“Bà ngoại, con thi xong rồi.”
“Tốt, tốt.” Bà lau mắt, “Dù có đỗ hay không, cháu ngoại của bà vẫn là tuyệt vời nhất.”
Lý Thục Trân ở bên cạnh cười: “Chắc chắn là đỗ. Nhìn sắc mặt con bé là cô biết ngay, nắm chắc phần thắng trong tay rồi.”
Uống xong bát canh gà, cả người đều ấm áp.
Lúc này Lý Thục Trân mới hỏi: “Ở phòng thi không có chuyện gì chứ?”
Tôi kể lại chuyện bị bỏ th/uốc.
Sắc mặt cô tái mét: “Đồ s/úc si/nh!”
“Đã bắt được rồi ạ.”
“Đáng đời!” Cô đ/ập bàn, “Loại người này, cả đời này đáng lẽ không nên ngóc đầu lên được!”
Bà ngoại nghe xong cứ niệm Phật: “Bồ T/át phù hộ… Bồ T/át phù hộ cho con Lan nhà tôi không sao…”
Đêm đó, tôi ngủ rất sâu.
Không mộng mị.
Giống như sau một chuyến hành trình dài đằng đẵng, cuối cùng cũng có thể an tâm nằm xuống.
46
Cuối tháng Mười hai, điểm thi vẫn chưa có, nhưng kết quả xử lý của công an huyện đã đến trước.
Giả Ngọc Thanh vì tội “xúi giục người khác gây nguy hại đến an toàn công cộng bất thành”, bị tạm giam mười lăm ngày, ph/ạt hai trăm tệ. Lâm Vi Thanh sinh non, đẻ được một cậu con trai, nhưng đứa trẻ bị thiếu tháng, nằm trong lồng kính ở b/ệnh viện, mỗi ngày tiêu tiền như nước.
Kết quả thi đại học của họ đương nhiên bị hủy bỏ.
Chu Hiểu Mai gửi thư nói: “Ngày Giả Ngọc Thanh ra khỏi trại tạm giam, hắn ngồi xổm trước cổng b/ệnh viện huyện khóc. Bố hắn tức đến mức bị đột quỵ, mẹ hắn đòi đoạn tuyệt qu/an h/ệ. Người nhà Lâm Vi Thanh đến gây rối, đòi tiền th/uốc men, tiền bồi dưỡng… một mớ hỗn độn.”
Tôi đưa thư cho bà ngoại và Lý Thục Trân xem.
Bà ngoại thở dài: “Gieo nghiệp mà…”
Lý Thục Trân cười lạnh: “Đáng đời.”
Tôi cũng thấy đáng đời.
Nhưng nhiều hơn cả là cảm giác nhẹ nhõm.
Những h/ận th/ù, những không cam tâm, những tủi thân trong những đêm trằn trọc kiếp trước… vào khoảnh khắc này, đột nhiên nhạt nhòa đi.
Không phải là tha thứ.
Mà là không cần thiết nữa.
Họ đã trở thành một đống bùn nhão trên con đường đời của tôi, còn tôi, phải tiếp tục tiến về phía trước.
47
Tháng Một năm 1978, điểm thi đã có.
Lý Thục Trân gọi điện từ công xã về, giọng run run: “Ngọc Lan! Điểm! Điểm của con!”
Tôi cầm ống nghe, lòng bàn tay đầy mồ hôi.
“Tổng điểm… bốn trăm sáu mươi tám!” Cô gần như hét lên, “Đứng đầu toàn huyện! Thứ ba toàn khu!”
Chân tôi mềm nhũn, suýt chút nữa ngồi bệt xuống đất.
“Điểm các môn: Chính trị chín mươi lăm, Ngữ văn chín mươi hai, Toán chín mươi tám, Lý Hóa một trăm tám mươi ba!” Cô tiếp tục báo, “Tiếng Anh điểm tham khảo tám mươi sáu! Bắc Đại chắc chắn rồi!”
Cúp điện thoại, tôi dựa vào tường, hồi lâu không cử động.
Bà ngoại r/un r/ẩy đi tới: “Lan à… sao thế? Không đỗ à?”
Tôi xoay người lại, ôm lấy bà: “Bà ngoại, con đỗ rồi. Đứng đầu toàn huyện.”
Bà ngẩn người, rồi “òa” một tiếng khóc nức nở.
Khóc như một đứa trẻ.
Lý Thục Trân từ công xã vội vã chạy về, đ/ập tờ bảng điểm xuống bàn: “Xem đi! Xem đi! Đại đội Hồng Kỳ đã bay ra một con phượng hoàng vàng!”
Tin tức như mọc cánh, chỉ nửa ngày sau, cả đại đội đều biết.
Đội trưởng Lưu dẫn người gõ trống khua chiêng đến chúc mừng, nói muốn tổ chức buổi lễ mừng công cho tôi.
Các thím các chị ở lớp xóa m/ù chữ vây quanh tôi, người nhét hai quả trứng, người nhét nắm táo đỏ.
“Cô Thẩm, tôi biết ngay cô làm được mà!”
“Thật nở mày nở mặt cho chị em phụ nữ chúng ta!”
“Đến Bắc Kinh rồi, đừng quên chúng tôi đấy nhé!”
Tôi cười đáp lại, nhưng mắt lại nhòe đi.
Những người từng cho rằng tôi “không an phận”, những người từng bàn tán sau lưng tôi, giờ đây đều chân thành mừng cho tôi.
Bởi vì họ đã thấy—một người phụ nữ, không dựa vào việc lấy chồng, không dựa vào qu/an h/ệ, chỉ dựa vào đôi bàn tay và cây bút của chính mình, thực sự có thể khai phá ra một con đường.
48
Tháng Hai, giấy báo trúng tuyển đã đến.
Phong bì giấy da bò, trên in bốn chữ đỏ “Đại học Bắc Kinh”.
Tay tôi run run khi mở ra.
Bên trong là một tờ giấy báo trúng tuyển, một bản hướng dẫn nhập học, và một lá thư gửi tân sinh viên.
“Sinh viên Thẩm Ngọc Lan: Sau khi xét duyệt, bạn đã được trường chúng tôi nhận vào khoa Toán, vui lòng đến trường báo danh trước ngày 15 tháng 3 năm 1978.”
Khoa Toán.
Tôi thực sự đã đỗ rồi.
Bà ngoại đặt giấy báo trúng tuyển lên bàn thờ dưới bức chân dung Chủ tịch Mao, mỗi ngày đều lau ba lần.
Lý Thục Trân cầm giấy báo xem đi xem lại, cuối cùng nói: “Cô phải đi thắp nén nhang cho chồng cô… nói với anh ấy rằng, những cuốn sách anh ấy để lại, thực sự đã đào tạo ra một sinh viên Bắc Đại.”
Trước khi đi, tôi thu dọn hết tài liệu ôn tập, tặng lại cho Lý Thục Trân.
“Để cho các em học sinh sau này dùng ạ.” Tôi nói, “Hãy bảo họ rằng, chỉ cần muốn học, lúc nào cũng không muộn.”
Cô lại đỏ hoe mắt: “Cô sẽ làm vậy.”
Đại đội Hồng Kỳ tổ chức buổi lễ tiễn đưa tôi.
Đội trưởng Lưu đại diện cho đại đội, tặng tôi một cây bút máy mới, một chiếc cặp sách vải bạt.
Các chị em phụ nữ gom tiền may cho tôi bộ quần áo mới—vải kaki màu xanh, kiểu dáng đơn giản nhưng đường kim mũi chỉ chắc chắn.
“Đến Bắc Kinh, mặc cho tươm tất.” Họ nói, “Đừng để người ta coi thường người nông thôn chúng ta.”
Tôi nhận lấy bộ quần áo, cúi chào thật sâu.
“Cảm ơn mọi người. Con nhất định… không làm mất mặt đại đội Hồng Kỳ.”
49
Ngày 10 tháng 3 năm 1978, tôi rời khỏi đại đội Hồng Kỳ.
Bà ngoại kiên quyết đòi tiễn tôi, tôi không cản được, để bà tiễn đến trạm xe công xã.
Khi xe đến, bà nắm ch/ặt tay tôi, dặn đi dặn lại: “Đến nơi nhớ viết thư… trời lạnh nhớ mặc thêm áo… học hành chăm chỉ…”
“Con biết rồi ạ.” Tôi ôm lấy bà, “Bà ngoại, đợi con ổn định, con sẽ đón bà lên Bắc Kinh.”
Bà vừa khóc vừa gật đầu.
Lý Thục Trân cũng đến, nhét vào tay tôi một túi vải: “Đồ ăn dọc đường đấy.”
Xe lăn bánh.
Tôi nhìn qua cửa sổ xe ra phía sau, bà ngoại vẫn đứng đó, bóng dáng nhỏ bé g/ầy gò ngày càng xa, cuối cùng chỉ còn là một chấm đen.
Trong tay tôi nắm ch/ặt tờ giấy báo trúng tuyển, mép giấy đã sờn cả lông.