Giọng vị ni cô già khô khốc.
"Chồng bà ấy là một kẻ nghiện c/ờ b/ạc, làm tan nát cả gia sản.
Nghe tin quan phường treo thưởng lớn để tìm phương pháp làm buồm mới, hắn liền ép bà phải giao ra.
Bà Chu không chịu, nói đó là kế sinh nhai duy nhất của mình.
Hắn bèn đá/nh đ/ập bà, đá/nh đến mức tà/n nh/ẫn, bà đành mang con chạy trốn trong đêm."
"Bà ấy chạy một mạch tới Ngô Châu, ẩn danh mai danh, sống bằng nghề vá buồm thuê."
"Khi mẹ con tìm thấy bà ấy, bà đã ốm rất nặng.
Sau khi kể phương pháp đó cho mẹ con, chỉ vài tháng sau bà đã qu/a đ/ời.
Số bạc mẹ con để lại đã giúp con gái bà được đi học vài năm, sau đó gả cho một thợ đóng tàu thật thà."
Vị ni cô nhìn tôi: "Mẹ con là người có tấm lòng lương thiện.
Trước khi ch*t, bà Chu nói, phương pháp này cuối cùng cũng không bị gã chồng khốn kiếp kia chà đạp, mà được truyền cho một người phụ nữ hiểu rõ giá trị của nó, thế là đáng rồi."
Cổ họng tôi nghẹn đắng: "Vậy... con gái bà ấy có biết phương pháp này không?"
Vị ni cô lắc đầu: "Con gái bà ấy không học cái này.
Cuốn sổ mẹ con chép lại, có lẽ chính là bản ghi chép duy nhất trên đời này rồi."
5
Khi rời khỏi am, ánh hoàng hôn đỏ như m/áu.
Tôi nắm ch/ặt cuốn sổ chép phương pháp nối buồm song vĩ trong tay áo, cảm thấy nó nặng tựa ngàn cân.
Nó không chỉ là một kỹ nghệ, mà là tôn nghiêm của một người phụ nữ được bảo vệ trong tuyệt cảnh, là ngọn lửa hồng mẹ đã truyền lại sau vạn dặm đường xa.
Giờ đây, nó lại đ/è nặng lên đôi tay tôi.
Những câu chuyện tương tự, tôi bắt đầu nghe thấy nhiều hơn.
Từ lời tán gẫu của một ông chủ tiệm th/uốc cũ, tôi chắp vá được hình ảnh người con gái người Miêu tên A Nhược giỏi trị b/ệnh chướng khí.
Sau này vì từ chối lời cầu hôn của thổ ty, cô bị vu oan dùng cổ đ/ộc, trốn vào rừng sâu không rõ tung tích.
Từ lời thở dài sau cơn say của một vị lão hàn lâm đã về hưu, tôi biết được một nữ toán học gia thời tiền triều.
Tác phẩm của bà bị anh trai mạo danh xuất bản, còn bản thân bà thì bị gia tộc giam cầm đến ch*t dưới danh nghĩa "tĩnh dưỡng".
Đằng sau mỗi cái tên là một cuộc đời bị ngh/iền n/át, một tia tài hoa bị thổi tan.
Họ giống như những dấu chấm trong sổ tay của mẹ.
Lẻ loi rải rác bên lề lịch sử hoang vu, lặng lẽ tồn tại rồi lặng lẽ biến mất.
Còn tôi, khi thu thập những mảnh vỡ tinh tú này, một ý niệm ngày càng rõ ràng, ngày càng ch/áy bỏng:
Tôi muốn viết lại câu chuyện của mẹ, và câu chuyện của những người phụ nữ này!
Không phải để giấu trong rương, mà là thực sự viết lại một cách có hệ thống.
Để những sinh mệnh như "dòng ngầm" này có cơ hội nhìn thấy ánh mặt trời, dù chỉ là một tia sáng yếu ớt nhất.
Tôi biết điều này rất khó, gần như là vọng tưởng.
Nhưng tôi không thể dừng lại.
Nét chữ trên chiếc vòng ngọc của mẹ, gương mặt của những người phụ nữ đã tan biến trong thời gian.
Cả sự thôi thúc cuộn trào trong lồng ngựk vượt lên trên cả nỗi sợ hãi, đều đang đẩy tôi tiến về phía trước.
Tôi đặt tên cho cuốn sách mình sắp viết là "Phục Lưu Tập".
Ý nghĩa là: Dòng nước chảy ngầm dưới đất, cuối cùng sẽ có ngày phá đất mà tuôn trào.
Tôi bắt đầu bí mật viết "Phục Lưu Tập".
Địa điểm chính là Chẩm Hà Các.
Khi đêm khuya vắng lặng, cửa sổ được che bằng thảm dày để giấu ánh đèn.
Tôi viết về cuộc đời mẹ, viết về sự thật đằng sau những "du ký" của bà, viết về ý nghĩa của những ký hiệu và con số mà tôi đã giải mã.
Sau đó, là những sự tích về những người phụ nữ trong ghi chú của mẹ hoặc từ những chuyến tìm ki/ếm gian nan của tôi.
Viết về kỹ nghệ của họ, sự đấu tranh của họ, sự tịch diệt của họ, và cả sự kiên trì vẫn còn tỏa sáng của họ.
Lời văn bình dị, không tô vẽ, chỉ cầu sự chính x/ác.
Tôi sợ những câu chữ quá trau chuốt sẽ làm mờ đi gương mặt thật của họ.
Trong thời gian này, kẻ th/ù chính trị của cha dường như đã nắm được thóp của ông, tình thế trong triều rất tinh vi.
Sau khi về phủ, cha luôn nhíu mày, tính khí cũng trở nên nóng nảy hơn nhiều.
Cuộc hôn nhân của tôi tạm thời bị gác lại, điều này ngược lại cho tôi thêm thời gian.
Nhưng tôi vẫn quá ngây thơ, đá/nh giá thấp tai mắt trong phủ, cũng đá/nh giá thấp những rủi ro mà việc này có thể mang lại.
Đầu tiên là cô hầu thân cận A Túc, một ngày nọ khi dọn phòng đã vô tình nhìn thấy một trang bản thảo tôi chưa kịp cất.
Cô không biết nhiều chữ, nhưng lại nhận ra các từ như "triều đình", "dư đồ", sợ đến mức mặt c/ắt không còn giọt m/áu.
"Tiểu thư, đây... đây là thứ có thể viết sao?" giọng cô r/un r/ẩy.
Tôi an ủi cô, chỉ nói đó là tâm đắc khi nghiên c/ứu du ký của mẹ.
A Túc tuy không hỏi thêm, nhưng trong ánh mắt đã ẩn chứa sự lo âu.
Tiếp đó là lần cha đột ngột đến Chẩm Hà Các.
Lúc đó tôi đang sao chép bức hình pháo đài vùng Tây Bắc do mẹ vẽ, bên cạnh rải rác vài tờ nháp ghi chú những con số.
Cha cầm tờ nháp lên xem, đó là những phép tính về khoảng cách tầm nhìn giữa các pháo đài.
"Con xem những thứ này làm gì?" ông hỏi, ánh mắt sắc lẹm.
Tim tôi đ/ập như trống bỏi, cố giữ bình tĩnh:
"Đọc du ký của mẹ, thấy trong đó có nhiều ghi chép loại này.
Trong lòng tò mò nên thử tính toán xem, cũng không biết đúng sai.
Nghĩ rằng... có lẽ có thể giúp cha chia sẻ nỗi lo một chút?"
Tôi ngước mắt, cố gắng tỏ ra ngây thơ và sùng bái.
Cha nhìn chằm chằm tôi hồi lâu, ánh mắt như muốn xuyên thấu da th!t, nhìn thấy bí mật đang cuộn trào trong lòng tôi.
Cuối cùng, ông đặt tờ giấy xuống, thản nhiên nói:
"Nữ tử lấy trinh tĩnh làm trọng, những tạp học này không phải thứ con nên bận tâm.
Hãy dành tâm trí cho nữ công gia chánh đi."
Sau khi ông rời đi, lưng tôi đã ướt đẫm mồ hôi lạnh.
Tôi biết, ông đã nghi ngờ.
6
Nhưng tôi không thể dừng lại.
Việc viết "Phục Lưu Tập" không còn chỉ vì mẹ hay những người phụ nữ kia nữa.
Nó đã trở thành một phần sinh mệnh của tôi, một cách để hít thở.
Trong khi viết, tôi cảm nhận được sự tự do kỳ lạ, như thể tôi cũng đang theo bước chân mẹ.
Thoát khỏi những bức tường cao ngất, nhìn thấy non sông rộng lớn hơn, chạm vào những sinh mệnh kiên cường và tươi sống kia.
Tôi đẩy nhanh tiến độ, cũng cẩn thận hơn.
Phần đã chép xong được tôi giấu dưới một miếng ván sàn lỏng lẻo trên gác.
Nhưng nguy hiểm vẫn ập đến.
Đó là một đêm mưa thu tầm tã.
Cha bị triệu gấp vào cung.
Trong phủ tĩnh lặng, chỉ có tiếng mưa rơi trên lá chuối.
Tôi đang cúi đầu viết, cửa đột nhiên bị tông mạnh.
Người xông vào là quản gia và vài bà mụ với ánh mắt lạnh lùng.
Cha đứng sau lưng họ với khuôn mặt xanh mét.
"Khám!" giọng cha như bị tẩm đ/ộc.
Tôi thậm chí không kịp che đậy, bản thảo bị lôi ra từ những khe hở nhỏ, chất đống trước mặt cha.
Ông tiện tay cầm lấy vài trang, càng xem sắc mặt càng âm trầm.
Cuối cùng từ trắng bệch chuyển sang đỏ gay vì gi/ận dữ.
"Nghịch tử!"
Ông t/át mạnh vào mặt tôi, mắt tôi tối sầm lại, ngã xuống đất.
"Mày... mày dám tự viết những lời xằng bậy, dòm ngó việc triều đình, còn dám... còn dám ghi lại những kỹ thuật yêu thuật của đám đàn bà kia vào sách!
Mày muốn h/ủy ho/ại tao sao!"
Đám bà mụ th/ô b/ạo xốc tôi lên.
A Túc khóc lóc muốn lao đến, bị đ/á văng ra xa.
"Cha! Con không viết xằng bậy! Những điều này đều là thật! Mẹ bà ấy..."
"C/âm miệng!" cha quát lớn, lồng ngựk phập phồng dữ dội.
"Chuyện của mẹ mày, không đến lượt mày nói!
Nh/ốt nó vào hậu viện từ đường, không lệnh của ta, không ai được gặp!
Những thứ... những thứ yêu ngôn hoặc chúng này, đ/ốt sạch hết cho ta!"
"Không--!"
Tôi nhìn đám bà mụ ôm lấy tâm huyết bao đêm của mình đi về phía chậu than, phát ra tiếng khóc thê lương.
Tôi muốn lao tới nhưng bị đ/è ch/ặt.
Giấy bị ném vào lửa.
Lưỡi lửa li/ếm láp những dòng mực, nuốt chửng những cái tên và câu chuyện.
Cả những ký ức và kỹ nghệ được bảo tồn cẩn thận.
Khói đặc bốc lên, mang theo mùi khét, giống như ngày mẹ được hạ táng.
Tôi nằm liệt trên đất, nhìn ngọn lửa nhảy múa.
Như thể đang nhìn mẹ, nhìn A Nhược, nhìn bà Chu, nhìn vô số người phụ nữ lặng lẽ, một lần nữa hóa thành tro bụi trong lửa.
Thế giới tối sầm lại trước mắt tôi.
7
Tôi bị giam trong một căn buồng nhỏ hẹp, ẩm thấp ở hậu viện từ đường.
Ngoài cửa ngày đêm có người canh gác.
Cha đã đến một lần, cách cánh cửa:
"Nhà họ Vương đã từ hôn rồi. Việc thăng tiến của anh mày trong triều cũng bị ảnh hưởng."
Con có biết sự tùy hứng của con đã gây ra tai họa lớn thế nào không?
Ngự sử đã nghe phong thanh mà hạch tội ta quản gia không nghiêm, để con gái làm càn.
Nội dung trong sách đó, nếu truyền ra ngoài, chính là họa sát thân!"
"Con không làm càn!"
Tôi lao ra cửa, giọng khản đặc.
"Cha, mẹ đã làm bao nhiêu việc cho cha, cho cái nhà này!
Những người phụ nữ đó, họ cũng có tài trí, có m/áu và nước mắt!
Tại sao không thể để lại một chút dấu vết nào?
Tại sao!"
Ngoài cửa im lặng hồi lâu, truyền đến giọng cha lạnh lùng hơn:
"Nữ tử vô tài là đức."
Mẹ mày... có chút khôn vặt, đó cũng là vì gia kế.
Còn những thứ khác, đều là mạt lưu, không đáng nhắc tới.
Con hãy tự kiểm điểm đi, nếu còn mê muội không tỉnh..."
Ông không nói tiếp, nhưng hơi lạnh trong lời nói khiến tôi r/un r/ẩy.
Kiểm điểm?
Tôi kiểm điểm lỗi gì?
Kiểm điểm việc tôi cố gắng ghi nhớ những điều không nên nhớ?
Kiểm điểm việc tôi cố gắng lưu lại bằng chứng tồn tại cho những người không nên tồn tại?
Tôi bắt đầu nghi ngờ tất cả mọi thứ của mình.
Sự kiên trì của tôi có ý nghĩa không?
Mẹ trả giá tất cả, cuối cùng nhận lại là sự kh/inh miệt của chồng và di vật bị th/iêu rụi.
Tôi cố gắng kế thừa di nguyện của bà, lại liên lụy gia tộc, ch/ôn vùi nhân duyên của mình, những bản thảo kia cũng hóa thành hư không.
Có lẽ cha đúng, nữ tử nên an phận thủ thường.
Biển ngoài núi, chuyện của người khác, vốn dĩ không phải thứ tôi nên nhìn, nên nhớ.
Tôi tuyệt thực.
Không phải để kháng cự, mà là cảm thấy mọi thứ đều vô vị.
Ngay khi ý thức tôi mơ hồ, một bà lão c/âm chuyên đưa cơm lặng lẽ dúi vào tay tôi một gói giấy dầu.
Bên trong là vài miếng điểm tâm, và một mảnh giấy nhỏ gấp kỹ.
Trên giấy chỉ có một dòng chữ lạ.
Dùng mật ngữ ký hiệu giống trong du ký của mẹ, nhưng tôi mơ hồ nhận ra ý nghĩa:
"Giữ lấy mạng sống, ngọn lửa mới có thể truyền đi.
Chùa Vĩnh Tế phía nam thành, gốc cây hòe thứ ba sau điện Dược Sư."
Giấy không ký tên.
Nhưng tôi lập tức nghĩ đến những người phụ nữ tình cờ gặp gỡ trong ghi chú của mẹ, nghĩ đến "người có tấm lòng lương thiện" mà ni cô già đã nói.
Là người mẹ quen biết ngày xưa?
Hay là hậu nhân của một người phụ nữ nào đó tôi từng ghi chép?
Ý chí sống sót, như một đốm lửa yếu ớt trong tro tàn, lại bùng lên.
Tôi không thể ch*t.
Bản thảo của mẹ tuy bị th/iêu, nhưng những câu chuyện đó vẫn còn trong đầu tôi.
Gương mặt của những người phụ nữ đó, chi tiết của các kỹ nghệ, núi sông mẹ đã đi qua, mật mã đã giải...
Chúng vẫn còn đó.
Tôi từ từ bắt đầu ăn, phối hợp uống th/uốc.
Người canh gác tưởng tôi đã thông suốt, báo lại cho cha.
Giọng cha dường như dịu lại một chút, nhưng vẫn không thả tôi ra.
Đêm khuya vài ngày sau, cửa sổ sau buồng giam truyền đến tiếng gõ rất nhẹ.
Tôi cảnh giác đứng dậy, đẩy ra một khe hở.
Ngoài cửa sổ là bà lão c/âm kia, bà ấy ra hiệu đầy lo lắng.
Chỉ ra ngoài, lại làm động tác chạy trốn, cuối cùng nhét vào một gói nhỏ.
Tôi mở ra, bên trong là một bộ y phục vải thô, ít bạc lẻ, và một cây kéo sắc bén.
Bà ấy đang thúc giục tôi đi, đi ngay lập tức.
Tại sao?
Đã xảy ra chuyện gì?
Tim tôi đ/ập lo/ạn xạ.
Không kịp nghĩ nhiều, tôi thay y phục, nhét kéo vào lòng.
Bà lão c/âm giúp tôi cạy chốt cửa sổ cũ kỹ, ra hiệu tôi đi từ đường này.
Phía sau là một con đường nhỏ dẫn đến khu vườn hoang ngoài phủ.
Trời vẫn mưa, đêm tối như mực.
Tôi trượt ra khỏi cửa sổ, dẫm vào bùn lầy.
Ngoảnh đầu nhìn lại căn buồng giam mình nhiều ngày, nhìn bóng dáng nghiêm nghị của từ đường, nhìn về phía thư phòng của cha.
Không còn luyến tiếc.
Tôi quay người, biến mất trong đêm mưa.
8
Theo chỉ dẫn trên mảnh giấy, tôi lảo đảo đến chùa Vĩnh Tế phía nam thành.
Lúc tảng sáng, chùa chưa mở cửa.
Tôi tìm thấy gốc hòe già thứ ba sau điện Dược Sư.
Dưới gốc cây có một cái đèn đ/á cũ kỹ.
Tôi mò mẫm dưới đế, quả nhiên tìm thấy một ngăn bí mật rỗng.
Bên trong có một lá thư chi tiết hơn, và vài tờ ngân phiếu mệnh giá không nhỏ.
Thư viết cho "Con gái của cố nhân sơn hải".
Nội dung rất đơn giản:
Việc của tôi đã thu hút sự chú ý của một số nhân vật lớn, họ không dung thứ cho bất kỳ ngôn luận nào có thể "làm lo/ạn chính thống, phê bình triều chính", đặc biệt là từ tay nữ tử.
Cha tôi vì áp lực, có lẽ phải "đại nghĩa diệt thân" để tự bảo vệ.
Bảo tôi rời kinh thành gấp, đi về phía nam, cuối thư đính kèm một địa chỉ và tên người ở Giang Nam.
Cuối thư ký tên một chữ "Tranh".
Tôi cầm lá thư, đứng trong sương m/ù buổi sớm, tiếng chuông chùa vang lên văng vẳng.
Cha... muốn đại nghĩa diệt thân sao?
Chỉ vì tôi viết một cuốn sách ghi lại sự tích của phụ nữ?
Hoang đường, bi thương, nhưng lại chân thực đến thế.
Tôi không còn lựa chọn nào khác.
Dùng số tiền trong thư, tôi m/ua chuộc một người nông dân b/án rau đi sớm ở cửa nam.
Trốn dưới xe của ông ta, trà trộn ra khỏi kinh thành.
Từ nay về sau, tôi không còn là tiểu thư nhà quan.
Tôi là một kẻ đào tẩu không thân phận, hoảng lo/ạn trốn chạy về phía nam.
Con đường xuống phía nam gian khổ ngoài sức tưởng tượng.
Lộ phí nhanh chóng bị tr/ộm mất.
Tôi chỉ có thể cầm cố trâm cài hoa tai mang theo.
Ở những quán trọ tồi tàn nhất, ăn những món ăn thô sơ nhất, còn phải luôn cảnh giác với sự kiểm tra của quan phủ và sự truy đuổi có thể xảy ra.
Tôi bôi nhọ nồi lên mặt, mặc y phục nam giới vá víu, học theo cách nói năng cử chỉ của người bình dân.
Nỗi đ/au thể x/ác có thể chịu đựng, nhưng sự lang thang không nơi nương tựa và nỗi sợ hãi trong tinh thần mới là sự tr/a t/ấn lớn nhất.
Đêm đêm co ro trên đống cỏ lạnh lẽo, tôi lại nhớ đến lò sưởi ấm áp ở Chẩm Hà Các, nhớ đến món canh yến A Túc mang tới.
Thậm chí nhớ đến ánh mắt nghiêm khắc nhưng đôi khi cũng có sự quan tâm của cha.
Những cuộc sống mà tôi từng thấy đầy rẫy sự ràng buộc, giờ đây lại trở thành giấc mơ cũ không thể quay về.
Nhưng tôi nhớ mẹ nhiều hơn.
Nhớ những con đường núi gập ghềnh, những dòng sông chảy xiết, những ngôi làng hoang vắng mà bà đã vẽ ra.
Năm xưa, liệu bà có trải qua sự hoảng lo/ạn và cô đ/ộc như thế này không?
Bà đã dựa vào điều gì để từng bước đi tiếp?
Địa chỉ trong thư ở vùng Tô Hàng.
Tôi bôn ba vài tháng, cuối cùng cũng tới nơi.
Người đón tiếp tôi là một phụ nữ trung niên mở tiệm thêu, họ Tô.
Bà ít nói, sắp xếp cho tôi ở lại hậu viện tiệm thêu.