hơn một canh giờ. Sáng dậy sớm, dồn hết tâm trí vào bài thi, giờ bụng đói cồn cào. Hắn cẩn thận thu bút mực, giấy tờ vào túi giấy dầu, để vào giỏ thi.
Đây là lời dặn của Đường công: Trong trường thi tuyệt đối không được sơ suất, nhất là khi ăn phải gói kỹ bài thi và giấy nháp. Ông từng thấy nhiều thí sinh vì lơ đễnh làm bẩn giấy thi, dù bài tốt cũng không được chấm.
Thu dọn xong, Trầm Giang Lâm lấy từ giỏ ra một lò đồng nhỏ và hộp đồng. Đổ chút chất lỏng trong suốt vào, đặt sợi bông lên, châm lửa là xong. Đây là rư/ợu cồn do tỷ phu tương lai chế theo gợi ý của hắn, cất trong ống trúc. Giám thị ngửi thấy mùi rư/ợu, nhìn hắn ngạc nhiên nhưng không nói gì, xoay nắp trả lại.
Trong lò đồng đổ nước, đun sôi, hắn bỏ mì sợi vào, thêm rau củ khô thái nhỏ, tráng qua nước sôi rồi vớt ra. Đập thêm trứng gà, đậy nắp hầm chút là xong. Mì tự có vị mặn, không cần nêm thêm. Sợi mì dai, rau giòn, trứng bổ dưỡng - bữa trưa đơn giản mà đủ chất.
Đây là mì Chung thị làm giúp, làm nhiều nên Trầm Giang Lâm chia cho học sinh Thẩm gia. Ăn tô mì, hắn nghĩ chắc các huynh đệ cũng đang dùng bữa. Đồ ăn dễ bảo quản, ba ngày thi đủ no bụng, lại có canh nóng, không sợ hỏng.
Thí sinh đối diện tròn mắt nhìn Trầm Giang Lâm bày lò nhỏ. Cái hộp đồng kia chỉ đổ chút chất lỏng mà ch/áy lâu thế! Là thứ gì vậy? Hắn nhìn bánh cuốn ng/uội lạnh trong tay, bỗng thấy khó nuốt.
Nhiều người cũng muốn hâm nóng đồ ăn, nhưng sợ đ/ốt than gây khói lửa, ch/áy lều thi thì nguy. Sao tên này làm dễ thế? Thấy Trầm Giang Lâm đậy nắp dập lửa, rửa nồi đũa rồi gói vào vải sạch, họ chỉ biết thèm thuồng.
Trầm Giang Lâm ăn xong, đứng lên vươn vai trong lều. Chỗ hẹp nên chỉ xoay người được chút. Hắn đứng nghỉ chừng một nén hương, thấy thức ăn tiêu bớt, liền hạ tấm ván viết chữ xuống, trải thảm lên rồi cuộn người nghỉ trưa.
Ngủ trưa là thói quen của hắn. Chợp mắt nửa canh giờ, tỉnh dậy đầu óc sảng khoái, làm việc hiệu quả hơn.
Thí sinh đối diện trợn mắt nhìn hắn ngủ say. Đây thi cử hay đi chơi? Thoải mái như ở nhà! Nhiều người chán nản, thu dọn đồ ăn, mở bài thi ra tiếp tục làm.
Thời gian ba ngày, nhưng hôm nay vào trường đã gần trưa, trưa ngày thứ ba thu bài, tính ra chỉ hai ngày hai đêm. Không tập trung, gặp đề khó suy nghĩ lâu, dễ không kịp làm. Nhiều người thầm cười kh/inh: Trầm Giang Lâm còn trẻ ngông cuồ/ng, chắc lần đầu thi, chưa biết khổ. Đến lúc không kịp, van xin giám khảo thêm thời gian thì hài lắm!
Trầm Giang Lâm ngủ chưa đầy nửa canh giờ đã tỉnh. Thực ra hắn không ngủ sâu, chỉ nhắm mắt thư giãn mắt và n/ão. Nghỉ ngơi chút là đủ.
Trầm Giang Lâm lấy khăn lau mặt, rồi lại đặt giấy nháp cùng giấy làm bài lên bàn gỗ. Đầu tiên, cậu chép hai đề bài đã giải trưa nay từ nháp sang giấy thi, sau đó mới bắt đầu đọc đề thứ ba.
“Trung lập mà không dựa vào đâu, kiên cường thay cái đạo nghĩa ấy”.
Câu này trích từ sách Trung Dung trong Tứ Thư, ý nghĩa là giữ vững thái độ trung lập không thiên lệch mới thật sự là kiên cường!
Ý tứ phân tích thì dễ, nhưng căn cứ vào đề bài này để viết thành bài văn thì phải suy nghĩ thật kỹ.
Đề bài này, thực ra Trầm Giang Lâm và Đường Công Mông đã từng bàn qua. Cậu cũng có cách phá đề, nhưng trước đây khi thảo luận, mới chỉ là lúc Đường Công Mông hướng dẫn cậu đọc Tứ Thư. Giờ đây thời thế đổi thay, hoàn cảnh đã khác.
Học hành khoa cử không thể chỉ học vẹt. Ngoài kiến thức trong sách vở, còn phải quan tâm đến thời sự chính trị của đất nước. Bằng không, một ngày làm quan, cũng chỉ như kẻ m/ù tịt, chẳng hiểu gì cả.
Đến lúc đó mới học từ đầu, ai sẽ chờ đợi?
Cấp trên liệu có chờ cậu học xong mới giao việc? Hay dân chúng nhẫn nại đợi cậu thấu hiểu mới ban bố chính lệnh?
Rõ ràng chỉ học vẹt là không đủ.
Vì thế, Đường Công Mông thường đem các bản công báo từng kỳ cho Trầm Giang Lâm phân tích. Không chỉ tình hình triều đình, qu/an h/ệ các phe phái, mà cả chính sách đối nội đối ngoại cùng thái độ của các phe. Nhờ có Đường Công Mông - vị quan lớn vừa về hưu - mọi thứ tưởng như m/ù mờ với người khác lại được ông giảng giải cặn kẽ, tường tận.
Gần đây, triều đình đang xôn xao việc có nên dùng binh với các bộ lạc Mông Cổ.
Chuyện này liên quan đôi chút đến Vinh Sao Hầu phủ.
Trước kia, anh trai Thẩm Duệ và cha cậu từng là tướng trấn thủ phương Bắc, lần lượt giữ chức Tổng binh Đại Đồng và Tuyên Phủ. Đặc biệt là Thẩm Gió - anh trai Thẩm Duệ - nổi tiếng dũng mãnh, nhiều lần khiến các bộ Mông Cổ vốn đã đoàn kết lại tan rã, không còn đe dọa được triều đình Đại Chu. Biên cương nhờ đó yên ổn.
Thế nhưng, vị tướng trẻ này trong một trận đ/á/nh với bộ lạc Thát Đát đã sa vào mai phục, dẫn đến toàn quân hơn vạn người bị vây khốn. Dù chiến đấu dũng cảm, Thẩm Gió vẫn hi sinh nơi sa trường.
Chính vì chuyện cũ này, Vinh Sao Công phủ thành Vinh Sao Hầu phủ. Vệ lão phu nhân cởi trang phục nhất phẩm, khoác tăng bào, tịnh tâm ở Tĩnh An viện, ăn chay niệm Phật cầu siêu cho chồng và con trai cả.
Trầm Giang Lâm không rõ nội tình, nhưng thực tế là từ sau chiến thắng đó, bộ lạc Thát Đát ngày càng lớn mạnh, thu phục nhiều bộ lạc Mông Cổ. Triều Đại Chu mấy năm nay thiên tai liên miên, lo chưa xong thân lại càng khiến chúng có cơ hội phục hồi.
Mùa đông năm ngoái, tuyết lớn triền miên đến tận đầu xuân, thảo nguyên khô cằn, trâu ngựa ch*t rét vô số. Thát Đát lại kéo quân cư/ớp phá biên trấn, dân chúng bị vơ vét sạch sẽ.
Ban đầu, tướng lĩnh biên ải còn tìm cách che giấu. Đến tháng năm, Thiên hộ Phùng Thành liều ch*t đưa tin vào kinh. Tin tức như giọt nước rơi vào chảo dầu, gây chấn động.
Đại Chu thái bình hơn chục năm, lâu không nghe chinh chiến. Trước đây dù có xung đột với các bộ Mông Cổ cũng chỉ là giao tranh nhỏ. Nhưng lần này sau mùa xuân, chúng thẳng tay tàn sát. Theo mật báo của vị Thiên hộ, một huyện trọng yếu nơi biên ải gần như bị xóa sổ: hơn nghìn nam tử bị gi*t, nữ tử bắt đi biệt tích.
Với quan lại triều đình, vài nghìn hay vài vạn dân ch*t cũng chẳng đáng bận tâm - dân số Đại Chu vốn đông. Nhưng việc quân Thát Đát tự do ra vào nơi trọng trấn như chốn không người khiến ai nấy rùng mình.
Ngay cả Vĩnh Gia Đế cũng nổi trận lôi đình, quở trách cả triều, đ/ập vỡ nghiên mực trên ngự án. Thái Hòa điện ch*t lặng, ngay cả mấy vị Các lão trong nội các cũng không dám đỡ lửa gi/ận của hoàng đế.
Đúng là họ đã thất trách.
Sự tình cần giải quyết, nhưng cách nào? Hòa hay chiến? Triều đình tranh cãi mãi vẫn chưa ngã ngũ.
Nhìn đề bài trước mặt, Trầm Giang Lâm không khỏi liên tưởng sự việc này.
Giữ vững trung lập không thiên lệch mới thật sự kiên cường.
Hẳn người ra đề thuộc phe chủ hòa.
Viết bài văn chiều theo ý người ra đề với Trầm Giang Lâm không khó - giờ cậu hoàn toàn có đủ năng lực.
Nhưng liệu cậu có thể?
Nghĩ đến vị đại bá chưa từng gặp - người bị coi là điều cấm kỵ ở Vinh Sao Hầu phủ. Nếu biết hậu duệ Thẩm gia viết bài phụ họa “chủ hòa”, không rõ cụ sẽ gi/ận thế nào?
Nghe nói vị đại bá này cả đời chinh chiến, đến ch*t cũng nơi sa trường. Khi đó, tiểu vương Thát Đát mấy lần chiêu hàng, mở đường sống nhưng cụ vẫn chọn chiến đấu đến cùng.
Trầm Giang Lâm lại nghĩ đến hàng nghìn nam tử biên trấn bị ch/ôn sống, những người con gái bị bắt đi không rõ số phận, những đứa trẻ mồ côi trong chớp mắt. Cậu không thể hạ bút viết những lời ấy.
Nhắm mắt tĩnh tâm giây lát, Trầm Giang Lâm mỉm cười với tờ giấy nháp rồi cầm bút viết.
Viết đến khi trời tối mịt, cậu buông bút mới nhận ra đã dành cả buổi chiều cho bài văn này.
Quan sai bắt đầu phát nến, mỗi phòng hai cây cho thí sinh làm bài đêm.
Khi Trầm Giang Lâm nhận nến, trời đã tối hẳn. Gió đêm thổi mạnh dần. Chưa kịp nhận ra thời tiết đổi thay, đã nghe tiếng ai đó hô lớn: “Không tốt rồi!”
Trời đổ mưa như trút, hạt lớn như hạt đậu!