Tôi đã ch*t.
Ch*t vào cái mùa xuân mà chồng tôi, Giả Ngọc Thanh, vang danh thiên hạ.
“Giáo sư Giả, xin hỏi ông đã đạt được những thành tựu huy hoàng như vậy trong đời, người mà ông muốn cảm ơn nhất là ai?”
Dưới ánh đèn sân khấu, người đàn ông mà tôi đã hầu hạ suốt ba mươi năm ấy—với mái tóc bạc chuẩn mực của một học giả, đôi mắt sau cặp kính gọng vàng cố tình lộ ra vẻ thâm tình.
Ông ta hướng về phía micro, giọng nói truyền khắp hội trường qua hệ thống âm thanh:
“Người tôi muốn cảm ơn nhất chính là tri kỷ của tôi, bà Lâm Vi Thanh.”
Dưới đài vang lên những tràng pháo tay thiện chí. Các phóng viên nhanh chóng ghi chép.
“Ba mươi năm trước, trong những ngày tháng thanh niên trí thức khốn khó nhất, chính bà ấy đã khích lệ tôi kiên trì học tập; suốt bao năm qua, mỗi bài luận văn quan trọng của tôi, bà ấy đều là người đọc duyệt đầu tiên…”
Tôi ngồi ở hàng ghế gia quyến đầu tiên, trái tim như bị một bàn tay lạnh lẽo bóp nghẹt.
Con trai Giả Triết ở bên cạnh khẽ huých tay tôi, hạ thấp giọng: “Mẹ, mẹ quản lý biểu cảm chút đi, ống kính đang quét tới kìa.”
Con gái Giả Đình thì quay mặt đi, giả vờ không quen biết tôi.
Bài diễn thuyết trên đài vẫn tiếp tục:
“...Đáng tiếc, có những nhân duyên định sẵn chỉ có thể là tri kỷ. Nhưng tôi luôn cho rằng, sự hòa hợp về tâm h/ồn còn quý giá hơn nhiều so với hình thức hôn nhân.”
Cả hội trường lại vang lên tiếng vỗ tay. Lần này còn nồng nhiệt hơn.
Một phóng viên trẻ đứng dậy hỏi dồn: “Giáo sư Giả, vậy còn phu nhân của ông thì sao? Nghe nói bà ấy đã từ bỏ cơ hội trở về thành phố để ở lại quê chăm sóc mẹ ông suốt mười năm?”
Giả Ngọc Thanh mỉm cười, cái nụ cười mà tôi vô cùng quen thuộc, mang theo vẻ thương hại nhàn nhạt:
“Phu nhân của tôi... là một người phụ nữ truyền thống. Bà ấy đã hy sinh rất nhiều cho gia đình, tôi rất cảm kích. Nhưng chúng ta phải thừa nhận rằng, có những sự hy sinh chỉ là lao động lặp đi lặp lại, thiếu đi giá trị sáng tạo.”
“Giống như việc nấu một bữa cơm, hôm nay làm, ngày mai vẫn phải làm tiếp. Nhưng một bài luận văn có thể ảnh hưởng đến một ngành học suốt hàng chục năm.”
Toàn thân tôi lạnh toát.
Hóa ra suốt ba mươi năm giặt giũ nấu nướng, hầu hạ cha mẹ chồng, nuôi dạy con cái, thậm chí thức trắng đêm chép bản thảo cho ông ta viết luận văn—
Trong mắt ông ta, chỉ là “lao động lặp đi lặp lại”.
Khi buổi họp báo bước vào phần hỏi đáp, tôi đứng dậy, chậm rãi bước ra ngoài.
Bước chân phù phiếm, như thể đang dẫm lên bông.
Trên màn hình tivi ở hành lang, cảnh tượng vừa rồi đang được phát lại.
Lâm Vi Thanh không biết từ lúc nào đã được mời lên đài, người phụ nữ ngoài năm mươi được chăm sóc kỹ lưỡng trông trẻ như ngoài bốn mươi, đang nép sát vào bên cạnh Giả Ngọc Thanh.
Họ đứng cạnh nhau đón nhận lời chúc mừng, như một cặp đôi xứng lứa vừa đôi.
“Mẹ!” Giả Đình đuổi theo, giọng điệu thiếu kiên nhẫn, “Mẹ lại muốn làm lo/ạn gì nữa? Hôm nay là dịp quan trọng của bố, mẹ không thể nhẫn nhịn một chút sao?”
Tôi nhìn nó, đứa con gái mà tôi mang nặng đẻ đ/au, chắt chiu từng đồng để nuôi cho đi du học.
“Cả con cũng nghĩ, mẹ nên nhẫn nhịn?”
“Chứ không thì sao?” Giả Đình cau mày, “Dì Lâm quả thực đã giúp bố rất nhiều, dì ấy là phó giáo sư đại học, có thể đàm đạo học thuật với bố. Còn mẹ thì sao? Ngoài việc hỏi bố hôm nay muốn ăn gì, mẹ còn nói chuyện được gì nữa?”
Tôi há miệng, nhưng không thốt ra được một chữ nào.
Trái tim truyền đến cơn đ/au nhói.
“Mẹ, mặt mẹ trắng bệch ra kìa...” Giả Triết cũng đi ra, “Có phải b/ệnh tim lại tái phát? Có mang th/uốc không?”
Tôi mò mẫm chiếc túi xách, nhưng mãi không mở được khóa kéo.
Tầm nhìn bắt đầu mờ dần.
Hình ảnh cuối cùng tôi nhìn thấy là Giả Đình đang nói vào điện thoại: “Bố, mẹ có vẻ bị b/ệnh tim... vâng, không sao đâu, bố cứ tiếp tục ký tặng đi, con và anh sẽ đưa mẹ đến b/ệnh viện...”
Sau đó là bóng tối vô tận.
2
Khi mở mắt ra lần nữa, trong khoang mũi là mùi th/uốc sát trùng trộn lẫn với mùi ẩm mốc quen thuộc.
Tôi ngẩn người mất vài giây mới nhìn rõ trần nhà—không phải trần nhà trắng sạch của b/ệnh viện, mà là trần nhà bằng đất nện dán báo cũ, một bóng đèn vàng vọt treo lơ lửng bởi sợi dây điện.
Bên tai truyền đến giọng phụ nữ:
“Thẩm Ngọc Lan, cậu tỉnh rồi à? Mau dậy đi, sáng nay còn phải đi làm đấy.”
Tôi gi/ật mình ngồi dậy.
Căn phòng chật hẹp, bốn chiếc giường gỗ, trên tường dán khẩu hiệu “Trời cao đất rộng, làm nên nghiệp lớn”. Trên chiếc giường sát cửa sổ, một cô gái tết tóc đuôi sam đang chải đầu trước chiếc gương nhỏ.
Đó là... Chu Hiểu Mai?
Chẳng phải bà ấy đã mất vì u/ng t/hư vú từ năm 1998 rồi sao?
Tôi r/un r/ẩy đưa tay sờ lên mặt mình—da dẻ căng mịn, không một nếp nhăn. Nhìn vào chiếc gương tròn nhỏ trên bàn gỗ mục đối diện, trong gương là khuôn mặt ngoài hai mươi tuổi, dù tiều tụy nhưng vẫn đầy sức sống.
Năm 1975.
Tôi đã trở về năm hai mươi mốt tuổi, năm thứ ba đi cắm chốt ở Thiểm Bắc.
Còn ba tháng nữa là đến ngày tôi kết hôn với Giả Ngọc Thanh.
“Cậu ngẩn người ra đó làm gì?” Chu Hiểu Mai quay người lại, “Giả Ngọc Thanh đã đến tìm cậu từ sớm rồi, đang đợi ngoài cổng sân đấy. Cậu ấy nói hôm nay có chuyện quan trọng muốn nói với cậu.”
Chuyện quan trọng.
Tôi nhớ ra rồi.
Ngày 12 tháng 6 năm 1975, Giả Ngọc Thanh lần đầu tiên chính thức cầu hôn tôi.
Không, nói chính x/ác hơn, là “thông báo” cho tôi biết việc kết hôn.
Ông ta nói: “Ngọc Lan, nhà tôi nhờ qu/an h/ệ nên lấy được một suất tiến cử vào đại học Công Nông Binh, nhưng cần có tư cách đã kết hôn mới chắc chắn hơn. Chúng ta đi đăng ký kết hôn trước đi, đợi tôi vào đại học rồi, nhất định sẽ nghĩ cách đưa cậu về thành phố.”