Đệ ấy dập đầu ba cái thật kêu.
"Lâm bá phụ, Tề đại nương, ân tình các người ban cho, con cả đời này đều ghi tạc. Sau này dù có làm thân trâu ngựa, con cũng phải báo đáp các người!"
Cha vội vàng đỡ đệ ấy dậy: "Đứa trẻ ngoan, chỉ cần con chân thành đối đãi với A Doanh, chúng ta làm bậc trưởng bối cũng thấy an tâm rồi."
Mẹ thấy đệ ấy ôm khư khư chiếc túi sách mới kh//âu đầy trân trọng, cười đến không ngậm được miệng: "Đứa trẻ này trông thật khôi ngô, đứng đó như một cây trúc xanh, càng nhìn càng thấy yêu mến."
Ta nghe mẹ khen đệ ấy, trong lòng đắc ý vô cùng. Khi ngước mắt lên, vừa vặn chạm phải ánh mắt trong trẻo của thiếu niên, đệ ấy lại vội vàng tránh đi.
Kể từ đó, Bùi Tri Nghiên ngày nào cũng thức dậy sớm hơn cả tiếng gà gáy. Đệ ấy đến quán mì trước để phụ cha mẹ bắc nồi, chẻ củi, đun nước, rồi mới khoác túi sách chạy đến tư thục. Không bao lâu sau, thầy giáo trước mặt mọi người khen ngợi đệ ấy: "Ta dạy học bấy nhiêu năm, chưa từng thấy hậu sinh nào thông tuệ như thế, giảng một lần là hiểu, đọc qua là nhớ. Lão Lâm, ông chọn con rể có mắt nhìn đấy!"
Bùi Tri Nghiên đi học về, còn tranh thủ lúc trời chưa tối dạy ta nhận chữ. Chưa đầy hai tháng, số chữ ta viết được đã hơn trăm, tuy méo mó như một đám sâu bò lo/ạn, nhưng ít nhất đều nhận ra được. Đệ ấy nói lúc mới học viết còn tệ hơn ta, bảo ta cứ từ từ luyện.
Mẹ nghe xong cười hớn hở: "Tiền học phí này đóng đáng giá, không chỉ nuôi ra một học trò, mà ngay cả A Doanh cũng được thơm lây mà biết chữ."
Sau khi trời tối, dù cha mẹ cho phép đệ ấy thắp đèn, đệ ấy cũng chẳng nỡ phí dầu. Đệ ấy nằm trong căn phòng nhỏ, nhẩm đi nhẩm lại những bài văn đã học ban ngày cho đến khi thuộc lòng.
Nửa năm sau, chúng ta sửa sang lại tiền viện, mở rộng quán mì thành một tiểu thực quán. Ngoài mì nước, còn có thêm cháo, bánh hấp, món xào và th!t kho, người đến ăn ngày càng đông. Bùi Tri Nghiên viết bốn chữ "Lâm Ký Thực Quán" ngay ngắn trên tấm vải treo mới. Còn thực đơn trên tường là do chính tay ta viết, nhìn từ xa cũng ra dáng ra hình lắm rồi.
Việc buôn b/án bận rộn không xuể, mẹ Chu và chị Trần nhà bên đều đến giúp việc, sau này còn thuê thêm hai tiểu nhị nhanh nhẹn. Ba năm trôi qua, nhà họ Lâm liên tiếp gặp ba chuyện vui.
Chuyện thứ nhất là việc kinh doanh thực quán ổn định, cha mẹ tiết kiệm được bạc, m/ua một căn trạch viện rộng rãi hơn. Căn nhà cũ vẫn tiếp tục buôn b/án, nhà mới cách đó không xa, đi bộ nửa khắc là tới. Trong viện nuôi một con chó đen giữ nhà, còn thêm hai con mèo hoa nhỏ chuyên để chơi cùng ta. Cứ vài ngày ta lại được ăn bánh táo, trên tóc cũng không còn chỉ có hoa lụa, mà đã cài vài chiếc trâm bạc đơn giản. Ta cảm thấy dù là tiểu thư nhà quyền quý, cũng chưa chắc có được sự tự tại như ta.
Chuyện thứ hai là Bùi Tri Nghiên thuận lợi đỗ tú tài. Huyện thí, phủ thí, viện thí, lần nào đệ ấy cũng đỗ ngay lần đầu, thứ hạng đều nằm trong nhóm dẫn đầu. Đệ ấy sợ làm liên lụy gia đình, vốn muốn dừng lại tại đây, đi dạy học ở tư thục, rồi m/ua thêm vài mẫu ruộng miễn thuế, sống cuộc đời an ổn. Cha mẹ thấy đệ ấy vẫn muốn đọc sách tiếp, liền lập tức bác bỏ ý định đó. Cha vỗ vai đệ ấy nói: "Trên tú tài còn có cử nhân, trên cử nhân còn có tiến sĩ. Con có bao nhiêu bản lĩnh thì cứ tiến xa bấy nhiêu, cha và mẹ con đều khỏe mạnh, gia đình cũng nuôi nổi."
Ta cũng âm thầm nỗ lực, nghĩ rằng ít nhất phải học viết một bài thơ ra h/ồn, không thể để đệ ấy cứ cười chê chữ viết của mình mãi.
Chuyện thứ ba, là ta và Bùi Tri Nghiên thành thân vào lúc hoa cúc nở rộ. Trong ba năm, đệ ấy ăn no, cũng chăm làm, thân hình không còn g/ầy gò như lúc mới gặp. Dáng người đệ ấy cao vọt lên, cao hơn cha nửa cái đầu, ta có kiễng chân cũng chỉ tới chóp mũi đệ ấy. Chỉ có gương mặt thanh tú kia là không thay đổi nhiều, ta ngày nào cũng nhìn, vẫn thấy thuận mắt vô cùng.
Đêm tân hôn, đệ ấy đeo vào cổ tay ta một chiếc vòng bạc nặng trịch, chạm khắc hoa văn, rồi ngắm nghía mãi không thôi. Ta biết, số tiền này lại là đệ ấy đi viết thư, đề biển hiệu cho người ta mà tích góp từng chút một. Ta x/ấu hổ đến đỏ mặt, bèn kéo chăn che nửa khuôn mặt.
"A Doanh tỷ tỷ, đừng nghịch, chúng ta nên nghỉ ngơi thôi."
Đệ ấy nói xong liền đắp chăn cho ta, chúng ta ngồi tựa vào nhau trên giường hỉ, trò chuyện suốt nửa đêm...
8.
Lại qua hơn một ngàn ngày đêm, ta đón sinh nhật tuổi hai mươi ba. Kiếp trước ta không sống nổi đến độ tuổi này, lần này, bên cạnh lại có cha mẹ, chồng và con cái đồng hành. Việc kinh doanh của Lâm Ký Thực Quán vẫn vô cùng phát đạt. Cha mẹ không cần ngày ngày trông coi bếp núc nữa, chỉ cần xem sổ sách, vài ngày mới ghé qua tiệm một lần.
Ta và Bùi Tri Nghiên có một đôi long phụng. Con trai theo họ ta, tên là Lâm Tri Viễn; con gái theo họ đệ ấy, gọi là Bùi Tĩnh Nghi.
Ngày sinh con, ta bị khó sinh, từng chậu nước m/áu được bưng ra khỏi phòng. Bùi Tri Nghiên sợ đến mức chân mềm nhũn, chẳng màng quy củ gì nữa, xông thẳng vào phòng sinh nắm ch/ặt tay ta, nước mắt rơi không ngừng. Đệ ấy cứ lặp đi lặp lại một câu: "Nương tử, sau này chúng ta không sinh nữa."
Mẹ vừa xót vừa buồn cười, cuối cùng vẫn đẩy đệ ấy ra ngoài, tránh làm cản trở bà đỡ làm việc. May mắn là cuối cùng mẹ con đều bình an, hai đứa trẻ sinh ra trắng trẻo đáng yêu. Sữa ta không đủ, Bùi Tri Nghiên cũng không nỡ để ta cho bú ngày đêm, liền mời hai bà vú tính tình ôn hòa, lai lịch rõ ràng về chăm sóc. Lúc này ta đã là vợ của cử nhân, sống trong trạch viện hai lớp, bên cạnh còn có hai nha hoàn tháo vát. Cuộc sống như thế này, là điều mà ta của những năm đầu đời không dám nghĩ tới.
Tủ quần áo có thêm lụa là, hộp trang sức có thêm châu báu, nhưng món đồ ta đeo thường xuyên nhất vẫn là chiếc trâm bạc Bùi Tri Nghiên tặng đầu tiên và chiếc vòng bạc lúc thành hôn. Khi con tròn năm tháng, mẹ Chu vốn chịu khổ cả đời đã lặng lẽ qu/a đ/ời trong giấc ngủ. Bà yêu hai đứa nhỏ, đã kh//âu sẵn rất nhiều yếm và quần áo nhỏ, đủ cho chúng mặc đến ba bốn tuổi. Ngay cả khi b/ệnh đến mức không thể gượng dậy, bà cũng không nỡ đặt kim chỉ xuống.
So với việc 💀 dưới lưỡi đ/ao của đứa con ruột kiếp trước, đây đã là một kết cục tốt đẹp hơn nhiều. Trước khi mất, bà dặn đi dặn lại, không được cho Chu Ngạn biết nơi ch/ôn cất, bà không muốn nhận hương khói của đứa nghịch tử đó. Chúng ta đẫm lệ đồng ý, sau này mới biết, nỗi lo này thật thừa thãi, vì Chu Ngạn chưa bao giờ quay lại tìm mẹ. Khi mọi người gần như đã quên mất hắn, kinh thành bỗng truyền đến tin tức.