Tôn Văn Sách tưởng ta đang s/ỉ nh/ục hắn, lập tức đỏ hoe mắt: "Ta đường đường là tiểu công tử Quốc công phủ, sao có thể ra đường rao b/án hàng?"
"Nàng ấy là một cô nương còn có thể đi, tại sao ngươi lại không thể?"
Ta nhét một giỏ hoa vào lòng hắn, bảo A Hòa dẫn hắn ra ngoài.
Tôn quốc công gi/ận đến run tay, hỏi ta có phải quá đáng quá rồi không.
Ta bảo ông ngồi xuống uống trà.
"Ngài bỏ ra số tiền lớn mời ta, chẳng lẽ là để ta dỗ dành con trai ngài cho vui lòng? Nếu hôm nay nó không hiểu được một đóa hoa có được không dễ dàng, ngày mai nó vẫn sẽ dùng đ/á đ/ập vào đầu người khác. Đến lúc đó, ngài có đền được bạc, cũng không đền được cái mạng của nó."
Tôn quốc công không nói thêm lời nào.
Tôn Văn Sách ở chợ hoa một ngày, chiều tối quay về, mặt bị nắng làm cho đỏ gay, trên mu bàn tay còn bị cành hoa quẹt cho hai vết rá/ch. Hắn không khóc, chỉ đặt một nắm tiền đồng lẻ lên trước mặt cô nương kia.
"Hôm nay b/án được tám mươi bảy văn."
Cô nương b/án hoa nhận lấy tiền, khẽ nói một câu đa tạ.
Tôn Văn Sách nhìn chằm chằm vào dải lụa trắng trên mắt nàng, đứng thật lâu, bỗng quay đầu hỏi ta: "Mắt nàng ấy thực sự không chữa khỏi được sao?"
"Đại phu nói rất khó."
Hắn cúi đầu, ngày hôm sau không cần ai gọi, tự mình ôm sách đến. Từ đó về sau, cứ mùng một hằng tháng, hắn đều đến chợ hoa giúp cô nương đó b/án hoa nửa ngày, liên tục như vậy suốt nửa năm.
Tôn quốc công gửi đến thư thục một tấm biển vàng, trên đó viết bốn chữ lớn: "Hữu giáo vô loại" (Giáo dục không phân biệt giai cấp).
Ta chê tấm biển đó quá to, liền treo nó lên cửa nhà kho ở sân sau.
Lão tú tài nhìn thấy, cười đến mức suýt tắc thở.
Tôn Văn Sách lại rất thích. Hắn bảo treo trước cửa nhà kho là dễ thấy nhất, ai lười biếng cũng đều nhìn thấy được.
Đứa trẻ này về sau trở nên rất biết tính toán, cũng rất biết cách xin lỗi. Năm mười ba tuổi, hắn thấy trên phố có người b/ắt n/ạt kẻ b/án hàng rong, liền vớ lấy cặp sách lao tới ngăn cản, lúc trở về thư thục y phục đã rá/ch nát, mũi còn chảy m/áu.
Ta lấy khăn lau mặt cho hắn.
Hắn vẫn cứng miệng: "Con không đá/nh nhau, con đang giảng đạo lý."
"Giảng đạo lý mà giảng đến chảy m/áu mũi?"
"Đối phương không nghe."
Ta gi/ận đến muốn gõ hắn, nhưng nâng thước mây lên lại dừng lại.
"Lần sau phải gọi người trước, đừng tự mình cậy mạnh."
Tôn Văn Sách gật đầu, nhận lấy thước mây, bỗng nhiên nói rất nghiêm túc: "Trình tiên sinh, sau này con sẽ không bao giờ đá/nh người vô tội nữa."
Ta ừ một tiếng, bảo hắn đi rửa mặt.
Cây lựu trong sân đã cao lớn, trên cành treo lủng lẳng từng chùm quả xanh. Lũ trẻ chạy từ giảng đường ra, vây quanh Tôn Văn Sách cười nhạo mũi hắn giống quả cà chua chín nẫu.
Hắn đuổi theo bọn trẻ hai vòng, nhớ ra mình vẫn còn chảy m/áu mũi, lại lủi thủi quay về phòng nước.
Ta đứng dưới hiên, cảm thấy đám nhóc phiền phức này tuy ồn ào, nhưng lại náo nhiệt hơn nhiều so với ngõ Hòe Thụ năm xưa.
20.
Thư thục mở đến năm thứ ba, ta cũng tự mời cho mình một vị thầy.
Lão tú tài sau khi biết chuyện, suýt nữa phun cả trà vào râu.
"Trình tiên sinh, cô bây giờ quản lý nhiều người như vậy, sao bỗng nhiên lại muốn học chữ?"
Ta đặt cuốn sách vỡ lòng mới m/ua lên bàn, mở trang đầu tiên. Chữ trên đó ta chỉ nhận ra được hai chữ, còn lại trông như một đàn kiến chân nhỏ, làm mắt ta hoa cả lên.
"Sổ sách cứ để người khác đọc, ta không yên tâm. Vả lại, học trò đều biết chữ rồi, ta là viện trưởng mà cứ phải nhờ người đọc biển hiệu giúp, cũng hơi mất mặt."
Lão tú tài cười đến mức vỗ bàn liên hồi, sau đó trở nên nghiêm túc, lấy ra một cây bút lông to nhất.
Ta mỗi sáng thức dậy sớm hơn học trò nửa canh giờ, viết mười chữ trong gian chính rồi mới đi tuần tra lớp học. Tiền Bảo Lộc đã có thể giúp thầy ghi chép sổ sách, Lục Thừa Chí đã lớn thành thiếu niên, phụ trách dẫn học trò mới đi gánh nước, còn A Hòa đã thi đỗ vào huyện học, cứ đến ngày nghỉ là lại về dạy lũ trẻ con học.
Họ thấy ta luyện chữ, lúc đầu còn định cười lén.
Ta đặt thước mây lên bàn.
"Ai viết đẹp hơn ta, người đó tới dạy ta."
Lũ trẻ lập tức vây quanh, xì xào bàn tán về nét ngang nét dọc của ta. A Hòa đứng cuối cùng, giúp ta vuốt phẳng tờ giấy bị lệch, nói nhỏ: "Trình tiên sinh, nét cuối cùng của chữ 'Vi' này phải hất lên trên."
Ta sửa lại theo hướng dẫn của hắn.
Nét mực trên giấy dần khô.
Đó là lần đầu tiên ta viết hoàn chỉnh tên của chính mình.
Trên giấy viết ba chữ "Trình Kiến Vi".
Viết không tính là đẹp, nhưng ít nhất cũng ngay ngắn.
Ta dán tờ giấy đó trong phòng kế toán ở cửa chính thư thục, ngẩng đầu lên là nhìn thấy. Sau này ai tới nộp học phí, ai tới mời thầy, ai muốn lấy bạc đổi quy củ, ta đều có thể tự mình cầm bút ghi lại.
21.
Sau này, người trong kinh thành nhờ ta quản giáo trẻ con ngày càng nhiều.
Có con thứ của phủ tướng quân, cháu nhỏ nhà thương gia buôn muối, cũng có những đứa trẻ nghèo không đủ tiền đóng học phí. Học phí của nhà giàu, ta nhận đủ; còn con nhà nghèo, ta chỉ bảo mỗi tháng mang theo một nắm rau xanh hoặc vài bó củi.
Thư thục từ một căn viện nhỏ mở rộng thành hai khu, sau này còn nhận thêm cả nữ học trò.
Có người bảo con gái đọc sách vô ích, cố tình tới cửa gây sự.
Ta mời hắn vào, ngồi trên chiếc ghế đẩu thấp nhất, đọc cho hắn nghe "Khuyến Học" suốt một buổi chiều. Hắn đọc sai một chữ, liền phải chép mười lần lên bảng đen.
Chiều tối, hắn chống lưng bước ra cửa, từ đó về sau không bao giờ nói con gái đọc sách vô ích nữa.
Hóa ra khi giảng đạo lý không thông, thì thước mây vẫn hữu dụng nhất.
Lại là một đầu hạ, lựu trong sân nở rộ.
Ta ngồi dưới hiên đối chiếu sổ sách, mấy đứa trẻ mới tới lắc lư cái đầu đọc sách dưới gốc cây, hạt dẻ Bùi Duật Xuyên gửi từ Thanh Châu đặt ở góc bàn, huyện chí Tạ Lâm Phong nhờ người gửi tới đ/è lên những tờ giấy.
Ta lật đến trang cuối cùng, tính xong tháng này có thể m/ua thêm hai cái bàn học, trong lòng cảm thấy vô cùng an ổn.
Ngoài tường có người thập thò, nói là vị Quốc công nào đó muốn mời ta về phủ làm thiếu phu nhân.
Ta nâng thước mây lên, chỉ về phía cửa.
"Về bảo ông ta, muốn con trai tiến bộ thì ngày mai dẫn người tới báo danh. Ở đây không có thiếu phu nhân, chỉ có Trình tiên sinh."
Người kia sợ đến mức chạy mất hút.
Gió thổi làm hoa lựu rung rinh rụng đầy trên những viên gạch xanh ta mới lát. Ta gấp sổ sách lại, đứng dậy bước vào trong tiếng đọc sách vang dội.
Cuối hạ năm đó, cây lựu kết đầy quả đỏ. Ta bảo lũ trẻ mang thang tre tới, mỗi đứa hái hai quả, thừa thì biếu hàng xóm. Bà Tôn ôm quả cười bảo giờ ta đã ra dáng một vị tiên sinh, ta cúi đầu nhìn thấy cổ tay áo mình dính một vệt mực, trong lòng cũng thấy bà ấy không nói sai.
Con phố dài ngoài cổng viện vẫn nhộn nhịp như xưa, cô nương b/án hoa đẩy chiếc xe nhỏ mới làm đi ngang qua, A Hòa cầm thư của huyện học chạy vào, mấy đứa trẻ nghịch ngợm cầm bài tập viết đầy vòng tròn đỏ trốn tránh khắp nơi. Gió xuyên qua cánh cửa mở rộng, lật giở tờ giấy viết tên ta trên bàn.
Ta đưa tay đ/è góc giấy, cầm thước mây bước về phía giảng đường. Căn viện trống bên cạnh vừa xây thêm hai gian nhà mới, cửa sau cũng đã thay bằng tấm gỗ dày.
Bên cửa sổ có kẻ lười biếng ngủ gật, ta khẽ ho một tiếng, hắn liền vội vàng ngồi thẳng; có kẻ viết hai chữ "Kiến Vi" xiêu vẹo, ta bảo hắn xóa đi viết lại.
Còn có một cô bé giơ tay, nghiêm túc hỏi ta ngày mai có phải vẫn phải học thuộc nhiều như thế không.
Ta nhẹ nhàng đặt thước mây lên bục giảng, nhìn gương mặt nhỏ nhắn của cả lớp đang ngước lên, mỉm cười bảo chúng giở sách sang trang tiếp theo.