Trên trán ông để lại một vết s/ẹo.
Dài bằng ngón út. Cong cong.
Ông lại trở về là Lưu Trường Thủy như trước kia.
Lưng gù. Đi đường hay cúi đầu. Người khác nói chuyện ông cười trước. Khóe miệng kéo lên một cái.
Như thể trên mặt có sợi dây nào đó đang gi/ật.
Nhưng ông không bao giờ vẽ bùa nữa. Không bao giờ vẽ nữa.
Người trong thôn lại đến tìm. Con dâu nhà lão Hứa sinh đứa thứ hai bị khó đẻ.
Chồng cô ta đ/ập cửa nhà tôi đến nửa đêm: "Chú Trường Thủy! Chú Trường Thủy, chú mở cửa cho cháu!"
Cha tôi khoác áo ra đứng ở cửa.
Ông nói: "Tôi không biết nữa rồi."
Người ta không tin. Quỳ trên đất dập đầu. Cha tôi đỡ anh ta dậy.
Lại nói thêm lần nữa: "Tôi thật sự không biết nữa rồi. Mau đưa lên trấn đi."
Người kia nhìn ông rất lâu. Quay đầu bỏ chạy.
Cha tôi đóng cửa vào phòng trong.
Mẹ tôi hỏi ông: "Ông không biết thật à?"
Ông nói: "Không biết thật rồi."
Mẹ tôi không hỏi nữa. Lật người quay lưng về phía ông.
Thở dài một tiếng. Không đ/ập bát. Không mắ/ng ch/ửi.
Chỉ là một tiếng thở dài.
Cha tôi nằm xuống nhìn trần nhà.
Tôi ở phòng bên cạnh không ngủ được. Nghe thấy ông trở mình một cái. Hơi thở bình ổn lại.
Ông đã ngủ.
12
Năm nay tôi mười chín.
Đỗ vào trường sư phạm ở tỉnh.
Ngày đi, cha tôi tiễn tôi đến bến xe trên trấn.
Đeo túi cho tôi. Đi rất chậm. Cánh tay phải vẫn không có sức. Dây đeo túi cứ trượt sang một bên.
Bến xe đông đúc chen chúc. Ông đưa tôi đến cửa soát vé. Đưa túi cho tôi.
Tôi nhận túi rồi nhìn ông.
Ông già hơn trước. Tóc mai đã bạc. Lưng gù hơn.
Vết s/ẹo trên trán lún sâu vào nếp nhăn. Không nhìn kỹ thì không thấy.
Tôi nói: "Cha, cha về đi."
Ông gật đầu. Chân không nhúc nhích.
Miệng mấp máy rồi lại khép lại.
"Ba."
Tôi gọi một tiếng. Ông sững sờ. Bình thường tôi gọi cha, rất ít khi gọi ba.
"Con..." Ông nói được một chữ rồi dừng lại.
"Con sao ạ?"
"Giấc mơ đó... con còn nằm mơ nữa không?"
Tôi nói: "Không ạ. Không còn lần nào nữa."
Ông gật đầu. Lại gật thêm cái nữa.
"Thế thì tốt. Đi đi. Xe sắp chạy rồi."
Tôi quay người đi về phía cửa soát vé. Đi được vài bước thì quay đầu lại.
Ông vẫn đứng đó. Lưng gù. Hai tay đút túi quần. Nhìn tôi.
Người trong bến xe chen ông một cái, ông tránh một cái.
Lại chen một cái, lại tránh một cái.
Tôi vẫy tay với ông.
Ông giơ tay phải lên. Chỉ giơ lên một chút thôi. Rồi lại hạ xuống.
Tôi quay người đi vào trong ga.
Thực ra có một chuyện tôi chưa nói với ông.
Năm ngoái nghỉ hè tôi về vịnh Chương Thụ. Đi ngang qua miếu Thổ Địa đầu thôn.
Ngôi miếu lại đổ. Lần này đổ nặng hơn. Cả mái nhà không còn nữa.
Tượng đ/á Thổ Địa Công đổ trên đất. Mặt úp xuống bùn.
Tôi ngồi xổm xuống lật tượng đ/á lại.
Nó vẫn cười tủm tỉm. Đôi mắt híp lại thành hai đường chỉ. Nửa khuôn mặt toàn là bùn.
Tôi lấy tay áo lau. Lau không sạch.
Trên bệ đ/á có một vết nứt mới. Không phải do nhà đổ đ/è lên. Mà là nứt ra từ bên trong.
Từ đáy bệ kéo dài đến tận sau lưng tượng.
Tôi chạm vào vết nứt đó, nhớ lại đêm hôm ấy.
Đốm sáng ấm áp đó. Đốm sáng rỉ ra từ đôi mắt đ/á.
Nó đã đỡ cho cha tôi một đò/n. Chỉ đỡ đúng một đò/n đó thôi.
Tôi ngồi đó nhìn nó một lúc. Đứng dậy bế tượng đ/á đặt về vị trí cũ.
Bệ đ/á đã ngay ngắn. Hướng đã đúng. Mặt đối diện với cửa miếu.
Nhặt vài hòn đ/á bên cạnh chèn cho bệ đ/á vững chãi.
Tôi không biết sửa miếu, chỉ có thể làm được chừng này.
Vỗ vỗ bùn trên tay rồi bỏ đi.
Đi được hai bước. Quay đầu nhìn lại.
Tượng đ/á vẫn cười tủm tỉm.
Nhưng trong hai đôi mắt híp lại thành đường chỉ đó.
Có một đường chỉ.
Hình như đã mở ra một chút.
Tôi dụi mắt nhìn lại.
Vẫn là đang híp.
Chắc là nhìn nhầm rồi.
Tôi quay đầu bỏ đi.
Tay phải đút trong túi quần. Một chỗ trên đ/ốt ngón giữa hơi ngứa.
Không để ý lắm.
Đi xa dần.