"Sau khi từ chức, tôi đưa cô con gái năm tuổi về nhà mẹ đẻ. Không việc làm, không thu nhập, lại còn phải đối mặt với một đống mâu thuẫn gia đình. Đó là khoảng thời gian tăm tối nhất trong đời tôi."
"Nhưng chính trong những ngày tháng đó, tôi nhận được một tin nhắn riêng. Một studio mời tôi tham gia dự án cải tạo nhà máy cũ. Ngân sách không cao, đội ngũ không lớn, điều kiện duy nhất là--tự do phát huy."
Tôi mở tấm ảnh chụp nhà máy dệt sau khi hoàn thiện.
Hồ nước, ánh sáng, khung thép, đường ống cũ.
Dưới khán đài, có người khẽ hít một hơi.
"Đây chính là dáng vẻ của dự án đó. Một nhà máy dệt bỏ hoang, biến thành một nơi khiến người ta có thể bước vào và ngồi ngẩn ngơ suốt nửa tiếng đồng hồ."
"Có người hỏi tôi cảm hứng đến từ đâu. Tôi nói, đến từ những thứ cũ kỹ đó. Đường ống cũ, khung thép cũ, bức tường gạch cũ--chúng không cần phải bị phá bỏ, không cần phải bị che lấp, chỉ cần được nhìn thấy lại một lần nữa."
Tôi dừng lại một chút.
"Thực ra, con người cũng vậy. Nhiều khi chúng ta không cần phải trở thành một người hoàn toàn mới, chỉ cần được nhìn thấy lại mà thôi."
Tiếng vỗ tay vang lên dưới khán đài.
Không phải kiểu vỗ tay xã giao, mà là thực sự đang vỗ tay.
Tôi thấy Phương Linh ở hàng ghế thứ tám đang nhiệt tình vỗ tay, Hà Tuấn cũng đang vỗ tay, bức tranh trong tay anh ấy đã bị cuộn tròn lại.
Tôi tiếp tục nói thêm gần hai mươi phút, kể về ý tưởng kho lương thực Hàng Châu, chia sẻ phác thảo sơ bộ về ga vận tải Thành Đô, và bày tỏ sự hiểu biết của mình về bốn chữ "chỉnh trang đô thị".
Trang slide cuối cùng không có nội dung gì, chỉ có một dòng chữ.
"Thiết kế tốt không phải là cải tạo không gian. Mà là khiến không gian cất tiếng nói trở lại."
Tiếng vỗ tay lại vang lên. Lần này kéo dài hơn.
Tôi cúi chào rồi bước xuống sân khấu.
Ở hậu trường, Lục Viễn Chu đưa cho tôi một chai nước.
"Người có phản ứng tốt nhất cả hội trường--chính là cô."
"Thật sao?"
"Vừa rồi Tổng giám đốc Tiền gửi cho tôi một tin nhắn, chỉ vỏn vẹn bốn chữ: 'Cô ấy làm được rồi'."
Tôi vặn nắp chai uống một ngụm.
Tay vẫn còn run.
Nhưng lòng thì đã vững vàng.
Trong vòng một tuần sau diễn đàn, hộp thư của tôi nhận được bảy lời mời hợp tác.
Có chủ đầu tư muốn cải tạo kiến trúc cũ, có tập đoàn văn hóa du lịch muốn xây dựng chuỗi homestay đặc sắc, và cả một quỹ từ thiện muốn làm bảo tàng nghệ thuật ở nông thôn.
Tôi xem kỹ từng thư, trả lời ba thư.
Lời mời làm bảo tàng nghệ thuật nông thôn là thư tôi trả lời gần như ngay lập tức--địa điểm ở một ngôi làng hẻo lánh tại Quý Châu, ngân sách chỉ có sáu mươi nghìn tệ, nhưng người khởi xướng là một giáo viên nông thôn đã nghỉ hưu.
Ông viết trong email: "Trẻ con trong làng chúng tôi chưa bao giờ được nhìn thấy tranh thật. Tôi muốn tặng cho chúng một nơi để ngắm tranh."
Bức thư này tôi đã đọc đi đọc lại ba lần.
Tôi nhận lời.
Hà Tuấn sau khi biết chuyện đã không phản đối.
"Đi đi. Đa Đa để anh chăm."
"Anh chăm? Đến tết tóc cho con anh còn không biết."
"Anh có thể học."
Sau đó anh ấy thực sự đã học. Mặc dù bím tóc tết ra méo mó, ngày nào Đa Đa cũng đội một cái đuôi ngựa bất đối xứng đi mẫu giáo, nhưng con bé vui vẻ vô cùng.
Tôi đến Quý Châu.
Ở lại ngôi làng nhỏ có tên Thạch Kiều suốt năm ngày.
Ngôi làng nằm lưng chừng núi, chỉ có hơn bốn mươi hộ gia đình. Trường học chỉ có một lớp duy nhất, ba mươi đứa trẻ từ lớp một đến lớp sáu chen chúc nhau học chung một chỗ.
Thầy giáo về hưu họ Châu, tóc đã bạc trắng, lưng hơi c/òng, nhưng đôi mắt vô cùng sáng.
"Cô Tô, cảm ơn cô đã đến." Thầy đứng ở cửa lớp, cười rất ngại ngùng.
"Con không phải là cô giáo, thầy mới là người thầy thực sự."
Thầy dẫn tôi đi xem nơi thầy định cải tạo--một ngôi nhà đ/á cũ bỏ hoang bên cạnh trường học, trước đây là kho lương thực của làng, đã bỏ trống hơn mười năm nay.
Tường đ/á rất dày, mái nhà sập một nửa, bên trong mọc đầy cỏ dại.
Nhưng ánh sáng lại vô cùng tốt.
Tôi ngồi xổm xuống sờ vào phiến đ/á trên sàn.
"Chính là chỗ này." Tôi nói, "Không cần cải tạo lớn. Chỉ cần lợp lại mái, giữ lại một bức tường đ/á không cần trát vữa. Treo tranh lên bức tường đó, dùng đèn chiếu đơn giản nhất là đủ rồi. Sáu mươi nghìn tệ là làm được."
Mắt thầy Châu đỏ hoe.
Tôi vẽ bản vẽ trong làng suốt ba ngày. Ban ngày đo kích thước, chụp ảnh, trao đổi chi tiết thi công với mấy bác thợ nề trong làng. Buổi tối vẽ bản vẽ trong gian nhà chính của nhà thầy Châu, xung quanh là lũ trẻ vây quanh, nằm bò trên bàn nhìn tôi vẽ.
Có một bé gái tết hai bím tóc nhỏ, cứ nhìn chằm chằm vào bút vẽ của tôi.
"Con có muốn vẽ không?" Tôi hỏi bé.
Bé gật đầu, không nói gì.
Tôi đưa bút màu và sổ phác thảo cho bé.
Bé nhận lấy, cẩn thận vẽ một hình tròn trên giấy--méo mó, nhưng vẽ xong bé ngẩng đầu cười với tôi.
Nụ cười đó khiến tôi nhớ đến Đa Đa.
Ngày rời khỏi làng Thạch Kiều, thầy Châu tiễn tôi ra đầu làng.
"Cô Tô, bảo tàng xây xong, cô nhất định phải đến xem nhé."
"Chắc chắn rồi. Đợi xây xong, con sẽ dẫn con gái con cùng đến."
Thầy nắm tay tôi, lắc mạnh hai cái.
Khi lái xe xuống núi, tôi liếc nhìn gương chiếu hậu--đám trẻ đang đứng ở đầu làng vẫy tay, nhỏ dần, xa dần.
Nhưng tôi biết đây không phải là kết thúc.
Ngày tháng cứ thế trôi qua.
Dự án kho lương thực đã hoàn thành, hiệu quả còn nổi bật hơn cả nhà máy dệt. Dãy thiết bị nghệ thuật bằng giấy trắng bay xuống từ trần nhà đã lên trang nhất của không ít phương tiện truyền thông về thiết kế, được gọi là "không gian công cộng chữa lành nhất của năm".
Dự án ga vận tải Thành Đô đã bước vào giai đoạn ý tưởng.
Bảo tàng nghệ thuật ở làng Thạch Kiều, Quý Châu cũng đã khởi công--thầy Châu tìm những thợ lành nghề trong làng tự xây, tôi hướng dẫn từ xa.
Tập đoàn văn hóa Hàn Lâm chính thức liệt tôi vào danh sách cố vấn thiết kế hợp tác lâu dài, con số trên hợp đồng lương năm còn nhiều hơn cả tổng thu nhập năm năm làm việc tại viện thiết kế của tôi cộng lại."