Ngày chồng cũ đề nghị ly hôn với tôi, anh ta đã nói một câu mà cả đời này tôi không bao giờ quên được.
“Đằng nào cô cũng không đẻ được, mang một đứa đi đi. Như vậy sau này cũng có người phụng dưỡng tuổi già.”
Lúc đó tôi đã định nói: Mang cả hai đứa đi, đứa nào cũng là khúc ruột của mình cả.
Tôi bị vô sinh bẩm sinh, hai đứa con duy nhất chính là hai đứa con riêng mà chồng cũ mang về.
Tôi luôn tự tay chăm sóc chúng, không khác gì con ruột của mình.
Nhưng em gái tôi nghe xong liền nổi gi/ận đùng đùng.
“Dựa vào đâu mà cái gì tốt x/ấu cũng ném sang cho chị!”
“Đã chọn thì phải chọn đứa tốt nhất!”
1.
Tôi tên là Tân Nguyễn, năm nay bốn mươi tuổi.
Mười năm trước khi gả cho Lý Phong, vợ trước của anh ta đã bỏ theo người khác, để lại hai cậu con trai năm tuổi.
Là cặp song sinh, ngoại hình giống hệt nhau nhưng tính cách lại khác biệt một trời một vực.
Thằng cả Lý Thanh, là một kẻ lầm lì, cái gì cũng giấu trong lòng; thằng thứ hai Lý Trác, không giấu được cái gì, tất cả đều hiện rõ trên mặt.
Tôi bị vô sinh bẩm sinh.
Nhưng ngay ngày đầu tiên bước chân vào nhà, mẹ chồng đã nắm tay tôi nói: “Không sao cả!”
“Phong đã có hai đứa con rồi, con không đẻ cũng tốt, coi như tự tay nuôi dạy con mình vậy!”
Mẹ tôi cũng liên tục gọi điện dặn dò tôi.
“Con là mẹ kế, không được thiên vị, nếu không người ta sẽ nói con không dung nổi con chồng.”
“Đã không thể sinh đẻ thì phải đối xử với chúng gấp đôi, như vậy sau này chúng mới nhận con!”
Tôi đã tin.
Từ đó, tôi dồn hết tâm trí vào chúng, đối xử với hai đứa con riêng một cách công bằng.
Giá tiền quần áo m/ua cho chúng phải bằng nhau, thời gian kèm cặp bài vở phải ngang nhau, tiền tiêu vặt, quà sinh nhật, số lần đi họp phụ huynh, tôi đều ghi chép lại đầy đủ, chỉ sợ không công bằng.
Lý Phong thấy vậy còn cười tôi quá cẩn thận: “Đều là người một nhà, cần gì phải tính toán chi li đến thế?”
Anh ta không hiểu.
Tôi đã nếm đủ nỗi khổ của sự bất công rồi.
2.
Nhà tôi có bốn chị em, bố mẹ tôi từ nhỏ đã thiên vị mỗi đứa em trai.
Nếu trên bàn có bốn cái đùi gà, bố mẹ tôi sẽ gắp hết vào bát của em trai. Chỉ vì nó là đứa con trai duy nhất trong nhà.
Bố tôi đổ b/ệnh phải nghỉ làm ở nhà máy, lẽ ra chị gái tôi phải được thế chân vào làm.
Nhưng mẹ tôi muốn ki/ếm cho con trai một bát cơm sắt, nên đã giành lấy công việc đó để tự mình làm.
Chị gái tôi chưa học xong, công việc cũng không có, sau đó sớm lấy chồng, ở lại trong làng nửa đời người. Mấy năm trước tôi về thăm, thấy chị ngồi xổm ngoài sân cho gà ăn, tóc đã bạc một nửa, lưng cũng c/òng xuống.
Chị ấy mới bốn mươi hai tuổi.
Năm tôi hai mươi tuổi, tôi để ý một người, người đó không chê tôi, cũng là người thật thà.
Sính lễ vốn đã bàn xong, nhưng bố mẹ tôi chê ít, không đủ để xây nhà cho em trai, nên đã thẳng thừng nói với người ta là tôi bị dị tật bẩm sinh, rồi hủy hôn.
Sau đó người đó cưới người khác, sinh được hai đứa con. Tôi trì hoãn đến năm ba mươi tuổi mới gả cho Lý Phong, người đã qua một đời vợ và có con riêng.
Em gái út của tôi còn thảm hơn.
Hồi nhỏ nó học giỏi nhất, là đứa thông minh nhất trong bốn chị em chúng tôi.
Học xong cấp hai, bố tôi không cho nó học nữa. Giáo viên đến tận nhà thuyết phục, nói đứa trẻ này có thể đỗ vào Đại học Bắc Kinh.
Bố tôi vừa hút th/uốc vừa nói: “Con gái đọc nhiều sách như vậy để làm gì? Sớm muộn gì cũng phải đi lấy chồng thôi.”
Em gái tôi quỳ ngoài sân cả đêm, van xin ông, nhưng ông cũng không lay chuyển.
Trong khi em trai tôi thi trượt cấp ba ba năm liền, bố mẹ tôi vẫn v/ay tiền cho nó đi học lại.
Một năm không được thì hai năm, hai năm không được thì ba năm. Sau đó nó đỗ vào một trường trung cấp, bố mẹ tôi gặp ai cũng khoe “Con trai nhà tôi là người có học thức”.
Năm đó em gái tôi mười tám tuổi, nó m/ua một tấm vé tàu, không ngoảnh đầu lại mà đi về phía Nam làm thuê.
Ngày đi, nó ném cái cặp sách lên bếp lò, nói: “Bố, mẹ, đời này con sẽ không bao giờ quay lại nữa.”
Nó thực sự không bao giờ quay về nhà một lần nào nữa, cũng không bao giờ gọi tiếng bố mẹ thêm một lần nào nữa.
Trái tim của bố mẹ tôi đã lệch rồi.
Lệch đến mức ba đứa con gái chúng tôi bị chính cái nhà đó đẩy ra ngoài.
Vì vậy, tôi thề rằng, sau này nếu có con, tôi tuyệt đối sẽ không làm một người cha người mẹ thiên vị.
Đối với con cái, tôi phải công bằng.
Công bằng tuyệt đối.
3.
Chỉ là dù miệng tôi nói đối xử bình đẳng, nhưng cái cân trong lòng tôi thực ra đã sớm lệch đi rồi.
Lúc mới cưới, Lý Phong đưa tôi về nhà.
Trước khi vào cửa, anh ta đã dặn trước: Thằng cả sợ người lạ, thằng thứ hai hoạt bát, bảo tôi thông cảm.
“Lý Thanh, Lý Trác, mau gọi mẹ đi.”
Thằng cả Lý Thanh đứng đó, ngẩn người nhìn tôi rất lâu. Mãi mới nặn ra được một câu “Chào dì ạ”, rồi cúi đầu chạy mất.
Nhưng thằng thứ hai Lý Trác thì khác.
Vừa gặp mặt, nó đã lao thẳng tới, đ/âm vào người làm tôi lảo đảo lùi lại một bước.
Hai cánh tay nhỏ bé của nó ôm ch/ặt lấy eo tôi, ngẩng đầu lên gọi: “Mẹ ơi! Mẹ ơi!”
Lúc đó nó mới năm tuổi, thiếu mất một cái răng cửa, cười lên là gió lùa vào.
Nhưng trái tim tôi vẫn tan chảy ngay lập tức.
Từ đó về sau, mỗi khi nó cùng tôi đi thăm họ hàng, gặp ai nó cũng giới thiệu: “Đây là mẹ cháu!”
Tôi biết làm vậy là không đúng, tôi không nên thiên vị.
Nhưng, tôi không kiểm soát được.
Ví dụ như làm bữa sáng.
Tôi làm bánh cho thằng cả, nhào bột cán mỏng, cho vào chảo rán, chín là được.
Nhưng làm cho thằng thứ hai, tôi sẽ đặc biệt chú ý, trong bánh không được cho hành, lại còn phải rán ch/áy cạnh một chút — thằng thứ hai không ăn hành, lại thích ăn giòn.
Ví dụ như m/ua quần áo. Dù giá cả đều như nhau, nhưng chọn cho thằng cả toàn là màu tối cho đỡ bẩn, còn chọn cho thằng thứ hai lại là màu sáng mà nó thích.
Nó mặc vào là đứng trước gương xoay vòng tròn, hỏi tôi có đẹp không.
4.
Năm chúng học lớp hai, tôi lần đầu tiên đi họp phụ huynh với tư cách là phụ huynh.
Thằng thứ hai nắm tay tôi, chạy một mạch vào lớp, khoe với từng đứa trẻ: “Đây là mẹ mình!”
Còn thằng cả thì đứng ở cuối hành lang, không hề lại gần.
Tôi chưa từng hỏi nó tại sao không lại gần. Tôi sợ hỏi xong, nó sẽ nói “Cô không phải là mẹ tôi”.