“Ta dọn thì chàng dùng mới thuận tay.”
“Ta thuận tay hay không không quan trọng--”
“Quan trọng.” Tôi xếp gọn một chiếc áo trong bỏ vào rương, “Bắc Cương lạnh, mang thêm hai cái. Đừng có gồng mình, đừng uống nước lạnh, đừng thức khuya.”
Chàng không nói gì.
Tôi ngẩng đầu lên, phát hiện chàng vẫn luôn nhìn mình.
“Nhìn gì?”
“Nhìn nàng.”
“Nhìn đủ chưa?”
“Nhìn cả đời cũng không đủ.” Chàng vươn tay kéo tôi lại gần, ôm ch/ặt lấy, “Cả đời cũng không đủ.”
“Từ khi nào chàng lại biết ăn nói như vậy rồi?”
“Học từ nàng đấy.”
Tôi rúc vào lòng chàng, lắng nghe nhịp tim của chàng.
“Cố Diễn Chi.”
“Ừ.”
“Nếu chàng dám ch*t ở Bắc Cương, ta sẽ tái giá.”
Cánh tay chàng siết ch/ặt lại.
“Không được phép.”
“Chàng không trở về thì tất nhiên là ta được phép.”
“Ta nhất định sẽ trở về.” Giọng chàng trầm xuống, thấp và kiên định, “Ta còn chưa nói hết những lời nàng dạy ta đâu.”
“Lời nào?”
“Lời nàng dạy ta nói-- câu 'Ta thích nàng' đó.”
“Câu này chàng chẳng phải đã nói rồi sao?”
“Nói rồi. Nhưng còn một câu chưa nói.”
“Gì cơ?”
Chàng buông tôi ra, hai tay nâng khuôn mặt tôi lên.
Ánh trăng rơi vào đáy mắt chàng, trong trẻo như một vũng suối nguồn.
“Đợi ta về rồi nói.”
--
Tháng đầu tiên sau khi Cố Diễn Chi đi, kinh thành đổ trận tuyết lớn nhất từ đầu mùa đông đến giờ.
Tôi khoác áo choàng đứng dưới hiên tiền sảnh, nhìn cả sân một màu trắng xóa.
Bà vú bưng bát canh gừng tới.
“Phu nhân, bên ngoài lạnh, vào nhà đi ạ.”
“Để ta đứng thêm lát nữa.”
“Thừa tướng trước khi đi đã dặn dò, bảo phu nhân chú ý sức khỏe, đừng để nhiễm lạnh.”
“Chàng ta quản cũng thật rộng. Người ở tận Bắc Cương mà tay đã vươn tới kinh thành rồi.”
Bà vú mỉm cười.
“Thừa tướng cứ ba ngày lại gửi một phong thư nhà, toàn là dặn dò chuyện sinh hoạt của phu nhân. Lão nô hầu hạ Thừa tướng mười lăm năm, chưa từng thấy ngài để tâm đến ai như vậy bao giờ.”
Tôi cúi đầu uống canh gừng, che giấu độ cong nơi khóe miệng.
Chàng quả thực cứ ba ngày lại gửi một bức thư.
Nội dung trong thư chẳng qua chỉ là--
“Kinh thành vào đông rồi, áo choàng dày của nàng ở tầng thứ ba trong tủ quần áo.”
“Ngày Lạp Bát bảo nhà bếp nấu cháo bát bảo, dùng công thức ta đã ghi chú.”
“Hoa mai trong sân chắc sắp nở rồi, nàng có thể c/ắt vài cành cắm vào bình. Trên bàn thư phòng có chiếc bình hoa, là ta cố ý để lại đấy--”
Những lời dặn dò tỉ mỉ đến từng chi tiết thế này, người bình thường đọc sẽ thấy lải nhải.
Nhưng mỗi lần đọc xong tôi đều sẽ đọc lại lần nữa.
Sau đó hồi âm một bức thư lải nhải không kém.
“Chàng bên đó có lạnh không? Đừng uống rư/ợu mạnh ở Bắc Cương, chàng không uống nổi đâu.”
“Đàm phán có thuận lợi không? Nếu không nói chuyện được thì cứ đá/nh họ, dù sao binh lính của cha ta cũng ở ngay bên cạnh.”
“Kinh thành mọi thứ đều ổn, Thái hậu gần đây rất yên tĩnh. Thanh Hòa mới học được món bánh quế hoa, đợi chàng về nếm thử.”
Mỗi lần gửi thư đi, tôi đều phải đợi sáu bảy ngày mới nhận được hồi âm.
Quá trình chờ đợi dài đằng đẵng như đã qua cả một năm.
--
Tháng thứ hai sau khi Cố Diễn Chi đi, cuộc đàm phán có tiến triển quan trọng.
Bắc Cương đồng ý rút quân hai trăm dặm, hai nước mở thông thương, thời hạn ba năm--
Nhưng có một điều kiện.
Bắc Cương Vương muốn gặp cha tôi.
Không phải gặp sứ thần, mà là gặp vị tướng cầm quân.
Điều kiện này bề ngoài có vẻ hợp lý, thực chất ẩn chứa sát cơ.
Mục đích thực sự của Bắc Cương Vương là thăm dò quân bài tẩy của nhà họ Thẩm.
Binh lực bao nhiêu, bố trí thế nào, tuyến tiếp tế lương thảo-- một cuộc “gặp mặt” có thể khai thác được vô số thông tin.
Cố Diễn Chi nhìn thấu điểm này.
Trong bức thư gửi cho tôi, chàng chỉ viết bốn chữ: “Để nhạc phụ từ chối.”
Tôi chuyển bức thư này cho cha tôi.
Cha tôi hồi âm ba chữ: “Đã biết.”
Sau đó ông làm một việc mà không ai ngờ tới.
Ông không từ chối gặp mặt.
Ngược lại, ông đi một cách đường hoàng.
Nhưng ông mang theo một người--
Là tôi.
Đúng vậy. Khi tôi nhận được thư của cha, người đã ở trên xe ngựa ra khỏi thành rồi.
“Cha, cha đi/ên rồi à? Đưa con đến Bắc Cương làm gì?”
“Ai nói đưa con? Ta đưa con đi gặp chồng con. Tiện thể cho Bắc Cương Vương xem, con gái nhà họ Thẩm của ta có tư chất thế nào.”
“Cái này thì liên quan gì đến tư chất?”
“Bắc Cương người ta kính trọng kẻ mạnh. Con còn lợi hại hơn chồng con, Bắc Cương Vương gặp con rồi, sẽ biết Đại Tề không dễ chọc.”
“Cha à, đây không phải thi hoa hậu--”
“Ai bảo con thi hoa hậu? Ta đang nói về khí thế!”
Tôi bị cha tôi cưỡng ép lôi đến Bắc Cương.
Hành trình nửa tháng, lạnh đến mức tôi suýt nghi ngờ nhân sinh.
Ngày đến đại doanh Bắc Cương, Cố Diễn Chi đứng ở cửa doanh trại.
Chàng mặc một chiếc áo choàng lông màu đen dày cộm, gương mặt bị gió Bắc thổi đến nứt nẻ, nhưng đứng thẳng tắp.
Khoảnh khắc nhìn thấy tôi, biểu cảm của chàng nứt ra một đường.
Trong đường nứt đó, tràn ra toàn là sự bất ngờ và vui mừng.
“Sao nàng lại tới đây?”
“Cha ta trói đến.”
Chàng nhìn người đang đứng sau lưng tôi là Thẩm đại tướng quân.
Cha tôi khoanh tay trước ngựk, vẻ mặt chính khí.
“Con rể, ta đưa vợ con tới rồi. Bắc Cương lạnh, con phải chịu trách nhiệm sưởi ấm cho nó đấy.”
Khóe miệng Cố Diễn Chi gi/ật gi/ật.
Sau đó chàng bước tới, cởi chiếc áo choàng của mình ra, khoác lên người tôi.
Chiếc áo choàng mang theo hơi ấm của chàng, ấm đến mức suýt nữa tôi rơi nước mắt.
“Có lạnh không?”
“Người Bắc Cương còn chẳng thấy lạnh, ta lạnh cái gì.”
“Nàng không phải người Bắc Cương.”
“Ta là vợ chàng, chàng ở đâu ta ở đó, không lạnh.”
Chàng nhìn tôi một cái, khóe miệng cong lên.
Sau đó cúi đầu, hôn lên trán tôi một cái.
Cha tôi ở phía sau ho sù sụ.
“Trước mặt nhạc phụ mà lại--”
“Nhạc phụ đại nhân, đây là lễ nghi của Bắc Cương, biểu thị sự chào đón.”