“Hiểu Mai, giúp tôi một việc.” Tôi vẩy vẩy những giọt nước trên tay, “Đến văn phòng đội sản xuất, xin giúp tôi ba ngày nghỉ ốm.”
“Ba ngày? Đội trưởng chắc chắn sẽ không duyệt...”
“Cứ bảo là tôi bị mẹ chồng tương lai đá/nh bị thương, phải đến trạm y tế để giám định thương tích.” Tôi ngập ngừng một chút, “Tiện thể, nghe ngóng chuyện suất trở về thành phố năm nay luôn.”
Chu Hiểu Mai trợn tròn mắt: “Cậu thực sự muốn tranh giành sao?”
“Chứ không thì sao?” Tôi nhìn về phía những sườn đồi đất vàng trải dài xa tít, “Ở lại đây, đợi Giả Ngọc Thanh vào đại học, đợi mẹ ông ta ba ngày một trận làm lo/ạn, đợi tôi thành bà lão mặt vàng, rồi đợi đến khi ông ta công thành danh toại thì đ/á tôi một cái?”
Cô ấy im lặng.
Một hồi lâu sau, mới thấp giọng nói: “Nhưng Ngọc Lan... đội sản xuất chúng ta năm nay chỉ có một suất thôi. Nhà Giả Ngọc Thanh đã lo liệu xong xuôi rồi, cậu không tranh lại đâu.”
“Không tranh lại cũng phải tranh.” Tôi bước vào nhà, lấy gói vải dưới gối ra, lấy sách giáo khoa, “Ít nhất phải để mọi người biết rằng—tôi không phải là quả hồng mềm để ai muốn nắn cũng được.”
Sau khi Chu Hiểu Mai đi, tôi lật cuốn sách giáo khoa ngữ văn cấp ba.
Giấy đã ố vàng, nét chữ mờ nhạt.
Năm 1972 khi xuống nông thôn, tôi đã khóc khi nhét những cuốn sách này vào hành lý.
Mẹ tôi nói: “Mang những thứ này làm gì? Xuống đó chịu khó lao động, tranh thủ sớm lấy chồng để về thành phố.”
Lấy chồng để về thành phố.
Đây là con đường duy nhất mà biết bao nữ thanh niên trí thức thời đó nhìn thấy.
Nhưng dựa vào đâu chứ?
Tôi vuốt ve trang “Nhạc Dương Lâu Ký”, khẽ đọc: “Lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ...”
Đọc mãi, nước mắt rơi xuống.
Không phải vì đ/au lòng, mà là h/ận.
H/ận bản thân kiếp trước tại sao lại ngốc nghếch đến thế, tin vào cái lý lẽ “phụ nữ không có tài mới là đức”.
Tin vào lời nói dối rằng “lấy được người chồng tốt là thành công lớn nhất”.
“Chị Ngọc Lan?”
Ngoài cửa truyền đến giọng nói rụt rè.
Tôi lau nước mắt, nhìn thấy một bóng dáng nhỏ bé—là Lý Tiểu Thảo ở phòng bên cạnh, năm nay vừa tròn mười bảy tuổi, đến muộn hơn chúng tôi nửa năm.
“Có việc gì à?”
Lý Tiểu Thảo nắm ch/ặt vạt áo, do dự mãi mới nói: “Em, em nghe thấy lời chị nói với chị Hiểu Mai rồi... Em cũng muốn ôn tập, có thể cùng chị được không?”
Tôi sững người.
Tôi biết kết cục của Lý Tiểu Thảo ở kiếp trước—năm 1976, vì suất trở về thành phố, cô ấy đã gả cho gã con trai ngốc nghếch của bí thư đội sản xuất.
Năm 1978, cô ấy mất vì băng huyết khi sinh con.
“Người nhà em có đồng ý không?” Tôi hỏi.
Viền mắt cô ấy đỏ hoe: “Bố em viết trong thư, bảo em ở nông thôn tìm một nhà tử tế... nhưng em không muốn giống như chị gái mình, lấy chồng rồi ngày nào cũng bị đá/nh đ/ập.”
Tôi nhìn đôi vai g/ầy guộc của cô ấy, nhớ lại những trận đò/n vô hình tôi từng chịu đựng ở nhà họ Giả.
“Đến đây.” Tôi dịch chỗ, “Ngồi đây. Chị chỉ có một bộ sách, chúng ta luân phiên nhau xem.”
7
Buổi chiều, Chu Hiểu Mai quay về.
Mang theo hai tin tức.
Một là việc tôi xin nghỉ đã được duyệt, đội trưởng nghe nói “nhà chồng tương lai đá/nh người”, nhíu mày duyệt cho ba ngày, còn lẩm bẩm “nhà họ Giả cũng quá đáng thật”.
Hai là chuyện suất trở về thành phố.
“Tớ lén nghe kế toán đội sản xuất nói chuyện với bí thư...” Chu Hiểu Mai hạ thấp giọng, “Năm nay huyện cấp cho công xã chúng ta bốn suất, đội sản xuất mình được chia một suất. Nhưng bố Giả Ngọc Thanh đã lo Iót rồi, cơ bản là đã định trước.”
“Cơ bản định trước, nghĩa là vẫn chưa hoàn toàn quyết định.” Tôi nói.
“Nhưng chúng ta lấy gì để tranh với người ta?” Chu Hiểu Mai sốt sắng, “Giả Ngọc Thanh là học sinh tốt nghiệp cấp ba, biểu hiện lao động ‘ưu tú’, lại còn biết viết văn...”
“Tớ cũng tốt nghiệp cấp ba.” Tôi lật sách giáo khoa, “Về biểu hiện lao động, ba năm nay tớ chưa bao giờ xin nghỉ, năm ngoái còn được bình chọn là ‘nhân tố lao động tích cực’. Còn về viết văn—”
Tôi ngập ngừng.
Kiếp trước, những tác phẩm “văn học thanh niên trí thức” thời kỳ đầu của Giả Ngọc Thanh, ít nhất một nửa là do tôi sửa giúp.
Ông ta luôn nói: “Ngọc Lan, văn phong của em có linh khí, nhưng phụ nữ viết mấy thứ này vô dụng. Em sửa giúp anh, đợi anh nổi tiếng, công lao chia em một nửa.”
Công lao?
Cuối cùng ông ta đến tên tôi cũng lười nhắc tới.
“Hiểu Mai, giúp tớ tìm giấy bút.” Tôi nói.
“Cậu muốn làm gì?”
“Viết đơn từ.” Tôi nhìn ánh nắng gay gắt ngoài cửa sổ, “Đã muốn tranh, thì phải tranh cho quang minh chính đại.”
Chiều hôm đó, tôi nằm bò trên bàn đất, mượn ánh đèn dầu viết ba lá đơn.
Một bản là “Đơn xin đá/nh giá công bằng suất trở về thành phố”, liệt kê số giờ lao động trong ba năm qua, tình hình khen thưởng, và thành tích chủ động tổ chức lớp xóa m/ù chữ cho thanh niên trí thức.
Một bản là “Phản ánh tình hình về gia cảnh và nguồn gốc suất tiến cử của đồng chí Giả Ngọc Thanh”—tôi không tố cáo trực tiếp, chỉ “phản ánh khách quan” hành động của bố ông ta.
Bản thứ ba, là thư gửi về cho bố mẹ.
Kiếp trước tôi không viết lá thư này vì Giả Ngọc Thanh nói: “Đừng để gia đình lo lắng, anh có thể giải quyết.”
Lần này, tôi viết từng nét chữ:
“Kính gửi cha mẹ: Con ở Thiểm Bắc mọi sự đều ổn, chỉ có chuyện hôn nhân, sau khi cân nhắc kỹ lưỡng, con đã quyết định chấm dứt qu/an h/ệ yêu đương với đồng chí Giả Ngọc Thanh. Lý do có ba: thứ nhất, quan điểm sống không hợp; thứ hai, phẩm hạnh của mẹ người đó không tốt; thứ ba, con không muốn dựa dẫm vào người khác để về thành phố...”
Viết đến đây, tôi dừng lại.
Ngọn lửa đèn dầu chập chờn, soi bóng lên những nét mực chưa khô trên giấy.
Cuối cùng, tôi viết thêm một câu:
“Con hiểu rõ sự kỳ vọng của hai người, nhưng đường đời còn dài, con muốn tự mình đi một đoạn. Nếu không thể làm rạng danh gia tộc, thì ít nhất, cũng không làm nỗi nhục của nhà họ Thẩm.”
Người viết: Đứa con bất hiếu Ngọc Lan, đêm 13 tháng 6 năm 1975.
Viết xong, ngón tay bị bút máy cọ xát đến phồng rộp.