20
Cả đêm không ngủ.
Có lẽ do những ngày bôn ba liên tiếp, mẹ ngủ rất say. Nhưng tôi thì cứ trằn trọc, câu "hãy chuẩn bị tâm lý" của Trần Viễn cứ như một tảng đ/á đ/è nặng trong lòng tôi.
Sáng hôm sau, khi trời còn chưa sáng, chúng tôi đã khởi hành.
Chiếc xe việt dã lao ra khỏi huyện lỵ trong làn sương sớm, men theo con đường đất quanh co, hẹp và hiểm trở hơn hôm qua để tiến sâu vào lòng núi. Con đường này, nói đúng hơn chỉ là một vệt hằn bị đào bới th/ô b/ạo trên vách núi, mặt đường lồi lõm, xe xóc nảy như một chiếc lá nhỏ giữa đại dương. Có mấy lần, bánh xe sát sạt mép vực khiến người ta thót tim.
"Con đường này năm nào chúng tôi cũng sửa, nhưng cứ mưa xuống, lũ quét về là lại bị cuốn trôi," Trần Viễn nhìn ra ngoài cửa sổ, giọng đầy bất lực. "Các giáo viên ở tiểu học Lạn Nê Câu, mỗi tháng đều phải đi bộ dọc theo con đường này bảy tám tiếng đồng hồ để ra thị trấn gùi lương thực và đồ dùng sinh hoạt cho cả tuần."
Lòng tôi chùng xuống theo từng lời anh nói.
Sau gần ba tiếng đồng hồ "lắc lư", khi chiếc xe dừng lại ở một thung lũng tương đối bằng phẳng, tôi suýt tưởng xươ/ng cốt mình đã rã rời.
"Đến nơi rồi," Trần Viễn nói.
Chúng tôi xuống xe, cảnh tượng trước mắt khiến tôi hiểu ngay thế nào là "tệ hơn tưởng tượng".
Cái gọi là "Tiểu học Lạn Nê Câu" hoàn toàn không có tường bao, cũng chẳng có cổng trường. Chỉ có ba gian nhà tranh vách đất lẻ loi, xây bằng đất vàng và đ/á, nằm trơ trọi trên mảnh đất vàng khô khốc. Mái nhà lợp ngói đen, nhiều chỗ đã vỡ nát, lộ cả xà gỗ bên dưới. Cửa sổ không có kính mà chỉ được đóng bằng những tấm nhựa, bị gió thổi kêu phần phật.
Thứ duy nhất chứng minh đây là trường học là một cây cột gỗ trơ trọi trước cửa, trên đó, lá cờ đỏ sao vàng đã bạc màu đang kiên cường tung bay trong gió núi lạnh buốt.
"Cô Vương, anh Chu, đây chính là tiểu học Lạn Nê Câu," giọng Trần Viễn hơi khàn đi.
Mẹ không nói gì, bà chỉ nhìn lá cờ tổ quốc, trong ánh mắt là những cảm xúc phức tạp mà tôi không thể đọc thấu. Cái lưng c/òng của bà, lúc này đây, như thẳng hơn rất nhiều.
Khi chúng tôi đang đứng đó, cánh cửa nhà tranh "kẽo kẹt" mở ra, một cụ già tóc hoa râm, thân hình g/ầy gò, mặt đầy nếp nhăn bước ra. Cụ mặc chiếc áo Trung Sơn màu xanh đã bạc màu, tay áo đã sờn rá/ch. Nhìn thấy Trần Viễn, đôi mắt vẩn đục của cụ bỗng sáng rực lên.
"Huyện trưởng Trần, anh đến rồi!"
"Thầy Trương, con đến thăm thầy và các cháu," Trần Viễn bước nhanh tới đón, rồi giới thiệu với chúng tôi: "Đây là người thầy duy nhất của tiểu học Lạn Nê Câu, thầy Trương Ái Quốc. Thầy đã dạy ở đây bốn mươi hai năm rồi."
Bốn mươi hai năm.
Con số này như một mũi kim đ/âm mạnh vào lòng tôi.
Mẹ bước tới, vươn tay nắm ch/ặt lấy bàn tay đầy vết chai sạn và những đ/ốt ngón tay thô ráp của thầy Trương.
"Ông bạn già, vất vả cho thầy rồi."
Hai người già cộng lại hơn một trăm bốn mươi tuổi, đứng trên bục giảng cả đời, nhìn nhau. Không cần thêm lời nào nữa, ánh mắt ấy đã vượt xa vạn lời nói. Họ là những người cùng chí hướng, họ thấu hiểu sự kiên trì và vinh quang của nhau.
Thầy Trương dẫn chúng tôi vào gian nhà tranh lớn nhất ở giữa, đó là lớp học của lũ trẻ.
Trong phòng rất tối, ánh sáng xuyên qua những tấm nhựa cũ kỹ, trộn lẫn với mùi bụi bặm trong không khí. Không có điện, trên trần nhà treo một chiếc đèn bão phủ đầy bụi dày. Vài chục bộ bàn ghế gỗ cũ nát, cao thấp không đều, đặt xiêu vẹo. Phía trước là một "bảng đen" quét sơn đen lên tường đất, trên đó vẫn còn sót lại vài nét phấn.
Điều khiến tôi chấn động nhất là những đứa trẻ ngồi sau những chiếc bàn đó.
Có khoảng ba bốn mươi đứa trẻ, từ sáu bảy tuổi đến mười hai mười ba tuổi, chen chúc trong căn phòng này. Chúng mặc những bộ quần áo mỏng manh, vá víu, khuôn mặt và bàn tay nhỏ bé đều đỏ ửng vì lạnh. Nhưng đôi mắt chúng lại sáng đến mức tôi chưa từng thấy bao giờ.
Khi thấy nhóm người lạ chúng tôi bước vào, trong đôi mắt ấy đầy vẻ rụt rè, tò mò và một khao khát thuần khiết về tri thức, về thế giới bên ngoài.
Thầy Trương vỗ tay, dùng tiếng phổ thông giọng địa phương đậm đặc hô lớn: "Lên lớp!"
Lũ trẻ đồng loạt đứng dậy, dùng hết sức bình sinh, hét lớn về phía chúng tôi: "Chào thầy ạ!"
Âm thanh đó, non nớt, không đều nhịp, nhưng vang vọng trong lớp học đổ nát, khiến màng nhĩ tôi rung lên, và trái tim tôi cũng thắt lại thành một khối.
Khóe mắt mẹ, lúc đó, đã đỏ hoe.
Bà chậm rãi bước lên bục giảng thấp lè tè, nhìn những đôi mắt sáng ngời dưới kia, như thể đang nhìn thấy lứa học sinh đầu tiên của chính bà bốn mươi năm trước.
Bà cầm lấy mẩu phấn, xoay người, viết lên tấm bảng loang lổ ba chữ mạnh mẽ, dứt khoát.
"Tôi là ai".
21
Khi mẹ viết ba chữ "Tôi là ai" lên bảng, cả lớp học im phăng phắc.
Lũ trẻ mở to đôi mắt tò mò, nhìn vị bà cụ tóc trắng có khí chất ôn hòa đột nhiên xuất hiện này. Thầy Trương Ái Quốc và Trần Viễn cũng lặng lẽ đứng một bên, không làm phiền.
Mẹ xoay người, ánh mắt dịu dàng lướt qua từng khuôn mặt nhỏ bé.
"Các con, các con có biết ta là ai không?"
Một cậu bé gan dạ đứng dậy, rụt rè nói: "Bà... bà là quan lớn từ thành phố tới ạ."
Lũ trẻ cười ồ lên.
Mẹ cũng cười, bà lắc đầu: "Ta không phải quan. Ta giống thầy Trương của các con, cũng là một giáo viên. Ta dạy học cả đời, giờ đã nghỉ hưu rồi."
Bà chỉ vào dòng chữ trên bảng, tiếp tục hỏi: "Vậy các con có biết các con là ai không?"
Lũ trẻ nhìn nhau, không biết trả lời thế nào.
"Các con là học sinh," giọng mẹ trở nên ôn hòa nhưng đầy sức mạnh, "Nhưng các con không chỉ là học sinh. Các con là những chú đại bàng bay ra từ đại ngàn này, là rường cột của quốc gia, là những nhà khoa học, bác sĩ, quân nhân tương lai, và cũng là những giáo viên tương lai. Các con, chính là tương lai của Trung Quốc."