Mùa đông lạnh giá nhất đã qua rồi.
29
Mùa xuân năm 1977 bắt đầu trong một đợt rét nàng Bân.
Đã tháng Ba, nhưng trong các khe rãnh ở đại đội Hồng Kỳ vẫn còn đóng băng.
Thế nhưng, trong lớp học xóa m/ù chữ, không khí lại nóng hổi.
Sau giờ học, Lý Thục Trân kéo tôi ra phía sau lớp, giọng hạ thấp đến mức cực độ: “Có gió rồi.”
“Gió gì ạ?”
“Cấp trên... đang nghiên c/ứu việc khôi phục thi đại học.”
Tim tôi đ/ập mạnh, viên phấn trong tay “rắc” một tiếng g/ãy đôi.
“Tin tức có đáng tin không ạ?”
“Em trai cô ở Sở Giáo dục tỉnh, nó viết thư ám chỉ.” Đôi mắt Lý Thục Trân sáng lên một cách kinh ngạc, “Tuy chưa có văn bản chính thức, nhưng... sắp rồi.”
Tôi hít một hơi thật sâu, không khí lạnh làm phổi đ/au nhói.
Hai năm ba tháng.
Từ mùa hè năm 1975 đến nay, thứ tôi chờ đợi chính là ngày này.
“Ôn tập thế nào rồi?” cô hỏi.
“Toán Lý Hóa đã xong vòng hai, Văn và Chính trị thì ngày nào cũng học thuộc.” Tôi nói, “Chỉ có tiếng Anh là...”
Kỳ thi đại học năm 1977 có thi tiếng Anh hay không, mỗi tỉnh một khác.
Trong trí nhớ của tôi, tỉnh chúng tôi lấy đó làm điểm tham khảo, không tính vào tổng điểm. Nhưng nhỡ đâu thì sao?
“Tiếng Anh cô không giúp được em.” Lý Thục Trân nhíu mày, “Cả công xã không tìm ra nổi một người biết tiếng Anh.”
“Không sao ạ.” Tôi nói, “Cứ nắm chắc môn chính đã.”
Cô vỗ vai tôi: “Chỉ còn vài tháng cuối thôi, cố lên.”
Cố lên.
Hai chữ này đã trở thành toàn bộ niềm tin của tôi trong mùa xuân năm 1977.
30
Tháng Tư, b/ệnh tình của bà ngoại trở nặng.
B/ệnh thấp khớp chuyển thành viêm khớp, hai chân sưng vù lên, không xuống giường nổi. Bác sĩ chân đất của đại đội đến xem, kê vài thang th/uốc Đông y rồi lắc đầu nói: “Tuổi già rồi, khó khỏi lắm.”
Tôi xin nghỉ dài hạn, toàn tâm toàn ý chăm sóc bà.
Ban ngày sắc th/uốc, lau người, nấu cơm, tối đợi bà ngủ rồi lại ngồi dưới đèn dầu đọc sách. Có những lúc đọc sách rồi gục xuống bàn lúc nào không hay, gi/ật mình tỉnh dậy thì đèn dầu sắp tắt.
Lý Thục Trân ngày nào cũng đến một lần, lúc thì mang chút đường đỏ, lúc thì vài quả trứng gà.
“Em thế này không được.” cô nói, “Sức khỏe suy sụp thì thi cử thế nào?”
“Em chống đỡ được ạ.”
“Chống đỡ cái khỉ gì.” Cô hiếm khi nói tục, “Nhìn quầng mắt thâm đen, mặt chỉ còn trơ xươ/ng kìa.”
Tôi không nói gì, tiếp tục đút th/uốc cho bà ngoại.
Đút th/uốc xong, bà ngoại nắm tay tôi, nước mắt chảy dài: “Lan à... bà làm liên lụy đến con rồi...”
“Không liên lụy đâu ạ.” Tôi lau nước mắt cho bà, “Bà nuôi con từ nhỏ, giờ con phụng dưỡng bà già đi, đó là đạo lý hiển nhiên.”
“Nhưng con còn phải thi...”
“Sẽ đỗ thôi ạ.” Tôi siết ch/ặt tay bà, “Nhất định sẽ đỗ.”
Lời này là nói cho bà nghe, cũng là nói cho chính mình.
Cuối tháng Tư, tình trạng của bà ngoại ổn định hơn chút ít.
Tôi bắt đầu ôn tập lại, nhưng thời gian bị x/é lẻ vụn vặt—tranh thủ lúc sắc th/uốc để học thuộc Chính trị, lúc nhóm lửa thì nhẩm toán học, chỉ khi đêm khuya tĩnh mịch mới có thể hệ thống lại kiến thức.
Có đêm khuya, tôi giải một bài hình học giải tích, giải mãi không ra.
Ba tờ giấy nháp viết kín chữ, nước mắt đột nhiên rơi xuống.
Không phải vì tủi thân.
Mà là vì sợ.
Sợ rằng dù có làm lại một lần nữa vẫn không đỗ. Sợ tất cả nỗ lực đều đổ sông đổ bể.
Sợ rằng cả đời này vẫn không thoát khỏi vòng luẩn quẩn đó.
Ngọn đèn dầu “lách tách” n/ổ một tiếng.
Tôi lau nước mắt, rút ra một tờ giấy mới.
Tính tiếp.
31
Tháng Năm, thư của Chu Hiểu Mai lại đến.
Lần này không phải thư, mà là một gói quà.
Trong gói có hai món: một cuốn “900 câu tiếng Anh”, là bản chép tay rất cẩn thận; và một lá thư.
“Ngọc Lan, nghe nói cậu định thi đại học? Cuốn sách này tớ nhờ người lấy từ Thượng Hải về, tuy hơi cũ nhưng kiến thức cơ bản đều đủ cả. Cố lên, giành lấy thể diện cho anh em thanh niên trí thức chúng mình.”
Tôi mở cuốn sách chép tay ấy ra, giấy thô ráp nhưng từng chữ cái đều được viết rất nghiêm túc.
Trang cuối cùng, Chu Hiểu Mai viết thêm một dòng: “Giả Ngọc Thanh và Lâm Vi Thanh đã kết hôn, làm ba mâm cỗ ở huyện. Nghe nói Lâm Vi Thanh có bầu rồi, Giả Ngọc Thanh đang làm công nhân thời vụ ở đội xây dựng huyện, cuộc sống chật vật lắm.”
Tôi x/é trang đó ra, ném vào bếp lò.
Lưỡi lửa li/ếm lấy, nhanh chóng hóa thành tro bụi.
Họ sống không tốt, tôi cũng chẳng thấy hả hê gì.
Chỉ cảm thấy... xa vời.
Như chuyện của kiếp trước vậy.
32
Giữa tháng Sáu, tin tức chính thức đã đến.
Lý Thục Trân đi họp ở công xã về, gọi tôi đến nhà, đóng cửa lại, giọng cô run lên:
“Chốt rồi! Năm nay khôi phục thi đại học! Tháng Mười đăng ký, tháng Mười hai thi!”
Tôi ngồi trên chiếc ghế mây cũ kỹ nhà cô, người cứng đờ.
Tuy biết trước sẽ đến, nhưng khi nó thực sự đến, vẫn cứ như đang nằm mơ vậy.
“Đối tượng tuyển sinh được mở rộng!” Cô nói với tốc độ cực nhanh, “Công nhân, nông dân, thanh niên trí thức, quân nhân phục viên... độ tuổi mở rộng đến ba mươi! Không hạn chế kết hôn! Xét duyệt chính trị chủ yếu nhìn vào biểu hiện của bản thân!”
Mỗi câu mỗi chữ đều làm tôi chấn động.
“Thi những môn gì ạ?”
“Phân ban Văn và Tự nhiên! Ban Văn thi Chính trị, Văn, Toán, Sử, Địa; Ban Tự nhiên thi Chính trị, Văn, Toán, Lý, Hóa! Ngoại ngữ lấy làm điểm tham khảo!”
N/ão tôi quay cuồ/ng.
Tôi học ban Tự nhiên. Lý Hóa không vấn đề, Toán nắm chắc, Văn và Chính trị là thế mạnh.
“Tài liệu đăng ký...” tôi đứng dậy, “cần giấy chứng nhận đơn vị, cần sơ yếu lý lịch, cần...”
“Em đừng hoảng.” Lý Thục Trân ấn tôi ngồi xuống, “Những thứ đó để cô lo. Việc bây giờ em cần làm chỉ có một-”
Cô nhìn thẳng vào mắt tôi:
“Học b/án mạng đi.”
33
Từ ngày hôm đó, tôi bước vào giai đoạn nước rút thực sự.
Mỗi ngày ngủ không quá bốn tiếng. Buồn ngủ thì vỗ nước lạnh lên mặt; đói thì gặm bánh ngô.