“Ghi địa danh cũ vào quê quán là chuyện bình thường.”
Em út đã tin. Giờ tôi mới hiểu, ba chữ đó không phải viết sai, mà là cố tình viết cho chúng tôi xem.
“Sau khi em phát hiện khế ước giả thì sao?”
“Em đã hỏi anh ta.”
“Anh ta nói gì?”
Em út cười nhạt.
“Anh ta bảo, đừng tra nữa.”
Nó không chịu. Sau đó, từ miệng một lão thợ trà s/ay rư/ợu, nó nghe được một câu: “Lấy mạng của một ổ người để bảo toàn trà.”
Nó lần theo sổ sách cũ của năm lũ lụt để tìm ki/ếm, cuối cùng lật ra một khoản tiền công kỳ lạ.
Ba mươi sáu phu phen, cọc gỗ, xẻng sắt, và hai trăm lượng bạc gửi đến nha môn huyện.
Trên sổ chỉ ghi sáu chữ:
【Chặn cửa đông, mở đê tây.】
Năm đó mưa rất lớn. Ao tích nước trên núi nhà họ Bạch không trụ nổi, theo dòng nước cũ thì phải xả về phía đông.
Phía dưới phía đông là ba trăm mẫu trà mới trồng của nhà họ Bạch.
Thế là họ chặn cửa đông, đào vỡ con đê cũ phía tây.
Phía dưới phía tây? Chính là Tị Hà Ổ.
Tôi lặng người đi, hồi lâu sau mới hỏi:
“Em rể có biết không?”
Em út nói: “Đêm đó anh ta cũng ở đó.”
Hai mươi tuổi. Theo cha đi, chính tay anh ta đã đóng cọc gỗ vào cửa đông.
Khi em út lần đầu cầm sổ sách cũ đối chất, anh ta không phủ nhận.
Chỉ bảo nó: “Lúc đó không còn cách nào khác.”
Nếu ba trăm mẫu trà bị hủy, n/ợ nần của nhà họ Bạch không trả nổi, hàng trăm phu trà cũng sẽ ch*t đói.
Em út hỏi:
“Thế còn Tị Hà Ổ thì sao?”
Anh ta nói:
“Mưa lớn như vậy, dù không mở đê tây, họ cũng chưa chắc đã sống được.”
Tôi bóp ch/ặt lá trà, nhựa xanh dính đầy tay. Bỗng nhiên tôi rất muốn hỏi người chèo đò kia, đêm đó khi anh ta hai mươi bảy tuổi, cõng mẹ già bơi trong nước, có bao giờ nghĩ rằng bản thân mình vốn dĩ đáng ch*t hay không.
11
Em út nói muốn báo quan. Chồng nó không trả lời, chỉ bày những khế ước do nó tay ghi ra bàn.
“Đây là chữ của em, ấn cũng là của em.
“Em định đi kiện cái gì?”
Nếu tra thật, nhà họ Bạch có thể vu cho nó tội tự ý sửa khế ước, chiếm đoạt đất trà. Những người đã ch*t kia cũng chẳng thể từ dưới m/ộ bò lên làm chứng cho nó.
Nó muốn viết thư về nhà, thư bị chặn. Muốn tự bỏ đi, giấy thông hành và hôn thú đều nằm trong tay nhà họ Bạch.
Lần đầu tiên nó chạy đến trấn Bạch Thạch, nhà họ Bạch báo quan ngay, nói nhị phu nhân phát b/ệnh t/âm th/ần, sai dịch nha môn lại áp giải nó về.
Lần thứ hai, nó nhờ một lão thợ trà nhắn lời. Ngày hôm sau, cả nhà người đó bị đuổi khỏi Bạch Thạch Lĩnh.
Sau đó, nó không cầu c/ứu nữa, bắt đầu chép sổ sách.
Khi chồng nó phát hiện, anh ta quăng cho nó một xấp giấy.
“Mẹ và chị em ở đâu, tôi đều biết cả, đừng để họ bị liên lụy.”
Thế là em út viết mười phong thư gia đình.
Tôi hỏi: “Tại sao lại đúng mười phong?”
“Em tự định ra.”
Nó nói: “Em không chịu viết nhiều hơn.”
Chồng nó hỏi, mười năm sau thì tính sao.
Nó bảo: “Mười năm sau, chuyện lớn đến đâu cũng nên qua rồi.”
Anh ta đồng ý. Vì vậy trong lá thư thứ mười, em út mới viết--
Nó muốn về nhà.
Đó là kỳ hạn để lại cho chúng tôi, cũng là để lại cho chính nó.
“Thế còn chuyện con cái là sao?”
Em út im lặng, tôi hỏi lại lần nữa, nó mới lí nhí:
“Mẹ muốn bế cháu ngoại.
“Đằng nào cũng lừa rồi… thì viết mấy điều mẹ thích nghe.”
Tôi giơ tay, nó theo phản xạ che đầu. Cuối cùng tôi chỉ chỉnh lại khăn trùm đầu cho nó.
“Đồ ngốc, ch*t đi cho rồi.”
Nó ồ một tiếng, một lúc sau lại hỏi:
“Mẹ có g/ầy đi nhiều không?”
Tôi bảo có.
“Còn ăn được không?”
“Mỗi bữa nửa bát cháo.”
Nó không nói gì nữa. Hồi lâu sau, bảo:
“Chúng ta làm nhanh việc bên này đi.
“Em muốn về nhà.”
12
Tôi đưa em út đến bến cũ, người chèo đò đang vá lưới rá/ch ở bờ sông. Thấy nó, ông ấy không nhận ra là ai. Đến khi tôi kể hết mọi chuyện, tay ông ấy từ từ dừng lại.
“Nước mười năm trước, là do người mở?”
Em út gật đầu. Ông ấy ngồi đó, hồi lâu không động đậy. Rồi đứng dậy.
“Dẫn tôi đi xem.”
Chúng tôi đến trà sơn cũ. Người chèo đò đi nhanh hơn bất cứ ai. Ông ấy bảo trước đây mỗi khi đến tiết Cốc Vũ, ông đều thay nhà vợ gánh trà xuống núi, hòn đ/á nào trơn, con dốc nào gần, ông đều nhớ rõ.
Đến nửa sườn núi, phía trước xuất hiện một đoạn máng đ/á đã bỏ hoang, người chèo đò bỗng dừng lại. Ông ngồi xổm xuống, gạt lớp lá khô bên trên, trên đ/á có một hàng vết đục rất sâu.
“Trước đây không có cái cửa này.”
Em út hỏi: “Chắc chắn chứ?”
Người chèo đò ngẩng đầu.
“Năm đó tôi hai mươi bảy, không phải bảy tuổi.”
Ông ấy men theo máng đ/á đi xuống, cuối cùng đứng trước một đoạn đê cũ đã sập. Phía dưới, chính là Tị Hà Ổ của mười năm trước.
Ông ngồi nhìn rất lâu, bỗng nói:
“Đêm đó con trai tôi vừa mới biết gọi cha.”
Không ai đáp lời.
“Bình thường tôi chèo đò về, nó nghe tiếng bước chân là bò ra đón.
“Lúc nước vào nhà, chắc nó cũng đang tìm tôi.”
Khi ông nói những lời này, giọng điệu rất bình thản, giống hệt lần đầu tôi gặp ông. Sau đó ông đứng dậy.
“Đi.”
Tôi hỏi: “Đi đâu?”
“Tìm bằng chứng. Chỉ dựa vào mấy hòn đ/á, nhà họ Bạch có thể bảo là do lũ cuốn.”
Ông ấy sống thêm mười năm, còn hiểu rõ hơn chúng tôi, muốn đòi n/ợ cho người ch*t, chỉ khóc thôi thì vô dụng.
13
Chúng tôi không tìm sổ sách nhà họ Bạch nữa. Nhà họ Bạch có thể đ/ốt, cũng có thể sửa.
Chúng tôi bắt đầu lần theo đường trà để tìm ra ngoài.
Người thương lái dẫn đầu là người đầu tiên mang sổ cũ ra.
Sáu năm trước, ông ấy từng vận chuyển ba mươi cân “Tị Hà lão chủng” cho một tiệm trà.
Năm năm trước, bốn mươi hai cân.
Trước đó nữa vẫn còn.
Nhưng sau trận lũ, nha môn huyện rõ ràng đã ban văn thư: 【Tị Hà cũ sập đổ, phong tỏa núi, cấm vào.】