Giáo trình là do chính tay Lý Thục Trân biên soạn, dùng giấy báo cũ c/ắt thành những cuốn sổ nhỏ, bên trong chép tay các từ vựng và phép tính số học đơn giản.
Lần đầu tiên tôi đến, Lý Thục Trân bảo tôi cứ ngồi nghe trước.
Cách giảng bài của cô rất hay—không dùng “thuật ngữ chính trị”, mà bắt đầu từ việc “tính công điểm”, “tính khẩu phần lương thực”.
Các chị em phụ nữ nghe rất chăm chú, bởi vì học xong là có thể tự tính toán sổ sách, không sợ bị lừa gạt nữa.
“Hôm nay, chúng ta học chữ ‘Lương’ (lương thực).” Lý Thục Trân viết lên bảng, “Bên trái là chữ ‘Mễ’ (gạo), bên phải là chữ ‘Lương’ (tốt). Gạo là thứ tốt, ‘Lương’ nghĩa là tốt—có lương thực thì cuộc sống mới tốt đẹp được.”
Dưới lớp có người cười: “Cô giáo Lý ơi, sổ lương thực nhà em tháng này chỉ còn hai mươi cân, tốt đẹp gì nổi ạ?”
“Cho nên càng phải biết chữ.” Lý Thục Trân cũng cười, “Biết chữ mới hiểu được chính sách, mới tính rõ được sổ sách, còn có thể dạy đạo lý cho con cái—đó mới chính là cái ‘tốt’ thực sự.”
Sau giờ học, cô hỏi tôi: “Em thấy thế nào?”
“Rất tốt ạ.” Tôi thành thật đáp, “Đi từ đời sống thực tế, mọi người mới có hứng thú học.”
“Vậy ngày mai em bắt đầu dạy toán đi.” Cô nói, “Bắt đầu từ việc quy đổi công điểm, tính phiếu vải phiếu lương thực.”
Tôi gật đầu mạnh mẽ.
Đêm đó, tôi ngồi dưới ánh đèn dầu soạn giáo án.
Bà ngoại đang kh//âu đế giày, đột nhiên nói: “Chồng cô giáo Lý mất đã tám năm rồi, bao nhiêu người khuyên cô ấy tái giá mà cô ấy không chịu. Bảo là phải nuôi hai đứa con ăn học, còn phải duy trì lớp xóa m/ù chữ này nữa.”
“Cô ấy thật đáng ngưỡng m/ộ.”
“Đúng vậy.” Bà ngoại thở dài, “Phụ nữ đời này, khổ quá...”
Tôi không đáp, tiếp tục viết giáo án.
Nhưng ý niệm trong lòng tôi ngày càng trở nên rõ rệt.
18
Giữa tháng Tám, tôi nhận được công điểm tháng đầu tiên—lao động chính trong đội phụ nữ một ngày được bảy công điểm, tôi mới bắt đầu nên tính sáu điểm. Cộng thêm khoản trợ cấp từ lớp xóa m/ù chữ, tổng cộng là một trăm tám mươi công điểm.
Đổi ra lương thực là ba mươi sáu cân ngô, tám cân cao lương.
Không nhiều, nhưng đủ để tôi và bà ngoại ăn cháo.
Lý Thục Trân biết chuyện tôi ôn tập, một hôm sau giờ học, cô gọi tôi vào văn phòng, lấy từ ngăn kéo ra vài cuốn sách.
“Đây là chồng cô để lại.” Cô vuốt ve bìa sách, “Bộ sách tự học Toán Lý Hóa, phiên bản năm 64, hơi cũ chút nhưng kiến thức cơ bản thì không thay đổi đâu.”
Tôi đón lấy, cuốn sách nặng trĩu.
“Cô giáo Lý, cái này quý giá quá...”
“Sách để không mới là lãng phí.” Cô nói, “Cô thấy em ngày nào đi làm về cũng thức khuya đọc sách, có ý chí này, nhất định sẽ làm được.”
“Cô không thấy... em đang mơ mộng hão huyền sao ạ?” Tôi hỏi, “Kỳ thi đại học đã dừng tám năm rồi.”
Cô mỉm cười: “Chồng cô khi còn sống thường nói, đất nước muốn xây dựng thì không thể mãi không cần nhân tài. Khôi phục thi đại học là chuyện sớm muộn—chỉ là chuyện này, đừng đi nói lung tung bên ngoài.”
Viền mắt tôi nóng lên: “Cảm ơn cô ạ.”
“Không cần cảm ơn.” Cô nhìn ra ngoài cửa sổ, “Thế hệ của cô thì lỡ rồi, nhưng thế hệ của các em... vẫn còn hy vọng.”
19
Đầu tháng Chín, Chu Hiểu Mai gửi thư đến.
Lá thư rất dày, nói ba chuyện:
Một, Lý Tiểu Thảo đã về thành phố, được sắp xếp vào nhà máy dệt, viết thư nhờ gửi lời cảm ơn tôi.
Hai, Giả Ngọc Thanh cuối cùng cũng vào được đại học—nhưng không phải đại học Công Nông Binh ở tỉnh như dự định, mà là một “Đại học 5-7” mới thành lập ở tỉnh lân cận, thời gian đào tạo ngắn, giá trị bằng cấp thấp.
“Nghe nói bố hắn vì suất này mà dốc sạch tiền tiết kiệm mười năm của gia đình. Mẹ hắn tức đến mức đổ b/ệnh nặng, giờ vẫn đang nằm liệt giường.”
Ba, Lâm Vi Thanh cũng đã chuyển đi, đến trường tiểu học ở huyện làm giáo viên hợp đồng tạm thời. “Có người bảo thấy cô ta vẫn thư từ qua lại với Giả Ngọc Thanh, nhưng không biết thật giả thế nào.”
Đọc xong, tôi đ/ốt lá thư.
Bà ngoại hỏi: “Thư của ai thế?”
“Đồng đội cũ thôi ạ.” Tôi nói, “Bảo là có kẻ gặp quả báo rồi.”
Bà ngoại không hỏi thêm nữa.
Đêm đến soạn giáo án, ở mặt sau cuốn sổ, tôi lặng lẽ lập một bảng thời gian:
Tháng 9/1975 - Tháng 12/1976: Hoàn thành toàn bộ ôn tập chương trình cấp ba, đồng thời dạy lớp xóa m/ù chữ để ki/ếm tiền.
Năm 1977: Đợi tin tức thi đại học, dốc toàn lực ôn thi.
Năm 1978: Vào đại học.
Năm 1979...
Tôi ngừng bút.
Năm 1979 của kiếp trước, tôi đã sinh con gái. Năm đó Giả Ngọc Thanh được đá/nh giá là trợ giảng, bắt đầu thói quen không về nhà vào ban đêm.
Kiếp này, năm 1979 tôi sẽ ở đâu?
Không biết.
Nhưng chắc chắn không phải ở nhà họ Giả.
20
Cuối tháng Mười, đại đội Hồng Kỳ đón trận mưa thu đầu tiên.
Mưa suốt ba ngày, đồng ruộng không thể làm việc, lớp xóa m/ù chữ cũng tạm nghỉ.
Tôi ở nhà lật những cuốn sách Lý Thục Trân đưa, phát hiện trong các trang giấy có rất nhiều ghi chú—những nét chữ nhỏ nhắn thanh tú, là bút tích của chồng cô.
Bên cạnh một ví dụ về “Hình học không gian”, có dòng chữ: “Thục Trân bảo không hiểu, cần vẽ hình để giảng giải.”
Bên cạnh một “Phương trình hóa học” khác: “Phần này có thể kết hợp với ví dụ thực tế, như lên men, muối dưa.”
Tôi như thấy được hình ảnh những đêm của nhiều năm về trước, đôi vợ chồng này cũng như vậy, một ngọn đèn, hai cuốn sách, một người giảng, một người nghe.
“Lan à.” Bà ngoại gọi tôi ở đầu giường đất, “Cô giáo Lý đến kìa.”
Tôi vội vàng xuống giường.
Lý Thục Trân chống chiếc ô dầu cũ, ống quần ướt quá nửa, trong lòng ôm một túi vải: “Ngày mưa, mang cho em chút đồ.”
Mở túi vải ra, là nửa xấp giấy, hai lọ mực, và một chiếc bút máy cũ nhưng vẫn còn nguyên vẹn.
“Cái này...”
“Chồng cô dùng lúc còn sống.” Cô khẽ nói, “Để không cũng phí, em cầm lấy mà viết. Lúc ôn tập, trí nhớ tốt không bằng cây bút chì cùn đâu.”
Tôi nắm ch/ặt chiếc bút máy, thân bút ấm áp, như thể vẫn còn mang theo hơi ấm của chủ nhân nó.
“Cô giáo Lý, em... em không biết phải cảm ơn cô thế nào nữa.”