Giọng bà lão không nhanh không chậm: "Hiểu Tình đã hai mươi tuổi rồi, muốn đi dạy học tình nguyện là chuyện tốt, con ngăn cản nó làm gì?"
"Chuyện tốt? Nơi đó đến cái b/ệnh viện ra h/ồn cũng không có, ngộ nhỡ..."
"Ngộ nhỡ cái gì? Hồi con còn trẻ chẳng phải cũng từng đi xuống nông thôn cắm chốt đấy sao? Điều kiện lúc đó còn tệ hơn bây giờ nhiều, con chẳng phải vẫn bình an vô sự đó sao?"
Vương Mỹ Lan bị nghẹn lời, im lặng vài giây, rồi giọng điệu thay đổi, mang theo chút tủi thân: "Mẹ, con biết mẹ luôn coi thường con. Nhưng Hiểu Tình là con gái con, con xót nó thì có gì sai?"
Bà lão không đáp lời này.
Tôi đứng ngoài cửa một lúc, đợi bên trong yên tĩnh rồi mới gõ cửa.
"Vào đi."
Tôi bưng khay bước vào, mắt không nhìn ngang liếc dọc, đặt bữa sáng lên bàn. Vương Mỹ Lan ngồi trên chiếc ghế bên cạnh, vành mắt hơi đỏ, thấy tôi vào liền lập tức sầm mặt, đứng dậy nói: "Mẹ, con đi trước đây."
Khi bà ta đi ngang qua tôi, bước chân khựng lại, liếc nhìn tôi một cái, trong ánh mắt đó có chút chật vật, cũng có chút cảnh cáo.
Tôi không nhìn bà ta, chuyên tâm bày bát đũa.
Sau khi bà ta đi, bà lão thở dài, cầm đũa gắp một miếng thức ăn, bỗng nhiên hỏi tôi: "Dì Triệu, bà có con cái không?"
Tôi sững người.
Câu hỏi này, tôi chưa từng nghĩ tới. Tôi làm việc trong cung cả đời, lấy đâu ra con cái? Nhưng tôi không thể nói như vậy. Tôi trả lời một cách mơ hồ: "Không có ạ."
Bà lão gật đầu, không nói gì thêm.
Nhưng tôi chú ý thấy, bữa sáng hôm nay bà ăn ít hơn bình thường. Bát cháo chỉ uống hai ngụm, bánh quế hoa thậm chí không đụng đến.
Khi dọn bát đũa, tôi suy ngẫm trong lòng. Bà lão tuy miệng cứng rắn, nhưng những lời đó của Vương Mỹ Lan vẫn khiến bà không thoải mái. Không phải vì Vương Mỹ Lan, mà là vì cô cháu gái Hiểu Tình.
Bà nhớ cháu gái rồi.
Chiều hôm đó, tôi làm một đĩa điểm tâm, bánh đậu xanh, ngọt mà không ngấy, tan ngay trong miệng. Tôi bưng khay đưa vào phòng bà lão.
Bà lão đang nằm nghiêng trên sập chợp mắt, nghe tiếng động liền mở mắt ra, nhìn thấy đĩa điểm tâm, hơi ngẩn người.
"Đây là gì?"
"Bánh đậu xanh ạ." Tôi đặt khay lên bàn trà nhỏ, "Trời hơi nóng, ăn chút bánh đậu xanh cho hạ hỏa ạ."
Bà lão ngồi dậy, cầm một miếng cắn một miếng. Nhai hai cái, lại cắn thêm miếng nữa.
"Vị khá lắm." Bà nói một câu, rồi bỗng nhiên hỏi tôi, "Bà có cho bạc hà vào không?"
"Con có cho một chút ạ." Tôi đáp. Trong phòng bà lão quanh năm thoang thoảng mùi đàn hương, đàn hương tính nóng, kết hợp với bạc hà có thể trung hòa một chút. Chuyện này ông Chu không dặn tôi, là tôi tự ngửi ra.
Bà lão nhìn tôi một cái, ăn hết miếng bánh đậu xanh đó, rồi lại lấy thêm một miếng.
Ăn xong miếng thứ hai, bà bỗng nói một câu không đầu không cuối: "Con bé Hiểu Tình, từ nhỏ đã thích ăn bánh đậu xanh."
Tôi không tiếp lời.
Bà lão lại nói: "Mẹ nó không cho nó ăn đồ ngọt, bảo là sẽ b/éo lên. Lần nào cũng là tôi lén làm cho nó ăn."
Tôi vẫn không tiếp lời, chỉ rót thêm một chén trà cho bà.
Bà lão nâng chén trà, nhìn ra ngoài cửa sổ, im lặng rất lâu, rồi nói một câu: "Dì Triệu, bà là người ít nói, nhưng trong lòng rất tường tận."
Tôi khẽ khom người: "Hầu hạ phu nhân là bổn phận của con ạ."
Bà lão mỉm cười, nụ cười đó có chút đắng chát, cũng có chút nhẹ nhõm.
Từ đó trở đi, thái độ của bà lão đối với tôi rõ ràng đã khác. Không phải là thân thiết hơn, mà là... tự nhiên hơn. Bà không còn lúc nào cũng giữ vẻ uy nghiêm để thử thách tôi nữa, đôi khi còn chủ động nói chuyện với tôi vài câu.
Ví dụ như một hôm bà thấy tôi phơi ga giường ngoài sân, bỗng nói một câu: "Cách bà phơi ga giường không giống người khác."
Thói quen phơi ga giường của tôi được hình thành từ trong cung, trước tiên giũ ra, sau đó gấp đôi, lại giũ ra, trải phẳng rồi phơi, như vậy sau khi khô sẽ không có nếp nhăn, không cần ủi. Tôi không ngờ bà lão đến điều này cũng để ý.
"Thói quen hình thành từ nhỏ ạ." Tôi nói.
"Vị phu nhân mà bà hầu hạ trước kia chắc là người rất cầu kỳ nhỉ?"
Tôi suy nghĩ một chút, nói thật: "Vâng, rất cầu kỳ ạ."
Bà lão gật đầu, không hỏi thêm nữa.
Nhưng trong ánh mắt bà nhìn tôi, đã có thêm một tầng ý nghĩa.
Tầng ý nghĩa đó gọi là "tin tưởng", cũng gọi là "tò mò".
Tôi biết, bà lão đã bắt đầu suy đoán về lai lịch của tôi rồi.
Một người phụ nữ hơn năm mươi tuổi, quy củ đàng hoàng, ít nói nhưng câu nào cũng trúng trọng tâm, món ăn làm hợp khẩu vị của bà, đến cả phơi ga giường cũng có quy tắc riêng, người như vậy không thể nào là người xuất thân từ gia đình bình thường được.
Nhưng bà không hỏi, và tôi cũng không nói.
Có những chuyện, không nói ra vẫn tốt hơn là nói.
Đến ngày thứ bảy ở nhà họ Lâm, tôi cơ bản đã nắm rõ sinh hoạt thường ngày của bà lão.
Bà thức dậy vào sáu giờ rưỡi mỗi sáng, ngồi trên giường một khắc mới đứng dậy. Sau khi dậy phải uống một cốc nước ấm, rồi đi dạo một vòng trong sân.
Bà hiện tại chân tay không tốt, đi chậm, nhưng ngày nào cũng đi, không bỏ ngày nào. Đi dạo xong về ăn sáng, bữa sáng ăn không nhiều, nhưng nhất định phải có cháo, cháo phải ninh thật sánh.
Buổi sáng xem sách hoặc nghe hát, bữa trưa ăn nhiều hơn một chút, đặc biệt thích ăn cá.
Nghỉ trưa nửa canh giờ, buổi chiều ngồi ở hoa sảnh, ngắm hoa trong sân, đôi khi sẽ bảo tôi ngồi trò chuyện cùng bà.
Bữa tối ăn ít, một bát canh vài miếng rau là đủ. Tám giờ rưỡi tối đúng giờ lên giường đi ngủ.
Bà có bốn loại th/uốc: một loại hạ huyết áp, một loại bổ tim, một loại canxi, và một loại an thần.
Ông Chu đã chia th/uốc vào một chiếc hộp bảy ngăn, ngày nào cũng uống theo ngăn. Nhưng tôi chú ý thấy bà lão đôi khi quên, đôi khi cố tình không uống, loại th/uốc an thần bà không muốn uống lắm, bảo là uống xong ngày hôm sau đầu óc cứ choáng váng.