Nhưng hôm qua ông ấy đã khuyên ba tôi rồi.

"Đại Sơn, chuyện này không được thay đổi, Kỳ Niên làm mười hai năm rồi--"

"Trưởng thôn Mã, chuyện nhà tôi, cần ông quản sao?"

Câu đó của ba tôi bịt miệng trưởng thôn Mã ch/ặt cứng.

Trong làng, Thẩm Đại Sơn có hai đặc điểm: một là giọng to, hai là không biết lý lẽ. Hai cái cộng lại, cơ bản không ai nói lại được ông ta.

Thế nên trưởng thôn Mã chọn cách im lặng.

Im lặng, rồi đứng ở hàng đầu, nhìn Thẩm Quang Tông biến điệu múa Nho thành sự kết hợp giữa thể dục nhịp điệu và túy quyền.

--

Ba vòng múa Nho kết thúc.

Trong tình huống bình thường, múa Nho xong, đồng cờ phải quỳ trước tượng thần, hai tay giơ cao, chờ đợi "hạ đàn".

Dấu hiệu hạ đàn là--đồng cờ đột nhiên cứng đờ người, sau đó r/un r/ẩy dữ dội, cuối cùng đứng dậy, nhưng ánh mắt, giọng nói, cử chỉ hoàn toàn biến thành một người khác.

Đó không phải là diễn.

Là thật sự có "thứ gì đó" nhập vào.

Tôi đã trải qua ba mươi sáu lần. Cảm giác mỗi lần đều khác nhau, nhưng có một điểm chung: một giây trước khi hạ đàn, bạn sẽ ngửi thấy một mùi.

Không nói rõ cụ thể là mùi gì.

Giống như gỗ rất lâu năm, giống bùn đất trong rừng sâu, giống phiến đ/á xanh sau mưa, lại giống tro lư hương trong miếu thờ lâu năm không tu sửa.

Loại mùi đó xuất hiện, nghĩa là "cô ấy" đã đến.

Tôi ngồi xổm dưới mái hiên tiệm tạp hóa, trong mũi toàn mùi gói cay, chẳng ngửi thấy gì cả.

Nhưng lòng bàn tay tôi đang đổ mồ hôi.

Cả ngôi làng vào khoảnh khắc đó im bặt.

Pháo ngừng, trống chiêng ngừng, ngay cả gió cũng ngừng.

Hơn ba trăm dân làng chen chúc trong ngoài từ đường, vươn cổ nhìn chằm chằm Thẩm Quang Tông đang quỳ trước tượng thần.

Năm giây.

Mười giây.

Ba mươi giây.

Một phút.

Thẩm Quang Tông quỳ ở đó, hai tay giơ cao, duy trì tư thế "thỉnh thần".

Chẳng có chuyện gì xảy ra cả.

Không cứng đờ. Không r/un r/ẩy. Không có mùi vị. Không có thứ gì "nhập vào".

Thằng em tôi cứ quỳ như vậy, hai tay giơ giữa không trung, chân bắt đầu run--không phải kiểu run khi hạ đàn, mà là kiểu run do quỳ tê chân.

Lại qua ba mươi giây.

Cánh tay Thẩm Quang Tông cũng bắt đầu run.

Nó lén quay đầu nhìn ba tôi một cái, môi mấp máy không tiếng động.

Tôi không cần đọc khẩu hình cũng biết nó đang nói gì--

"Ba, lâu thế? Con mỏi tay quá."

Mặt ba tôi đen như đít nồi, rít qua kẽ răng một chữ: "Đợi!"

Được. Đợi.

Lại đợi thêm hai phút.

Cánh tay Thẩm Quang Tông đang hạ xuống thấy rõ. Hai tay vốn giơ quá đầu, giờ đã hạ xuống ngang tầm tai.

Thêm một phút nữa, hạ xuống ngang vai.

Thêm ba mươi giây, hạ xuống ngang ngựk.

Cuối cùng, "bộp", hai tay vỗ vào đùi.

"Không giơ nổi nữa!" Thẩm Quang Tông nói lớn, "Mẹ! Chân con tê quá!"

Ba trăm đôi mắt trong trường nhìn nó.

Im lặng.

Im lặng như ch*t.

Chỉ có tiếng mẹ tôi, xuyên qua đám đông, chính x/ác và vang dội:

"Quang Tông! Con cố thêm chút nữa! Cô nương có lẽ đang trên đường đến đấy!"

Trên đường.

Cô nương đi bằng phương tiện giao thông gì?

Grab à?

Tắc đường sao?

Tôi nhét miếng gói cay cuối cùng vào miệng, nhai nát rồi nuốt xuống. Vết thương trên môi lại rá/ch ra, vị m/áu và vị ớt trộn lẫn vào nhau.

Nếu không có gì bất ngờ xảy ra, tiếp theo--

Sẽ đến lúc xảy ra bất ngờ rồi.

【Chương Ba】

Bất ngờ đến còn nhanh hơn tôi dự tính.

Khoảnh khắc Thẩm Quang Tông bò dậy từ dưới đất, chiếc lư hương đồng lớn nhất trong chính điện từ đường--thứ đồ cổ tám mươi cân được cho là cùng tuổi với ngôi làng--

N/ổ tung.

Không phải đổ, không phải nứt.

Là n/ổ tung.

Một tiếng "bùm" trầm đục, giống như tiếng quả dưa hấu rơi từ tầng năm xuống nền xi măng, nắp lư hương bằng đồng b/ắn ra, "keng" một tiếng đ/ập vào bàn thờ cách đó ba mét, làm đĩa bánh gà vỡ nát.

Thân lư hương nứt một đường từ giữa, tro hương ch/áy không biết bao nhiêu năm phun ra từ khe nứt như vòi nước áp lực cao, "phụt" một cái tạt đầy mặt Thẩm Quang Tông.

Thằng em tôi trở thành một người tro bụi.

"Phụt--khụ khụ khụ khụ!!!" Thẩm Quang Tông lảo đảo lùi lại hai bước, đi/ên cuồ/ng dụi mắt, "Cái quái gì thế!!! Ai đ/ốt pháo đấy!!!"

Không ai đ/ốt pháo cả.

Vì pháo đã đ/ốt hết trước khi nghi lễ bắt đầu, xâu còn lại vẫn chưa bóc tem, xếp ngay ngắn trên bậc thềm cửa từ đường.

Huống hồ pháo không thể làm n/ổ lư hương đồng tám mươi cân.

Tiếng n/ổ này làm hơn chục dân làng đứng hàng đầu sợ hãi ngồi thụp xuống, người hàng sau giẫm chân nhau lùi ra cửa, làm vương vãi đầy đất lạc, hạt dưa và chai nước khoáng.

Chỉ có Mã Đức Quý không động đậy.

Ông ấy đứng tại chỗ, sắc mặt từ xanh mét chuyển thành trắng bệch, hai con ngươi dán ch/ặt vào chiếc lư hương n/ổ nát kia, yết hầu cuộn lên cuộn xuống mãi, vẫn không phát ra tiếng.

"Đại Sơn." Sau một hồi lâu, Mã Đức Quý lên tiếng, giọng khàn đặc, "Ông xem cái này đi."

Ba tôi Thẩm Đại Sơn chen qua đám đông, cúi đầu nhìn--

Trên vách trong của lư hương đồng đã n/ổ tung, phần đáy vốn bị tro hương dày đặc che phủ, giờ đây đã lộ ra.

Trên đáy khắc một chữ.

"Kỳ".

Chính x/ác mà nói, là văn bia thợ thủ công khắc ở đáy khi đúc lư hương này một trăm hai mươi năm trước: "Kỳ--phong niên, an bách tính, tí vạn hộ" (Cầu--năm được mùa, dân an lành, che chở vạn nhà).

Nhưng lúc này, nét bút của chữ đầu tiên "Kỳ" đặc biệt sâu, sâu đến mức như thể có người dùng đinh khắc lại một cách hung tợn.

Những chữ còn lại, nứt sạch.

Chỉ còn lại một chữ "Kỳ", khảm trên vách đồng n/ổ tung, trơ trọi.

Mã Đức Quý nhìn chữ đó, rồi lại nhìn ba tôi.

Danh sách chương

Có thể bạn quan tâm

Bình luận

Đọc tiếp

Bảng xếp hạng

Mới cập nhật

Xem thêm