Tôi từng đi ngang qua nơi đó trên đường xuôi nam, khắp núi đều là vườn trà.
Người đứng đầu đoàn thương lái nói với tôi, trước khi Tị Hà Ổ bị ngập, trà ở đó thực ra không được coi là hạng nhất.
Điểm hơn là nhờ kề bên sông, sương m/ù dày, búp trà mọc non, pha ra hơi đắng, nuốt xuống hồi lâu mới có hậu vị ngọt.
Bạch Thạch Lĩnh lại khác.
Đất ở đó nhiều cát sỏi, vị trà thanh, vừa chạm đầu lưỡi đã thấy ngọt.
Người làm nghề buôn trà mấy chục năm, uống một ngụm là phân biệt được ngay.
"Mấy hộp trà nhà cô nhận được, toàn bộ đều là trà tiền Cốc Vũ của Bạch Thạch Lĩnh."
Ông ấy nói xong, lại có chút lạ lùng.
"Tôi cứ tưởng cô biết chứ."
"Tôi biết gì cơ?"
"Thì đây vốn là trà nhờ chúng tôi gửi đi mà."
Hóa ra mỗi năm trước khi đoàn thương lái này đi về phía bắc, đều sẽ đi ngang qua trấn Bạch Thạch.
Trong trấn có một tiệm trà cũ, tiệm sẽ chuẩn bị sẵn một hộp trà mới, cùng với một phong thư đã dán kín, đưa cho họ.
Trên đó viết địa chỉ nhà tôi, tiền công vận chuyển đã có người trả từ trước, họ chỉ việc mang đến phương bắc.
Tôi nghe mà tay chân lạnh ngắt.
"Ai đưa cho tiệm trà?"
Người đứng đầu đoàn thương lái lắc đầu.
"Cái này thì tôi không rõ.
"Chúng tôi mỗi năm qua tay mấy trăm, mấy ngàn cân trà, tiện tay giúp người ta gửi phong thư, mang chút đồ đạc là chuyện thường tình.
"Lần đầu tiên tôi giao trà cho nhà cô, chưởng quầy tiệm trà đã nói, đây là khách quen dặn dò lại."
"Tám năm, năm nào cũng vậy sao?"
"Năm nào cũng vậy."
Tôi cúi đầu nhìn hộp trà trong tay, góc hộp còn dính chút vụn trà.
Để không làm bay mất hương trà, mỗi lần nhận được mẹ đều không nỡ mở nhiều, thường chỉ lấy một nhúm nhỏ để pha, cả nhà mỗi người chia nửa chén, phần còn lại cất giữ cẩn thận.
Bà luôn nói: "Đây là mùa xuân từ chỗ con gái út của mẹ đấy."
Tám năm.
Thứ mà mẹ không nỡ uống hết, căn bản không phải là trà của Tị Hà Ổ.
Tôi đột nhiên thấy hơi khó thở.
"Đi trấn Bạch Thạch."
Tôi gấp thư nhét vào trong áo.
"Đi ngay bây giờ."
Người đứng đầu đoàn thương lái nhìn trời, mặt trời đã ngả về tây.
"Hơn bốn mươi dặm đường, chạy đến nơi cổng thành cũng đóng khóa rồi. Chi bằng sáng mai--"
"Mẹ tôi vẫn đang ở nhà đợi."
Tôi ngắt lời ông ấy.
Giọng nói thốt ra khiến chính tôi cũng gi/ật mình, khản đặc vô cùng.
"Bà ấy không đợi nổi nữa."
Không ai khuyên nhủ thêm.
Đoàn thương lái tháo một con ngựa chạy nhanh nhất cho tôi.
Tôi không biết cưỡi ngựa, chỉ có thể ôm ch/ặt lấy cổ ngựa, để người đứng đầu đoàn thương lái cầm dây cương thúc ngựa đi trước.
Đi được chưa đầy mười dặm, chút lương khô trong dạ dày tôi đã nôn ra sạch.
Nôn xong lại tiếp tục đi.
Trước kia tôi sợ nhất là ngồi xe nhanh.
Hồi nhỏ cùng em gái đi trẩy hội chùa, xe bò đi nhanh một chút, tôi đều phải ôm lấy nó mà kêu ca, nói rằng ruột gan sắp xóc đ/ứt ra rồi.
Em gái lại cười tôi vô dụng.
Nó gan dạ hơn tôi.
Dám leo cây, dám xuống sông, năm mười hai tuổi còn lén cưỡi con la nhà hàng xóm, ngã đến mức nửa mặt toàn là bùn, về nhà bị mẹ đuổi đá/nh chạy suốt ba con phố.
Nghĩ đến đây, mắt tôi cay xè, vội vàng cúi đầu xuống.
Tôi không được nghĩ lung tung, em gái chỉ là chuyển nhà thôi, trà chỉ là nhờ người khác m/ua hộ.
Tị Hà Ổ không còn nữa, không có nghĩa là người cũng không còn.
Trên đời này người giàu còn thích đặt tên nhà mình là "Sơn Cư", "Thủy Tạ", rõ ràng trước cửa chẳng có lấy một cái vũng nước.
Có lẽ nhà chồng em gái cũng có cái thói này.
Tôi dọc đường nghĩ cho họ bảy tám cái lý do.
Đến khi tới trấn Bạch Thạch, chân đã tê cứng đến mức không còn cảm giác là của mình nữa.
Tiệm trà vừa chuẩn bị đóng cửa gỗ, người đứng đầu đoàn thương lái cách nửa con phố đã hét lớn:
"Chưởng quầy! Đừng đóng vội!"
Sau quầy ló ra một cái đầu bạc trắng.
Lão nhân nhận ra ông ấy, cười m/ắng:
"Làm gì mà như đòi mạng thế? Hàng năm nay chẳng phải đã đưa cho ngươi rồi sao?"
Bước chân tôi khựng lại.
Hàng năm nay, chính là hộp này trong tay tôi.
Tôi vịn vào khung cửa đi vào.
"Lão nhân gia, tôi muốn hỏi, trà này là ai nhờ ông gửi vậy?"
4
Chưởng quầy tiệm trà tai hơi nặng, tôi hỏi đến hai lần, ông ấy mới nghe rõ.
Sau đó, ông ấy nheo mắt nhìn tôi, lại nhìn hộp trà trong tay tôi.
"Từ phương bắc tới?"
Tôi gật đầu.
Ông ấy cũng không từ chối, chỉ bảo tôi đợi chút, rồi xoay người đi vào phòng trong.
Tiệm trà rất nhỏ, dựa tường bày mấy cái sàng tre, góc phòng đặt một cái chảo sắt lớn để sao trà, đáy chảo vẫn còn hơi ấm, trong phòng toàn mùi trà mới được hong qua lửa.
Tôi đứng ở trong đó, lại ngửi mà lòng hoảng lo/ạn.
Không lâu sau, chưởng quầy ôm một cuốn sổ cái đi ra.
Sổ cái rất dày, mép giấy đã sờn rá/ch.
Ông ấy đeo kính lão, chấm nước bọt lật vài trang, cuối cùng dừng lại ở một trang.
"Đây."
Tôi vội vàng ghé vào.
Trang đó đã ố vàng, trên cùng ghi là tám năm trước, chữ không nhiều.
【Một hộp trà tiền Cốc Vũ, gửi đất phương bắc...】
Bên dưới, là địa chỉ nhà tôi.
Không sai một chữ.
Càng về sau, cứ cách một năm, lại có một bút ký tương tự.
Trà đều là một hộp, đóng gói trước tiết Cốc Vũ, địa chỉ cũng là một.
Tôi nhìn theo những dòng năm tháng đó xuống dưới.
"Là ai đến đặt vậy?"
Chưởng quầy nhíu mày suy nghĩ một hồi.
"Là một người đàn ông trẻ tuổi."
"Dáng vẻ thế nào?"
"Đã tám năm rồi, làm sao nhớ nổi."
Tôi lo lắng đến mức lòng bàn tay đổ mồ hôi.
"Vậy năm nào anh ta cũng đến sao?"
Chưởng quầy ngẩng đầu nhìn tôi, "Năm nào cũng đến?"
Thần sắc ông ấy có chút kỳ lạ.
"Ai nói với cô là năm nào cậu ta cũng đến?"
Tôi sững người.
Chưởng quầy lật ngược cuốn sổ lại một trang, ngón tay điểm vào bên cạnh dòng chữ tám năm trước.
Ở đó còn một dòng chữ nhỏ, lúc trước tôi hoảng lo/ạn, thế mà không nhìn thấy.
【Tiền trà mười năm, thanh toán một lần.】
Tôi nhìn chằm chằm vào mấy chữ đó, chỉ cảm thấy sống lưng lạnh toát từng chút một.
"Mười năm?"
"Đúng vậy," chưởng quầy nói.
Mùa xuân tám năm trước, một người đàn ông trẻ tuổi đến tiệm, trả một lần tiền trà và tiền công vận chuyển cho mười năm.