Nhưng tôi càng nhai, thứ nuốt vào càng giống như nước đắng.
Trong mắt họ, tôi chẳng qua chỉ là một kẻ khổ sai có thể dỗ dành bằng nửa quả quýt.
Việc làm lạnh tay, mỏi lưng, dính bùn, việc gì cũng đến tay tôi.
Việc được lộ mặt, thu tiền, nhận lời khen, việc gì cũng thuộc về Hứa Vân Châu.
Cuối cùng lại dùng một câu "Cả nhà vinh quang, chị em cả đời không tách rời" để chặn họng tôi.
Nhưng tôi cũng muốn học cái nghề thể diện đó.
Tôi không cần quýt của họ, cũng không nguyện cả đời chỉ làm phôi bùn thay người khác.
Ngày Tiểu Niên năm đó, cha cho Hứa Vân Châu mười đồng đại dương để m/ua thêm phấn sáp và váy tây. Đến lượt tôi, ông tiện tay ném cho hai xâu tiền đồng.
"Đi m/ua kẹo mạch nha đi, Nghiên Thu nhà ta năm nay cũng vất vả rồi."
Tôi không tranh cãi, ngoan ngoãn ôm tiền vào lòng.
"Con cảm ơn cha."
Tôi quay lưng, chạy thẳng đến tiệm ngũ kim màu vẽ ở phố sau.
Hai xâu tiền đồng chỉ đủ m/ua một cây bút lông dê rẻ tiền, vài khối khoáng màu loại kém, thêm một cái kìm sắt nhỏ.
Về đến phòng, tôi cài then cửa.
Phía trước Hứa Vân Châu đang vẽ tranh mỹ nhân, còn tôi canh đèn dầu luyện cách điểm mắt cho tượng người khổ sai.
Dây thép đã mài, màu vẽ thừa và mấy đồng tiền đồng, tất cả đều được tôi giấu vào chiếc vò sành vỡ dưới gầm giường.
Trên giấy cửa sổ in bóng vầng trăng khuyết. Tôi nằm vào chăn, đôi chân đạp mạnh hai cái.
Đợi đến khi tôi học được cách dựng khung xươ/ng và vẽ mặt, đợi đến khi tôi dành dụm đủ tiền m/ua một chiếc vé tàu.
Tôi sẽ khoác giỏ bùn lên vai, ngồi tàu hỏa chạy đến một nơi thật xa.
Đi đâu cũng được.
Tóm lại, tôi sẽ không ở lại cái nhà này nữa.
Ai cản cũng vô ích!
13.
Thoắt cái sáu năm trôi qua.
Đến năm Dân Quốc thứ mười bốn, tôi đã mười sáu tuổi.
Nhà họ Chu ở hải quan Thiên Tân muốn mừng thọ cho bà cụ trong phủ.
Bà cụ nhà họ Chu vốn là người gốc Kỳ, thích nhất là tượng màu Thiên Tân.
Ông chủ Chu sai người truyền lời, thiếu gia nhà họ Chu lát nữa sẽ đích thân đến chọn mẫu.
Cửa tiệm bỗng chốc bận rộn đến mức đảo lộn cả lên.
Sảnh trước thay thảm len mới, Hứa Vân Châu mặc sườn xám màu trắng nguyệt, tóc chải chuốt gọn gàng.
Trời còn chưa sáng, mẹ đã giúp chị ấy vẽ mày đá/ nh phấn, lại dặn dò từng lời:
"Nhà họ Chu kinh doanh đại dương hành ở khu tô giới. Nếu cậu ấy chịu công nhận tay nghề của con, sau này con không lo không có đường tiến thân."
Cha dậy từ sớm, đích thân pha một ấm trà Long Tỉnh tiền thanh minh.
Còn tôi, lại bị đuổi ra sân sau.
Mẹ nói: "Ở phía sau an phận mà lọc bùn đi. Sảnh trước toàn khách quý, con mặc thế này mà ra ngoài, chỉ làm người ta cười chê."
Tôi không thấy mình có gì đáng cười.
Tôi bê ghế tre ra chỗ gió lùa, dùng d/ao cạo sừng trâu gọt lưng cho một bức tượng nhỏ.
Đó là một ông lão quanh năm vác dây kéo thuyền ở bến tàu.
Lưng tượng bùn khom lại, trên lưng chỉ khoác một mảnh vải rá/ch, xươ/ng sườn nổi rõ từng chiếc.
Cái dáng lưng này, tôi đã sửa đi sửa lại cả trăm lần.
Nó thô, nó đen, nhưng cái sống lưng đó vẫn luôn thẳng tắp.
Trong mắt tôi, nó đẹp hơn những vị thần giả được tô phấn dán vàng ở sảnh trước nhiều.
14.
Sắp đến giờ ngọ, đầu phố vang lên tiếng ô tô trầm đục.
Cửa xe vừa mở, nửa phố Cổ Y đều thò đầu ra ngóng.
Chu Kế Minh mày mục thanh tú, nhưng nét mặt lại lạnh nhạt, trông có vẻ không thích xã giao với người khác.
Cha tôi nở nụ cười đầy mặt, đón ra ngoài cửa cúi mình hành lễ.
"Chu thiếu gia chịu đến tiệm nhỏ, thật là vẻ vang quá!"
Cha tôi vội nghiêng người, đón khách vào tiệm. Hứa Vân Châu cũng đứng dậy đón chào. Chị ấy bưng ra bản thảo "M/a Cô hiến thọ" đã vẽ ba ngày, giọng nói dịu dàng.
"Chu thiếu gia, đây là mẫu con phác thảo, mời ngài xem qua."
Chu Kế Minh đứng bên bàn dài, mắt quét qua tờ giấy vẽ.
Đường nét tuy mảnh, nhưng khắp tờ giấy lại là vẻ ngọt ngào sao chép từ những bài cũ.
Cha tôi ở bên cạnh thao thao bất tuyệt, liệt kê những giải thưởng của Hứa Vân Châu ở các hội vẽ.
Chu Kế Minh không hề để ý đến những lời chào hỏi đó.
Bước chân của cậu ấy dừng lại ở chiếc kệ cũ dựa tường bên bàn Bát Tiên.
Dưới kệ đặt một sản phẩm dở dang mà tôi tiện tay để lại hôm trước.
Búp bê bùn cởi trần, đang ngồi xổm trên bãi sông đào bùn.
Tượng bùn không có màu, cũng chưa vẽ mặt, bùn ướt trên cánh tay vẫn chưa khô hẳn.
Hai bàn chân lại cắm ch/ặt vào tấm bùn, đầu ngoẹo sang một bên, sống động như sắp nhảy dựng lên vậy.
Cậu ấy hỏi: "Cái này là ai làm?"
Cha tôi sững người một chút, vội xua tay.
"Hây, đó là cục bùn con thứ trong nhà tiện tay nhào nặn bừa bãi, thô kệch lắm, thật sự không dám đem ra cho người xem!" Chu Kế Minh ngước mắt:
"Cô ấy đâu?"
Nụ cười trên mặt cha tôi cứng đờ, chỉ đành chỉ về phía sân sau.
"Nó đang ở gian giữa sân sau ạ."
Chu Kế Minh vén rèm, đi thẳng ra sau.
15.
Khi tấm rèm vén lên, tôi đang dùng d/ao sừng trâu ép những nếp nhăn mồ hôi trên chiếc áo khoác ngắn của lão phu kéo thuyền.
Tôi vừa ngẩng đầu, Chu Kế Minh đã đứng ngay trước mắt.
Cậu ấy quay lưng về phía ánh mặt trời, gần như che khuất nửa cánh cửa.
Tôi sợ đến mức tay run lên, con d/ao cạo suýt nữa rơi vào chậu bùn.
Hứa Vân Châu giành nói trước tôi.
"Chu thiếu gia đừng để bụng, em gái con không thích gặp người lạ, bình thường chỉ biết nghịch mấy thứ thô kệch..."
Chu Kế Minh không tiếp lời chị ấy.
Cậu ấy chìa hai ngón tay sạch sẽ thon dài ra, đo dọc theo sống lưng khom khom của tượng bùn trong không trung.
"Lực đều dồn vào vai cổ, xươ/ng sườn thắt lại theo."
Giọng cậu ấy không lớn, nghe có vẻ lạnh lẽo.
"Bên trong là khung xươ/ng dựng bằng cọng cao lương sao?"
Tôi đứng sững tại chỗ.
Bao nhiêu năm nay, tất cả mọi người chỉ hỏi Hứa Vân Châu dùng bao nhiêu lớp vàng bột.
Đây là người đầu tiên hỏi tôi bên trong phôi bùn đặt cái gì.
Tôi gật đầu: "Đúng vậy, dưới chân còn ép thêm miếng chì nhỏ, bày trên bàn không dễ đổ."
16.
Chu Kế Minh gật đầu đồng ý.
Cậu ấy quay lại, nhìn người cha vẫn chưa kịp phản ứng của tôi.
"Bộ tượng màu mừng thọ cho bà cụ, tôi muốn đôi bàn tay này đích thân làm phôi xươ/ng."
Cha tôi há miệng:
"Thiếu gia nói là... Vân Châu sao?"
Chu Kế Minh giơ tay chỉ vào tôi.
"Người biết vẽ mẫu thì không ít, nhưng đôi bàn tay có thể dựng được cốt cách vào trong bùn, lại không thường thấy."
"Phôi tượng thọ tiên cứ để cô ấy nặn. Còn phần vẽ màu cuối cùng, trong tiệm của ông ai cầm bút cũng không sao."
Toàn bộ khuôn mặt Hứa Vân Châu cứng đờ.
Người tùy tùng sau đó đưa cho tôi hai cuốn sách dày bọc vải tây. Chu Kế Minh giải thích:
"Đây là hình vẽ khung xươ/ng người của người Tây Dương, bên trong vẽ rõ cả gân mạch."
Cậu ấy lại nói: "Vì cô đang nghiên c/ứu cốt tướng, nên cầm về mà xem.
Vài ngày nữa tôi gọi xe đến đón cô, đến phủ họ Chu đo đạc thần khám."
Chu Kế Minh vừa đi, sảnh trước tĩnh lặng đến mức nghe được cả tiếng kim rơi.
Cha tôi đứng ngẩn người hồi lâu, bỗng vỗ đùi cười lớn.