"Ta chỉ muốn đợi một người." Cô khẽ nói, "Sau đó đợi quá lâu, đến cả dáng vẻ người đó ta cũng không nhớ rõ nữa."
Tôi ngồi xuống cạnh cô, đưa tay ra, dừng lại phía trên mu bàn tay cô.
Tôi không thể nắm lấy cô. Tay tôi xuyên qua lớp ánh sáng mờ nhạt đó, chỉ chạm vào một làn hơi lạnh mang theo hương hoa dành dành.
"Còn em gái cô thì sao?"
"Con bé sớm đã có kiếp sau của riêng mình rồi."
"Thế còn cô?"
Cố Quán Tình mỉm cười.
"Trước đây ta luôn cảm thấy, nếu ta đi rồi, sẽ chẳng còn ai nhớ đến việc ta đã đợi ai. Giờ nghĩ lại, đợi được hay không, cũng chẳng còn quan trọng đến thế nữa."
Lòng tôi bỗng thắt lại.
Người cô đợi đã đi xa từ lâu, sợi dây giữ cô lại đã đ/ứt. Cô cuối cùng cũng có thể rời khỏi căn nhà này, lẽ ra tôi phải vui cho cô, nhưng lồng ngựk như bị đ/è bởi một nắm bông ướt, không sao thở nổi.
Ngày hôm đó tôi xin nghỉ phép, chạy sang gõ cửa nhà Lục Duật An. Anh vừa mở cửa, tôi đã kéo người ra ngoài.
"Anh từng nói có thể dẫn độ, là thật sao?"
Sắc mặt Lục Duật An thay đổi.
Sau khi vào nhà, anh không lấy bùa ra ngay mà ngồi xuống đối diện với Cố Quán Tình. Bóng hình cô đã rất nhạt, đến cả hoa văn chìm trên áo cũng không nhìn rõ nữa.
"Cô Cố." Anh hỏi, "Cô có muốn đi không?"
Cố Quán Tình nhìn tôi một cái.
Tôi cắn môi, không trả lời thay cô.
Cô đã bị giam cầm quá lâu, tôi không thể vì sự ích kỷ của bản thân mà tiếp tục nh/ốt cô trong nỗi luyến tiếc của mình.
Cố Quán Tình chậm rãi gật đầu.
"Muốn."
Lục Duật An lấy từ trong hộp dụng cụ ra một chiếc chuông đồng cũ, rồi trải ra một tờ giấy trắng tinh. Anh không niệm chú ngữ gì đ/áng s/ợ, chỉ viết lên giấy tên cô, ngày sinh và một dòng nguyện từ rất ngắn.
"Dẫn độ không phải là tiêu diệt." Anh ngẩng đầu nói với tôi, "Là đưa cô ấy đến nơi cần đến. H/ồn phách cô ấy rất sạch sẽ, có thể ra đi bình an."
Tôi nhìn chằm chằm vào tờ giấy, cổ họng nghẹn đắng.
"Có đ/au không?"
Cố Quán Tình cười trước: "Trình Kiến Vi, ta đã ch*t một lần rồi."
"Vậy thì cũng không được đ/au." Tôi nói.
Cô nhìn tôi, ánh sáng trong mắt rất dịu dàng.
"Được, không đ/au."
8.
Lễ dẫn độ được ấn định vào đêm Trung Thu.
Lục Duật An nói, đêm đó trăng sáng, lòng người cũng dễ an định hơn.
Anh chuẩn bị trong nhà từ ba ngày trước, nói là chuẩn bị, thực ra chẳng có mấy thứ huyền bí. Trên bệ cửa sổ đặt một bát nước trong, trên bàn bày hoa dành dành cô thích, giữa phòng khách chừa ra một khoảng trống sạch sẽ.
Cố Quán Tình rất hài lòng với hoa dành dành, nhưng lại kén chọn với món bánh trung thu tôi m/ua về.
"Tại sao nhân lại là bò cay?"
"Hương vị mới lạ."
"Hoang đường."
Cuối cùng cô vẫn ghé sát vào ngửi thử, đá/nh giá: "Hoang đường, nhưng rất thơm."
Tôi cười, rồi suýt nữa thì rơi nước mắt.
Cố Quán Tình mấy ngày nay ngày càng nhạt nhòa. Cô không thể bật tivi nữa, điều khiển từ xa xuyên qua tay cô; cũng không thể khiến Tiểu Bạch dừng lại, robot hút bụi cứ thế chui qua dưới tà váy cô. Cô đành ngồi bên cửa sổ, nhìn người qua kẻ lại dưới lầu.
Tôi mang việc về nhà làm, máy tính mở sẵn, ngón tay gõ chữ, ánh mắt vẫn luôn dõi theo cô.
Cô phát hiện ra, chê tôi phiền.
"Cô nhìn ta thế này, giống như canh giữ một bát canh sắp nguội vậy."
"Vậy cô chính là bát canh của tôi."
"Trình Kiến Vi, cô nói chuyện ngày càng không có văn vẻ gì cả."
"Tôi viết báo cáo công việc, có văn vẻ mới là lạ đó."
Cô muốn cười, nhưng đuôi mắt lại hơi đỏ.
Chiều hôm đó, Lục Duật An mang nguyên liệu qua, làm một bàn đầy món ăn. Sườn xào chua ngọt, cá vược hấp, củ sen kẹp nếp hoa quế, và cả một bát mì thanh đạm.
"Tại sao lại có mì?" Tôi hỏi.
Lục Duật An nói: "Lần đầu cô Cố gặp cô, là lúc đang nấu mì."
Cố Quán Tình ngồi phía bên kia bàn ăn, nhìn bát mì đó, hồi lâu không nói gì.
Tôi nhớ lại đêm mưa sấm chớp đó, nước mì trào ra khỏi nồi, và dáng vẻ tôi vừa sợ đến tê dại vừa phải cố gắng đàm phán hợp đồng. Lúc đó tôi chỉ thấy mình xui xẻo tột cùng, đâu ngờ rằng sau này sẽ có người nhớ đến bát mì trương đó.
Ăn cơm xong, Cố Quán Tình nhờ Lục Duật An dạy cô viết vài chữ giản thể.
Cô học rất nhanh, luyện hai lần đã viết đẹp hơn cả tôi. Cô viết "Tạm biệt", viết "Bình an", cuối cùng dừng lại ở hai chữ "Bên nhau".
"Từ này rất hay." Cô nói.
Lục Duật An gật đầu: "Rất hay."
Đêm khuya, trăng từ từ bò lên giữa cửa sổ.
Cố Quán Tình thay một bộ sườn xám màu xanh nhạt mà tôi tìm được ở chợ đồ cũ. Bộ đồ đó rất cũ nhưng đường kim mũi chỉ lại tinh xảo, cô mặc vào, dáng hình cuối cùng cũng trở nên rõ nét hơn một chút. Cô xoay người trước gương, hiếm khi thấy chút lúng túng.
"Đẹp không?"
Tôi nói: "Đẹp lắm."
"Đẹp hơn bộ màu trắng nguyệt kia không?"
"Bộ nào cũng đẹp."
Cô hài lòng, đưa tay cài chiếc trâm gỗ lên tóc.
Lục Duật An đặt chuông đồng lên bàn, tắt đèn chính trong phòng khách. Đèn ngủ vẫn sáng, một quầng sáng vàng ấm áp, như tâm sự không muốn tắt của căn phòng nhỏ chúng tôi.
Anh thấp giọng niệm nguyện từ, tiếng chuông đồng vang lên khe khẽ.
Trong phòng không có gió bão. Gió ngoài cửa sổ lướt qua hoa dành dành, hương thơm len lỏi qua khe cửa sổ. Đầu ngón tay Cố Quán Tình sáng lên trước, ánh sáng vụn vỡ lan dọc theo cổ tay lên trên, như ánh trăng rơi xuống nước.
Tôi đứng trước mặt cô, cố gắng ghi nhớ dáng vẻ của cô: sự kiêu ngạo khi nhướng mày, vẻ mặt khi chê bai tất của tôi, và dáng vẻ khi nghe thấy câu thoại hài hước mà không chịu thừa nhận mình đang cười.
Tôi muốn nói rất nhiều, muốn nói kiếp sau cô phải ở căn nhà sáng sủa, phải có đồ ăn ngon, phải có người đợi cô về nhà.
Nhưng cuối cùng, tôi chỉ nói: "Cố Quán Tình, trên đường đi đừng sợ nhé."
Cô nhìn tôi, nhẹ nhàng đưa tay ra.
Lần đó, tay tôi không xuyên qua được nữa.
Đầu ngón tay cô chạm vào lòng bàn tay tôi, mát lạnh, như cơn gió đầu tiên của đêm chớm thu. Cảm giác đó chỉ dừng lại vài giây, sau đó nhạt dần đi.
"Trình Kiến Vi." Cô nói, "Cô cũng đừng lúc nào cũng gánh vác một mình."
Sống mũi tôi cay cay, gật đầu lia lịa.
Cô lại nhìn sang Lục Duật An: "Anh Lục."
Lục Duật An đứng cạnh bên, thần sắc trang trọng: "Cô Cố."
"Căn bếp giao lại cho anh đấy."
Lục Duật An sững sờ một chút, rồi thấp giọng đáp: "Được."
Cố Quán Tình cuối cùng cũng mỉm cười.
Ánh sáng thu lại quanh cô, như một ngọn đèn được người ta nâng niu mang đi. Trăng ngoài cửa sổ vẫn sáng, nhưng trong phòng lại yên tĩnh đến mức nghe thấy cả tiếng thở của chính mình.
Sau khi cô biến mất, chiếc chuông đồng trên bàn khẽ rung lên một cái rồi dừng hẳn.
Tôi đứng rất lâu, đến khi chân tê dại, mới phát hiện trên bàn trà có thêm một tờ giấy ghi chú.
Trên đó là những chữ giản thể cô mới học, từng nét từng nét viết rằng: